Thời sự y học số 421 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHUYÊN ĐỀ VỀ GIẤC NGỦ
PHẦN IV

1/. 8 GIỜ NGHỈ NGƠI : CON BÀI CHỦ SỨC KHỎE

NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH
– 7 đến 9 giờ nghỉ ngơi mỗi đêm là cần thiết từ 18 đến 64 tuổi.
– Cứ 3 người Pháp thì có một tuyên bố ngủ ít hơn 6 giờ mỗi đêm.
– Sự kế tiếp nhau của khoảng 5 chu kỳ với 90 phút mỗi chu kỳ.
– Mỗi chu kỳ bắt đầu bằng giấc ngủ chậm và chấm dứt bằng giấc ngủ nghịch lý

Một người Pháp trên ba bị thiếu ngủ. Các chuyên gia báo động về điều mà họ xem như là một vấn đề y tế công cộng.
Lúc 23 giờ, chỉ một người Pháp trên hai đi nằm và một trên mười vẫn không ngủ vào một giờ sáng. Dậy sớm hay dậy trễ, ngủ sớm hay ngủ trễ, mọi người có một nhịp của mình ! Nhưng nếu một người trưởng thành trên ba tuyên bố ngủ ít hơn 6 giờ mỗi đêm, một trên sáu tự đánh giá mệt mỏi tất cả các ngày trong tuần và một trên mười bảo là mình bị chứng mất ngủ… Tuy vậy những khuyến nghị quốc tế của hiệp hội của giấc ngủ Hoa Kỳ (National Sleep Association) là rõ ràng : một người trưởng thành trung bình cần 7 giờ ngủ. Vào thời kỳ này của đời sống, một đêm được chia cắt một cách rất chính xác thành những chu kỳ liên tiếp (ba đến năm) khoảng 90 phút mỗi chu kỳ. Mỗi chu kỳ gồm ba loại giấc ngủ : chậm -nhẹ (lent-léger), chậm-sâu (lent-profond) và nghịch lý (paradoxal). Trong cùng một chu kỳ, thời gian của mỗi giai đoạn thay đổi tùy theo lúc. Ta tìm thấy đa số giấc ngủ chậm-sâu vào lúc đầu, cho phép sự phục hồi vật lý, rồi trong phần lớn giai đoạn nghịch lý vào lúc sáng sớm, thời gian của những giấc mơ và giấc mộng.
Tuy nhiên, sự xếp đặt này có thể bị rối loạn. Giữa những gò bó nghề nghiệp và gia đình, những kích thích tăng hoạt động, sự có mặt khắp nơi của các écran, những yếu tố âm thanh nguy hại và stress, mục tiêu 7 giờ là khó đạt được. Kết quả : nợ ngủ liên quan một người trưởng thành trên ba ! Với những hậu quả quan trọng như chứng ngủ gà ban ngày (somnolence diurne), yếu tố đứng đầu gây tai nạn đường xa ở Pháp, trước rượu và tốc độ (12% toàn bộ nhưng tai biến và 33% của những tai nạn chết người trên xa lộ).
. ” 1/3 những người trưởng thành trẻ và 25% những người trưởng thành lớn tuổi hơn bị thiếu ngủ mãn tính “, ta có thể đọc trong ” Retrouver le sommeil, une affaire publique” của Terra Nova, được công bố vào mùa xuân dưới sự chỉ đạo của các giáo sư Damien Léger và Jean-Pierre Giordanella. Đến sau đó là những rối loạn của sự chú ý, của học tập, củ trí nhớ và của sự phán đoán. ” Phải thêm vào những hậu quả của sự thiếu ngủ này lên chuyển hóa “, BS Véronique Viot-Blanc, thuộc Centre du sommeil của bệnh viện Lariboisière (Paris) đã nhấn mạnh như vậy, như là nguy cơ mắc phải một bệnh đái đường hay chứng béo phì. Thí dụ, với những công trình của Karine Spiegel, thuộc Inserm U1028 ở đại học Claude-Bernard (Lyon), đã chứng minh rằng một sự hạn chế liên tiếp của giấc ngủ ở những người tình nguyện gây nên sự rối loạn của cảm giác ngon miệng. Sự rối loạn này là do những biến đổi kích thích tố lên sự tiết của ghréline và leptine, hai hormone có liên quan trong những cảm giác no và đói. Kết quả, sự tiêu thụ thức ăn quan trọng hơn, với nhiều thức ăn có giá trị năng lượng cao. Thật vậy, một thời gian ngủ không đủ cũng hạn chế tính hiệu quả của một “régime amaigrissant”, Véronique Viot-Blanc nói thêm như vậy.
