Thời sự y học số 416 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ THANH NIÊN VÀ RƯỢU : MỐI LIÊN HỆ NGUY HIỂM
Sự tiêu thụ rượu quá mức ở tuổi thiếu niên để lại những dấu vết sâu đậm hơn điều mà ta hằng ngờ đến.ALCOOLOGIE. Binge drinking, biture express…Từ hơn mười năm nay, lễ sự thấm rượu liều cao (alcoolisation massive) đã trở thành, đối với nhiều thanh niên, không thể tách biệt với ý tưởng hội hè. ” Trong khi sự tiêu thụ toàn bộ rượu ở những người Pháp tiếp tục giảm, kể cả ở những người trẻ, những đợt alcoolisation ponctuelle importante (API), tương ứng với 5 ly rượu hay hơn mỗi dịp, đã gia tăng ở những thanh niên này suốt trong thập niên. Năm 2004, một nửa những thanh niên 17 tuổi đã sống một API, và ở những thanh niên 18-25 tuổi, 31% đã có một API trong 30 ngày qua “, François Beck, giám đốc Observatoire français des drogues et toxicomanies (OFDT) đã chỉ rõ như vậy. Những kết quả sau cùng của những điều tra định kỳ ở những thanh niên về sự tiêu thụ rượu xác nhận những khuynh hướng đáng lo ngại này, mặc dầu vài dấu hiệu dương tính.
Cuộc điều tra Escapad 2014, được tiến hành ở 27.000 thanh niên 17 tuổi, cho thấy số những thanh niên đã trải nghiệm ít nhất một API trong năm giảm nhẹ, chuyển từ 53,2% năm 2011 xuống 48,8% năm 2014. ” Nhưng sự giảm mới xảy ra này được kèm theo một sự gia tăng đáng quan ngại của những API đều đặn, mặc dầu điều đó chỉ liên hệ một phần nhỏ của những người trẻ tuổi này”, François Beck đã xác nhận như vậy. Cũng vậy, sự dùng đều đặn rượu, ít nhất 10 tiêu thụ trong một tháng, tiếp tục gia tăng ở lứa tuổi này (từ 10,5% năm 2011 lên 12,3% năm 2014) cũng như ở những người 18-25 tuổi. Ngay ở trung học, những rượu mạnh (vodka, whisky và cocktails) được tiêu thụ nhiều nhất, nhằm tìm một sự say rượu nhanh chóng. Khuynh hướng khác, được xác nhận bởi những con số vừa rồi, sự chênh lệch giữa các hành vi của đàn ông và đàn bà tiếp tục được thu giảm.
Phần lớn những điều thái quá này sẽ dừng lại khi bước vào cuộc đời nghề nghiệp hay khi những biến cố đánh dấu thời kỳ đầu của tuổi trưởng thành, khi có vợ có chồng hay khi có đứa con đầu lòng. Yếu tố tiên đoán nhất của một sự tiêu thụ có vấn đề là phát triển sự thấm rượu sớm, giám đốc OFDT đã nhấn mạnh như vậy. ” Nếu sự thấm rượu xảy ra trong khung cảnh hội hè, không quá sớm và không lập lại, có tất cả những cơ may rằng sự thấm rượu chỉ là một giai đoạn của thời kỳ thiếu niên. Nếu sự thấm rượu nhằm để khỏa lấp một sự trống vắng, không có hỗ trợ gia đình, sự khó tự tin thật sự…, nó hầu như gần với một quá trình automédication, rất tiên đoán một sự trượt về bệnh lý.”
Đối với BS Olivier Phan, psychiatre addictologue, ” Có những thiếu niên hay những người trưởng thành trẻ tuổi, cảm thấy khá thoải mái, những người này làm việc, thành công trong học hành, nhưng cũng có những lo lắng cá nhân hay về tương lai. Đối với họ những ngấm rượu nghiêm trọng này là một cách để thư giãn, một cách lộn ngược đầu để giảm ép…Đối với họ, đó chỉ là một điều thoảng qua, trong khi đó API (alcoolisation ponctuelle importante) lập lại thường hơn là dấu hiệu của một người trẻ cảm thấy khó ở, thử trấn an những lo lắng của mình bằng những liều rượu lớn.
