Cấp cứu tim mạch số 116 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CUỒNG NHĨ
(FLUTTER AURICULAIRE)

Jean-Pierres-Torres
SAMU 38, Centre Hospitalier Universitaire, Grenoble
Pierre Taboulet
Service des Urgences, Hôpital Saint-Louis
Jean-Emmanuel de La Coussaye
SAMU 38, Centre Hospitalier Universitaire, Nimes

Cuồng nhĩ tương ứng với một chuyển động vòng tròn không ngừng của xung động (influx) vào trong tâm nhĩ, theo một chiều này hay một chiều khác (réentrée auriculaire). Cuồng nhĩ tương ứng với một vòng vào lại (circuit de réentrée circulaire) chung quanh vòng của van ba lá (anneau tricuspidien) (thường nhất). Vòng vào lại này tiếp nhận các xung động trong trường hợp giãn của những tâm nhĩ hay sau một phẫu thuật tâm nhĩ (flutter cicatriciel). Những dấu hiệu lâm sàng tương tự với những dấu hiệu được gặp trong rung nhĩ. Ngoài ra, không hiếm quan sát sự chuyển từ một cuồng nhĩ sang một rung nhĩ và ngược lại.
1. Những dấu hiệu điện tâm đồ.
Hoạt động nhĩ nhanh và đều, được đặc trưng bởi một hình thái rất đặc biệt của các sóng nhĩ. Những sóng này, được gọi là những sóng F, tạo nên một đường không gián đoạn ” hình răng cưa ” hay ” mái nhà máy ” (un feston ininterrompu en “dents-de-scie” hay en “toit d’usine”), không trở lại đường đẳng điện. Dạng đặc trưng này (với một giai đoạn âm trội hơn), chỉ được quan sát trong những chuyến đạo dưới, trong khi trong những chuyển đạo khác, những sóng flutter được phân cách rõ rệt bởi một khoảng đẳng điện.Tần số nhĩ nằm giữa 250 và 350/phút và một cách điển hình tần số này bằng 300/phút với rất ít thay đổi giữa các nhát đập. Dẫn truyền thất của một flutter không được điều trị nói chung thuộc loại 2/1 (hai sóng F đối với chỉ một QRS được dẫn truyền)hay 4/1 (trong trường hợp điều trị làm chậm nhịp)
và ngoại lệ 1/1 (trong trường hợp ngấm quinidine).Để làm xuất hiện các sóng F, đôi khi phải làm chậm dẫn truyền nhĩ-thất nhờ những thao tác phế vị hay tiêm triphospho-adénosine (1/2 rồi 1, rồi tối đa 2 ampoules nếu cần). Không thấy các sóng F, ta có thể lầm một flutter với một tim nhịp nhanh nhĩ không điển hình (tachycardie atriale atypique), một tim nhịp nhanh bộ nối (tachycardie jonctionnelle) và hiếm hơn một tim nhịp nhanh thất.
2. Những tiêu chuẩn nghiêm trọng
Cũng như đối với rung nhĩ, nhưng hiếm hơn, cuồng nhĩ có thể là nguyên nhân của một đợt bộc phát suy tim, một cơn đau ngực hay những tai biến huyết khối-nghẽn mạch.
3. Chiến lược xử trí
Trong những giờ đầu, cũng như đối với một rung nhĩ, chính tolérance hémodynamique và thể trạng hướng dẫn những chỉ định chuyển nhịp (cardioversion), làm chậm và/hoặc cho thuốc kháng đông cấp cứu. Những nguyên tắc xử trí tương tự nhau.

Reference : Actualité en Réanimation préhospitalière : Coeur et Urgences.
Journées Scientifiques de SAMU DE FRANCE. Nice 2006

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(13/2/2017)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu tim mạch, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s