Những công trình khác đã chứng minh một mối liên hệ giữa sự mất ngủ và sự xuất hiện của những rối loạn miễn dịch, thậm chí của những ung thư trong trường hợp làm việc ban đêm với giờ giấc chênh lệch. Thí dụ, với những công trình nghiên cứu dịch tễ học được thực hiện ngay những năm 1990 ở những phụ nữ làm việc ban đêm (tiếp viên hàng không và y tá), ở họ một nguy cơ gia tăng ung thư vú đã được nhận diện. Ngoài ra Trung tâm quốc thế nghiên cứu về ung thư (Circ) năm 2009 đã thêm sự làm việc ban đêm vào danh sách những tác nhân có khả năng gây ung thư”.
“ĂN TỐT HƠN, CỬ ĐỘNG NHIỀU HƠN…VÀ NGỦ NGON”
En jeu, sự rối loạn của đồng hồ sinh học và những biến đổi của nó lên sự tiết của méltonine, kích thích tố tự nhiên của giấc ngủ. Sự hạ hay sự vắng mặt làm giảm tác dụng bảo vệ của nó đối với sự phát triển của những ung thư, đặc biệt bởi tác dụng của nó lên những kích thích tố khác như progestérone hay những oestrogène. Bấy nhiêu những nguy cơ vẫn còn ít được biết đến bởi công chúng. ” Chính vì vậy một chiến dịch thông tin về những nguy cơ của sự thiếu ngủ sẽ là cần thiết “, nhà chuyên gia đã chủ trương như vậy. Những tác giả của báo cáo Terra Nova đề nghị bổ sung khẩu hiệu nổi tiếng ” hãy ăn tốt hơn, cử động nhiều hơn” bằng…” và ngủ ngon”.
Hiện nay, chủ yếu chính những người mất ngủ huy động các chuyên gia. Mỗi đêm họ rình chờ sự đi đến của giấc ngủ.Một hiệp hội đầu tiên, France Insomnie, đã được thành lập vào mùa xuân qua bởi vì 20% những người Pháp bị liên hệ, trong đó một nửa bị những thể nặng. ” Vấn đề là tính chất chủ quan của triệu chứng, mặc dầu luôn luôn hiện thực “, GS Charles Morin, chuyên gia về giấc ngủ ở đại học Laval, Québec (Canada) đã nói như vậy. Đối với những người liên hệ, những giấc ngủ là hỗn loạn, sự thức giấc thường quá sớm, do đó một sự nghỉ ngơi không đủ, với kết quả là những ngày với những đợt ngủ gà, bực bội…Thường thường cấp tính và phản ứng với một stress nhất thời (tang chế, bệnh tật…), mất ngủ cũng có thể trở nên mãn tính nếu những dấu hiệu này được quan sát ít nhất 3 lần mỗi tuần từ hơn 3 tháng. Không liên quan gì với những người ngủ ít (petit dormeur) (10% dân số), mặc dầu ngủ ít nhưng hoàn toàn khỏe mạnh lúc thức dậy.
Mặc dầu những nguyên nhân của những mất ngủ có thể là vật lý (những cơn ngừng thở ngắn lúc ngủ, jambes sans repos, trào ngược dạ dày-thực quản, hen phế quản…), nhưng chúng thường có nguyên nhân tâm thần, trên nền lo âu và trầm cảm. ” Đôi khi, nguồn gốc có từ thời thơ ấu, ở những người sau 3 tuổi bi buộc phải ngủ trưa và trong những điều kiện phải chờ đợi giấc ngủ “, Dominique Petit, nhà nghiên cứu ở Céams của đại học Montréal (Canada) đã xác nhận như vậy.Khi những rối loạn quá gây phế tật hàng ngày, một thăm khám trong một centre du sommeil có thể cho phép tránh rơi vào trong vòng xoắn ốc của những thuốc ngủ, hay ra khỏi nó. Ở Pháp, có khoảng 40 centre du sommeil. Đôi khi, một nhập viện ngắn, từ 24 đến 48 giờ, được dự kiến để thực hiện những thăm dò khác nhau : enregistrements du sommeil, tìm kiếm những ngừng nghỉ hô hấp (pause respiratoire), những bảng câu hỏi..” Những thăm dò này chủ yếu cho phép phát hiện những thức tỉnh (éveils), Charles Morin đã nói như vậy. Nhưng điều rắc rối với những người mất ngủ, chính là sự nhận thức âm tính của họ về những giờ phải trải qua để ngủ.”