Bởi vì lứa tuổi này cũng là lứa tuổi của chủ nghĩa theo thời, nên có thể khó cưỡng lại những áp lực của bạn bè khiến phải uống nhiều. Ngay cả, trong phần lớn các trường hợp, những alcoolisation ponctuelle này được quy cho những trải nghiệm của lứa tuổi này, nhưng chúng không phải là không có nguy cơ. Ngoài nguy cơ bị những tai nạn lưu thông, có một nguy cơ thật sự bị hôn mê rượu và tử vong, thường bởi vì người thanh niên, bất tỉnh, bị ngột thở trong lúc mửa. Nhưng sự lấy đi những ức chế, sự mất kiểm soát cũng gia tăng những nguy cơ quan hệ tình dục không được mong muốn hay không được bảo vệ, những hành vi buông thả mà những vidéo sau đó để lại trên Net một dấu vết không xóa nhòa được.
Những đợt ngấm rượu mạnh này cũng gây những tổn hại lên não bộ, mà sự phát triển chỉ được hoàn thành vào khoảng năm 25 tuổi. ” Nhiều công trình nghiên cứu gợi ý một tình trạng yếu ớt lớn hơn nhiều của não thiếu niên đối với rượu “, GS Mickael Naasila đã giải thích như vậy. ” Nhìn toàn bộ, những nghiên cứu hiện nay phát hiện cùng những loạn năng nhận thức (dysfonctionnement cognitif), cùng những biến đổi não bộ ở những thanh niên mãi mê binge drinking và ở những người phụ thuộc rượu mãn tính.” Vì não bộ phần lớn được xây dựng trong thời kỳ này, nên những thương tổn này có lẽ một phần không thể đảo nghịch được.
(LE FIGARO 22/6/2016)

2/ PHÒNG NGỪA : CHA MẸ Ở TUYẾN ĐẦU
” Sự gặp gỡ với rượu càng xảy ra sớm, thì nguy cơ tiêu thụ sớm càng cao. Sự việc đã nếm rượu rất sớm rất có tính chất báo trước một sự khởi đầu sớm sự tiêu thụ đều đặn. ” Đối với BS Mickael Naassila, vậy cha mẹ ở tuyến đầu trong sự phòng ngừa, trước hết nhằm tránh sự tiếp xúc của những đứa trẻ với rượu, thí dụ lúc lễ lạc gia đình, và những lạc điệu giữa những lời nói và hành vi trong môi trường gia đình.
Sự phòng ngừa phải bắt đầu ở cuối tiểu học, bởi vì sự khám phá rượu đôi khi được thực hiện ngay lúc bắt đầu trung học. Khi thời điểm của những thí nghiệm đến, những lời nói của bố mẹ thường không thể nghe được đối với chàng thiếu niên, mà ham muốn duy nhất là phải thử tất cả. Đối với BS Olivier Phan, ” cách duy nhất để bố mẹ được nghe, đó là hỗ trợ sự nhắc lại những nguy cơ bằng những biểu hiện tình cảm. Một thiếu niên càng cảm thấy được thương yêu, nó càng sẽ tự bảo vệ. Nhưng điều đó chỉ hiệu quả nếu mối liên hệ tình cảm giữa người thanh niên và cha mẹ là tốt”.
DIỄN VĂN CỦA NHỮNG NHÀ QUẢNG CÁO.
Sự ngấm rượu đôi khi của một thiếu niên, mặc dầu phải làm mọi cách để tránh nó, được quy cho những trải nghiệm của nó. ” Nếu chàng thiếu niên trở về ngà ngà say, phải nắm lấy cơ hội để tranh luận điều đó với nó ngày hôm sau, cảnh cáo nó, nếu cần một lời nhắc nhở…”, BS Patrice Huerre đã đánh giá như vậy.