Chính tương quan có vấn đề này đối với giấc ngủ, thường đã cũ, phải được tháo gỡ một cách kiên nhẫn nhờ thérapie comportementale cognitive. Các bệnh nhân chủ yếu học cách quản lý một nhật ký giấc ngủ (agenda du sommeil), ghi chép mỗi đêm giờ tắt đèn, thời gian cần để thiu ngủ, những thức giấc…Thí dụ giấc ngủ cho phép nhận thức rằng thời gian nằm trên giường để chờ đợi giấc ngủ đến quá dài. Tuân thủ tốt, những điều trị này thành công trong khoảng 70% những trường hợp. Và cho phép người mất ngủ lấy lại sự khỏe khoắn vào buổi sáng.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2017)

2/. CÀ PHÊ CÓ THẬT SỰ NGĂN CẢN NGỦ ?
Điều đó được chứng minh : cà phê làm thời gian thiu ngủ dài thêm ra và rút ngắn thời gian ngủ tổng cộng. Hoặc đúng hơn, caféine, một khi uống vào, nó qua nhanh trong máu rồi đến não trong 5 đến 10 phút. Ở đó, caféine tác động bằng cách phong bế những thụ thể adénosine, một chất có khuynh hướng ức chế hoạt động neurone. Caféine cũng kích thích sự phóng thích adrénaline và dopamine, hai hormone có tác dụng kích thích. Cần biết rằng, phải cần trung bình 4 giờ để các men của gan làm thoái biến caféine và giảm một nửa nồng độ trong máu, do đó tốt hơn là tránh “petit noir” 30 phút đến 1 giờ trước khi ngủ, nếu ta muốn có một đêm ngủ ngon và dài.
(SCIENCE & VIE : QUESTIONS ET REPONSES. AUTOMNE 2015)

3/. MẤT NGỦ : TẠI SAO MỘT TAI ƯƠNG NHƯ THẾ ?
” Hình phạt tệ hại nhất là sự thức đêm (veille) : sự mất ngủ là lưu đày của thiên đường tốt nhất “, nhà thơ Mexico Amado Nervo đã viết như vậy năm 1916. Cũng như ông, những người mất ngủ sống sự không thể tìm thấy giấc ngủ, như là một loại hình phạt, ít nhất như là một sự tra tấn. Một cách không thể hiểu được, ngủ từ chối họ một cách vô vọng và, trong bóng tối, họ bị buộc một sự chờ đợi vô cùng, một sự cô đơn bực tức, một sự mệt nhọc vì không bao giờ ngủ được…
Chú ý, phải phân biệt những kẻ, một đêm nào đó, không tìm được giấc ngủ, với những kẻ mất ngủ thật sự. Trên phương diện lâm sàng, những người mất ngủ thật sự thoả mãn nhiều tiêu chuẩn : cần hơn 30 phút để thiu ngủ, ngủ dưới 6 giờ rưỡi mỗi đêm, ngủ một giấc ngủ mà tính hiệu quả (tỷ suất giữa thời gian trên giường và thời gian ngủ) là dưới 85%. Và điều này trong hơn 3 tháng liên tiếp với một tình trạng nguy khốn về tâm lý. Bởi vì mất ngủ quấy rầy đêm cũng như ngày với sự ngủ gà, mệt mỏi, sự rút lui xã hội (retrait social), tâm trạng bực bội và ảnh hưởng lên sức khỏe.
Vấn đề, đó là, về phương diện sinh lý, những cơ chế của mất ngủ không được hiểu rõ. Rối loạn của đồng hồ sinh học, được cho là áp đặt một nhịp cho toàn cơ thể ? Rối loạn của các hệ thống kích thích tố chủ trì nhịp thức-ngủ ? Tăng hoạt của hệ thần kinh trung ương ? Khó biết những loạn năng (dysfonctionnements) là nguyên nhân hay đúng là hậu quả ? Điều chắc chắn, đó là có nhiều nguyên nhân và một người mất ngủ phối hợp chúng để tạo, không phải một, mà hàng chục loại mất ngủ. Thí dụ, có những mất ngủ do những bệnh xảy ra trong giấc ngủ, như apnée hay syndrome des jambes sans repos. Những mất ngủ liên kết với một rối loạn tâm thần như bệnh tâm thần phân liệt, một chứng trầm cảm hay một rối loạn ám ảnh-cưỡng bức (TOC : trouble obsessionnel-compulsif), buộc người ngủ phải thực hiện nhiều kiểm tra trước khi có thể ngủ. Những mất ngủ do sử dụng một chất tác dụng tâm thần (substance psychoactive) như rượu và các chất ma túy hay những thuốc như corticoides. Những dẫn xuất này của cortisol, hormone du stress, có tác dụng kích thích système d’éveil. Không quên nhưng mất ngủ do một trở ngại vật lý ở tư thế nằm dài, như một thoát vị (hernie).
MỘT VÒNG LUẨN QUẨN THẬT SỰ.
Danh sách là dài và làm cho những điều trị trở nên tế nhị. Bởi vì một khi những bệnh lý vật lý và tâm thần được loại bỏ, mất ngủ còn có thể tiếp tục tồn tại. Khi đó phải nhận diện và phá bỏ vòng luẩn quẩn duy trì nó. Khi, mỗi chiều, ta lo ngại không biết ta sẽ có thể ngủ được hay không, thì chỉ sự việc lên giường cũng đủ gây nên một trạng thái nhận thức (état cognitif), sinh lý và xúc cảm không tương hợp với giấc ngủ, mặc dầu ta cảm thấy mệt. Bởi vì để tìm thấy giấc ngủ, trước hết những système d’éveil của não phải được “tắt”. Ở đây, chính động tác nằm tự nó tạo nên một tín hiệu thức tỉnh (signal d’éveil). Điều trước đây từng là một nơi và một lúc liên kết với sự thư giãn thì giờ đây được nối kết với sự thất vọng không tìm thấy được giấc ngủ. Với thời gian, não liên kết chiếc giường với với sự âu lo, sự lo âu này lại được duy trì bởi sự sợ hãi không được khỏe khoắn ngày hôm sau. Vai trò của thérapie cognitive et comportementale (TCC) là phá vỡ cái guồng máy này.
Bắt đầu bằng cách vứt bỏ những thói quen mắc phải trong thời gian mất ngủ trong hy vọng phục hồi : đi ngủ rất sớm mặc dầu ta không ngủ, làm những giấc ngủ trưa vào buổi chiều, dậy muộn, quá nhiều thời gian hơn trên giường…TCC trái lại khuyên trải ít thời gian hơn trên giường, dầu phải ngủ ít hơn. Đi ngủ muộn và chỉ sử dụng giường để ngủ (và không phải để nhấm nháp hay xem télé). Điều chỉnh đồng hồ báo thức vào một giờ đều đặn. Một thiên chức khi ta chỉ ngủ ba giờ mỗi đêm, nhưng điều đó cuối cùng mang kết quả, bởi vì TCC đã chứng tỏ tính hiệu quả của nó. Tuy nhiên TCC vẫn ít phổ thông hơn những thuốc ngủ, đề nghị một giải pháp tức thời, nhưng hóa học, điều này không bao giờ là không có nguy cơ.
(SCIENCE & VIE : QUESTIONS ET REPONSES. AUTOMNE 2015)

4/. TA NGỦ TỐT HƠN SAU KHI ĐÃ LÀM TÌNH ?
Ta có thể tin như thế, nhất là đối với những người đàn ông. Bởi vì mặc dầu hoạt động tình dục mang lại một cảm giác thoải mái do sự phóng thích của dopamine, kích thích tố của sự khoái lạc, và do sự phóng thích của endorphine, chất dẫn truyền thần kinh có khả năng thư giãn, nhưng các nhà nghiên cứu đã không có thể quyết định dứt khoát vấn đề. Những công trình hiếm hoi mà họ có được là những công trình của Jacques Montplaisir (điều đó không được bịa ra..), chuyên gia về giấc ngủ Canada, đã đánh giá trong những năm 80, tác động của sự thủ dâm lên giấc ngủ. 10 người đàn ông và đàn bà, trung bình 25 tuổi, đã trải qua 4 đêm trong phòng thí nghiệm. Đi ngủ lúc 23 giờ, họ đã thực hiện trong 15 phút hoặc sự thủ dâm với khoái lạc cực độ hay không, hoặc đọc sách báo (không khiêu dâm). Ngạc nhiên : những kết quả không cho thấy một ảnh hưởng nào của cơ thể. Thời gian thiếu ngủ là 37,6 phút với khoái lạc cực độ, 36 phút không khoái lạc cực độ, và 34,6 phút sau khi đọc sách báo. Vậy khoái lạc cực độ không có một tác dụng gây ngủ nào. Trừ phi những điều kiện thí nghiệm và sự việc đó chỉ là thủ đâm không làm rối loạn thí nghiệm
(SCIENCE ET VIE : QUESTIONS ET REPONSES. AUTOMNE 2015)

5/. MẤT NGỦ NGHĨA LÀ GÌ ?
Một sự chờ đợi vô cùng, làm bực tức, một sự mệt nhọc vì không bao giờ thiu ngủ được…Đó là những gì mà những người mất ngủ mo tả sự tìm kiếm giấc ngủ của họ. Trên quan điểm lâm sàng, nhiều yếu tố là cần thiết để chẩn đoán mất ngủ : một thời gian cần để thiu ngủ trên 30 phút, một thời gian ngủ tổng cộng dưới 6 gio 30 phút hay một tính hiệu quả của giấc ngủ (tỷ số giữa thời gian lên giường và thời gian để ngủ) dưới 85%.
Thêm vào bức tranh là những khó ngủ ít nhất ba đêm mỗi tuần, một tình trạng nguy khốn tâm lý (détresse psychologique) hay những khó khăn vận hành xã hội và gia đình.
Sau cùng, tính chất kinh điển của những rối loạn của giấc ngủ được xác lập khi chúng kéo dài trên 3 tháng. Thế mà có nhiều kẻ đã ” đánh mất phương pháp ” của sự thiu ngủ. Từ 16% đến 20% những người Pháp bị một mất ngủ mãn tính quấy rầy họ ngày và đêm : sự ngủ gà, sự mệt mỏi, rút lui xã hội (retrait social), những ảnh hưởng lên sức khỏe.
Nhưng những người mất ngủ này là ai ? Những công trình nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng rối loạn chủ yếu liên quan những người hoạt động nam, và những người hoạt động nữ bị hai lần nhiều hơn. Nhưng phải chăng họ là những người có nguy cơ hay chỉ có khuynh hướng hơn tiết lộ những mất ngủ của mình ? Các chuyên gia đã không trả lời dứt khoát. Ngược lại, mối liên hệ giữa cuộc sống hoạt động và mất ngủ được giải thích bởi nỗi lo sợ về những hậu quả của nó lên những hiệu năng nghề nghiệp của ngày hôm sau.
NHIỀU LOẠI MẤT NGỦ.
Ngoài ra, một cuộc điều tra của Inpes (Institut national de prévention et d’éducation pour la santé), được tiến hành năm 2012, đã phát hiện một mối liên quan giữa mất ngủ mãn tính và những tình huống bấp bênh, những biến cố đời sống khó khăn hay những bạo hành. Về phương diện sinh lý, những cơ chế mất ngủ không được biết rõ. Sự rối loạn của đồng hồ sinh học, được cho là áp đặt một nhịp lên toàn cơ thể ? Rối loạn của các hệ kích thích tố chỉ đạo nhịp thức-ngủ ? Sự tăng hoạt của hệ thần kinh trung ương ? Khó biết những loạn năng đôi khi được quan sát này là nguyên nhân hay hậu quả của mất ngủ.
Điều chắc chắn, đó là những lý do của rối loạn thường có nhiều và được phối hợp một cách khác nhau ở mỗi người. Không chỉ có một, mà nhiều loại mất ngủ : những mất ngủ nguyên phát, thường nhất là tâm sinh lý (lúc đầu được gây nên bởi một stress và keo dài khi yếu tố gây lo âu đã biến mất) ; nhữn mất ngủ nghịch lý (insomnie paradoxale) (bệnh nhân nghĩ rằng bệnh nhân không ngủ mặc dầu những thăm dò chỉ sự trái lại) ; những giấc ngủ thứ phát, do những bệnh của giấc ngủ (ngừng thở ngắn lúc ngủ, hội chứng những cẳng chân không yên), một rối loạn tâm thần, một stress cấp tính, sử dụng một chất tác dụng tâm thần, hay do một bệnh nội khoa…Danh sách là dài và làm cho những điều trị đặc biệt tế nhị.
Nhất là nếu thầy thuốc không phải là một chuyên gia về giấc ngủ. Thật vậy, điều trị một mất ngủ thứ phát mà không nhận diện nguồn gốc của rối loạn là thất bại không tránh được. Đó không phải khó khăn chính : ” Một khi những bệnh lý vật lý hay tâm thần được điều trị hay được loại bỏ, nếu mất ngủ vẫn tồn tại, phải thành công phá vỡ vòng luẩn quẩn duy trì nó “, Charles Morin, người phụ trách trung tâm nghiên cứu về những rối loạn giấc ngủ, đại học Laval (Québec) đã giải thích như vậy.
(SCIENCE & VIE : QUESTIONS ET REPONSES. 9/2014)

6/. LÊN GIƯỜNG VÀO GIỜ NÀO ?
Buổi tối giữa 22 giờ và 23 giờ và, đối với giấc ngủ trưa, khoảng 13 giờ. Bởi vì cơ thể của chúng ta theo một nhịp sinh học khoảng 24 giờ, trong đó vài thời kỳ thuận lợi hơn cho sự thiu ngủ. Chúng xuất hiện khi nhiệt độ cơ thể giảm : cuối chiều và sau bữa ăn tối. Ngoài ra, sự vắng mặt ánh sáng tạo điều kiện cho sự tiết của mélatonine, kích thích tố liên quan trong quá trình thiu ngủ.
(SCIENCE ET VIE : QUESTIONS ET REPONSES. AUTOMNE 2015)

7/. SỰ THIẾU NGỦ CÓ NHỮNG HẬU QUẢ NÀO LÊN..
… NÃO BỘ CỦA CHÚNG TA
Tai họa Tchernobyl (Ukraine, 1986), đám mây độc của nhà máy hóa học Bhopal (Ấn độ, 1984), vụ nổ nguyên tử của Three Mile Island (Hoa Kỳ, 1979)…tất cả những tai nạn công nghiệp này đều có một điểm chung : cứ mỗi lần xảy ra, giữa nửa đêm và 6 giờ sáng, một biến cố kỹ thuật đã biến thành thảm kịch do một sự thiếu cảnh giác hay một sai lầm phán đoán từ một người thiếu ngủ. Hàng ngàn tai nạn đường xá cũng được quy cho điều mà cac nhà khoa học gọi là ” cout neurobiologique” của sự thiếu ngủ. Nó được cảm thấy ngay ngày đầu và điều này, mặc dầu đêm trước chỉ bị cắt xén một hay hai giờ. Khó tập trung, trí nhớ thiểu năng, giảm năng lực học tập và khả năng lấy quyết định, tăng phản ứng xúc cảm : những thí nghiệm Hoa Kỳ, được thực hiện trên chuột, đã cho thấy rằng sự mất ngủ mãn tính làm biến đổi sự đổi mới của các neurone của hippocampe, vùng não liên quan chủ yếu trong sự ghi nhớ và sự kiểm soát tính khí. Trong thời gian dài hạn hơn, nhung công trình nghiên cứu, được thực hiện trong những năm 1960, đã chứng tỏ rằng sự thiếu ngủ trong nhiều ngày gây nên những ảo giác. Nhưng những phương tiện kỹ thuật của thời kỳ đó không cho phép quan sát những tác dụng lên não bộ. Chịu những đau đớn và những rối loạn khí chất hơn sau một đêm trắng, những phụ nữ chịu sự thiếu ngủ ít hơn đàn ông. Còn những người trẻ sẽ phục hồi một đêm trắng ở tuổi 20 nhanh hơn ở tuổi 40. Để giải thích những khác nhau giữa các cá thể này, những công trình nghiên cứu, được tiến hành năm 2009 ở Bỉ, đã nhấn mạnh vai trò của một gène (period3) lên năng lực thực hiện một công việc chuẩn sau một mất ngủ. Nhưng các nhà khoa học không biết nhiều hơn. Mặc dầu chúng ta không bình đẳng trước giấc ngủ, nhưng tất cả chúng ta đều nhạy cảm với nó. Chối bỏ nó chịu nguy cơ những tai nạn.
… HỆ MIỄN DỊCH CỦA CHÚNG TA.
Cách nay vài năm, những nhà nghiên cứu của đại học Pittsburgh (Hoa Kỳ) đã cố tình đặt vài giọt virus thông thường của cúm trong mũi của 153 người tình nguyện. 5 ngày sau, những người bệnh ba lần nhiều hơn trong số những người đã ngủ ít hơn 7 giờ mỗi đêm trong 15 ngày trước thí nghiệm. Những người đã ngủ 8 giờ hay nhiều hơn đã đề kháng tốt hơn sự tấn công của virus. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng một sự hạn chế kinh diễn của giấc ngủ có một ảnh hưởng lên hệ miễn dịch, nhất là do làm giảm hoạt tính của những bạch cầu và những kháng thể. Một công trình nghiên cứu của Đức ngay cả đã cho thấy rằng những người bị mất ngủ một phần, sau khi đã được tiêm chủng chống viêm gan A, sản xuất ít kháng thể hơn nhưng người đã ngủ no nê. Và sự khác nhau này luôn luôn có thể đo được sau một năm ! Thật vậy, hệ miễn dịch của chúng ta ” ghi nhớ” căn cước của những tác nhân nhiễm trùng mà nó tiếp xúc, cùng cách như não bộ chế tạo những ký ức : hệ miễn dịch ghi những ký ức trong khi thức và củng cố chúng trong giấc ngủ. Vậy một sự giảm thời gian ngủ ảnh hưởng lên tính hiệu quả của những trí nhớ nhận thức và miễn dịch của chúng ta. Những hậu quả khác : trong khi phần lớn những tế bào miễn dịch đạt một đỉnh cao hoạt động hướng viêm giới hạn trong khi ngủ, thì những đêm quá ngắn làm gia tăng cao điểm này, vẫn cao chừng nào nợ ngủ không biến mất. Nếu những công trình nghiên cứu này được xác nhận, điều đó sẽ giải thích tại sao nguy cơ chết vì một bệnh tim hay mạch máu não cao hơn ở những người ngủ ít.
… TRỌNG LƯỢNG CỦA CHÚNG TA
Nếu không nói đến di truyền, chứng béo phì thường bị đổ lỗi cho một chế độ ăn uống tồi hay một sự thiếu hoạt động vật lý. Ta quên một thủ phạm kín đáo hơn nhưng cũng đáng sợ : sự thiếu ngủ. Năm 2008, một phân tích méta kết hợp những dữ kiện thu thập được trên hơn 600.000 người đi đến kết luận sau đây : tỷ lệ mắc phải béo phì gia tăng 55% ở những người trưởng thành ngủ ít hơn 5 giờ mỗi đêm, và 89% ở những trẻ em chưa đến 10 giờ. Mỗi giở ngủ ít hơn gia tăng nguy cơ béo phì 9% ! Cùng điều chứng thực ở những người bị bệnh đái đường : nguy cơ phát triển bệnh lên 46% ở những người ngủ ít hơn 5 giờ mỗi đêm. Giải thích thứ nhất : thời gian thực tình buổi tối càng dài trước khi gnu, ta càng có khung hướng nhắm nháp nhiều hơn…Thế mà sự mệt mỏi tồn đọng ngày hôm sau không kích thích hoạt động vật lý. Giải thích thứ hai là kích thích tố. Thật vậy, những chuyên gia đã chứng thực rằng sự thiếu ngủ có những hậu quả trực tiếp lên sự tổng hợp của các hormone của chúng ta, đặc biệt là hai kích thích tố : leptine, được chế tạo bởi những tế bào mô (adipocyte) (những tế bào tích trữ mỡ), chịu trách nhiệm cảm giác no nê, và ghréline (được sản sinh bởi những tế bào của dạ dày), kích thích cảm giác ăn ngon. Kích thích này, trong trường hợp thiếu ngủ, được sản xuất thặng dư, trong khi leptine ít được sản xuất hơn. Kết quả : phần nào có nhiệm vụ đánh giá cảm giác ăn ngon bị kềm hãm lại, trong khi vùng liên kết với cảm giác ăn ngon bị kích thích. Do đó sự tiêu thụ calorie có thể đặt 500 kilocalories mỗi ngày.
(SCIENCE ET VIE : QUESTIONS ET REPONSES. AUTOMNE 2015)

8/. NHỮNG NGƯỜI MÙ LÀM GÌ ĐỂ BIẾT ĐÓ LÀ GIỜ NGỦ ?
Một điều chắc chắn : những người mù khó thiu ngủ hơn, ít nhất những người bị mù hoàn toàn, nghĩa là những người không cảm nhận một chút ánh sáng nào. Trên thực tế, vì không có luân phiên ngày/đêm, đồng hồ sinh học nội tại của họ bị phó mặc cho chính nó. Bị tước mất chef d’orchestre, đồng hồ sinh học xê xích dần dần đối với nhịp ngày/đêm. Đó là syndrome du libre cours. Sự xê xích này, có thể biến thiên từ một giờ mỗi ngày đến vài giờ mỗi tuần, gây nên những rối loạn nghiêm trọng của giấc ngủ. Theo một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi Centre d’étude du sommeil et de la vigilance de l’Hôtel-Dieu, Paris, 83% những người mù bị ít nhất một vấn đề về giấc ngủ. Những khó khăn để thiu ngủ (35%), những tỉnh dậy ban đêm với khó ngủ trở lại (54%), thời gian ngủ quá ngắn (49%), tỉnh dậy quá sớm (45%)…Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ và Israel, được công bố năm 2015, đề nghị tái lập chu kỳ thức/ngủ bằng mélatonine. Thật vậy, những người không cảm nhận những thay đổi về ánh sáng không có cao điểm sản xuất của kích thích tố này lúc 23 giờ, sự sản xuất mélatonine trải dài suốt ngày. Sử dụng Circadin (có tác dụng kéo dài) lúc 21 giờ làm giảm thời gian thiu ngủ và làm giảm tình trạng ngủ gà trong ngày.
(SCIENCE ET VIE : QUESTIONS ET REPONSES. AUTOMNE 2015)

9/. MỘT GIẤC NGỦ TRƯA KÉO DÀI BAO LÂU ?
Để có lợi, một giấc ngủ trưa không được quá dài : ở đây một nửa giờ dường như là lý tưởng.Thật vậy, những công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng, ngay cả khi ta ngủ ngon đêm trước, một giấc ngủ ngắn vào đầu après-midi (giữa 13 giờ và 16 giờ, khi tình trạng cảnh giác thấp nhất) gia tăng sự chú ý và duy trì, thậm chí cải thiện, những hiệu năng trong hai giờ rưỡi tiếp theo. Và trong trường hợp thiếu ngủ, giấc ngủ trưa làm giảm sự ngủ gà, đặc biệt ở những người làm việc theo giờ giấc chênh lệch.Tuy nhiên, nếu các công trình nghiên cứu đều nhất trí về những hiệu quả sửa chữa của một giấc ngủ trưa 10 phút, một giấc ngủ ban ngày hơn 30 phút đôi khi gây nên những hiệu quả ngược lại. Không những ta thức dậy mệt mỏi sau một ngủ trưa dài, mà giấc ngủ của đêm tiếp theo sau bị rối loạn.
(SCIENCE & VIE : QUESTIONS ET REPONSES. 9/2014)

10/. NGỦ MỘT MÌNH HAY NGỦ HAI MÌNH TỐT HƠN ?
Không kể đến những tiếng ngáy (nhưng cuối cùng tai cũng quen), quả đúng là ngủ hai mình gây nên những micro-réveil. Ngược lại, theo các nhà nghiên cứu của đại học Pittsburgh, ở Hoa Kỳ, ngủ hai mình có một tác dụng chống lại những bệnh tim mạch và chứng trầm cảm. Dứt khoát ! Lý do là kích thích tố. Một sự hiện diện quen thuộc bên cạnh mình làm giảm sự tiết cortisol, kích thích của stress, có liên quan trong những bệnh lý này.
(SCIENCE ET VIE : QUESTIONS ET REPONSES. AUTOMNE 2015)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(2/2/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 421 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 573 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s