Tóm tắt, đừng làm như thể không có chuyện gì xảy ra.” Nếu điều đó trở nên thường hơn, nếu gã thiếu niên thật sự vượt quá những giới hạn của cơ thể, bắt đầu nhận những nguy cơ cho nó hay cho những kẻ khác, phải thật lo âu về điều đó. Cũng vậy, tuyệt đối ta không được tầm thường hóa một sự đến khoa cấp cứu vì say rượu hay một khởi đầu của hôn mê rượu.” Sự điều trị vật lý ở khoa cấp cứu tối thiểu phải được tiếp theo bởi một consultation psychologique, hay ít nhất được theo sau bởi một temps d’arrêt với chàng thanh niên, cha mẹ, thầy thuốc điều trị, để cho hành động này một tầm quan trọng nào đó, một sự nghiêm trọng, chứng tỏ cho chàng thiếu niên rằng ta quan tâm điều đó để làm cho nó không thèm muốn tái diễn. Và nếu cần phát hiện những thanh niên thật sự cần sự giúp đỡ.
Ở các học sinh trung học và những người trưởng thành trẻ tuổi, sự phòng ngừa cũng có thể dựa trên môi trường học đường. ” Thế mà, trong nhiều trường học, ta không tin điều đó, người ta nghĩ rằng sự phòng ngừa là ảo ảnh, rằng ta sẽ không thay đổi những hành vi bằng những lời nói “, BS Phan đã lấy làm tiếc như vậy. ” Người ta làm bất cứ điều gì. Người ta gọi chúng tôi hôm trước week-end d’intégration trong một ngôi trường lớn để làm một intervention de prévention, trong khi những chàng trai trẻ đã có trong đầu lễ hội, và dĩ nhiên điều đó không có hiệu quả..
(LE FIGARO 22/6/2016)

3/ NHỮNG NGUY CƠ ĐẶC THÙ ĐỐI VỚI NÃO THIẾU NIÊN
Độc tính đối với não bộ phần lớn do sự tạo thành của những gốc tự do (radicaux libres), stress oxydatif. Nhưng tại sao não bộ thiếu niên lại nhạy cảm hơn đối với điều đó. ” Lúc so sánh những hiệu quả của binge drinking lên những động vật ở những lứa tuổi khác nhau, chúng ta đã cho thấy rằng những quá trình không giống nhau : trong não của những con chuột thiếu niên, rượu làm giảm sự biểu hiện của những gène có can dự trong sự bảo vệ và sự sửa chữa của những thương tổn oxidative lên ADN, trong khi nó hoạt hóa những gène bảo vệ những thương tổn này “, GS Mickael Naasila đã giải thích như vậy.
Bởi vì não thiếu niên là nơi diễn ra những quá trình thành thục đặc thù chỉ xảy ra vào lúc đó, với sự thiết đặt của những nối kết, những cơ chế được kiểm soát bởi những chất dẫn truyền thần kinh rất được kích hoạt hay ức chế trong thời kỳ này, nên ta giả định rằng sự rối loạn của chúng do rượu có những hậu quả dài lâu.
THẤT TÌNH
Ở người đàn ông, chỉ có sự theo dõi những thiếu niên mới cho phép đánh giá những hậu quả chính xác ở tuổi trưởng thành. ” Nhưng những não bộ của những người trưởng thành nghiện rượu cho thấy, lúc chụp hình ảnh, những thu giảm của thể tích chất xám (những neurone) và những sợi chất trắng (những interconnexions neuronales) trong nhiều vùng. Thế mà những bất thường này tương quan với tuổi của những nhiễm độc đầu tiên ở tuổi thiếu niên “, BS Jean-Luc Martinot đã giải thích như vậy. Ở tuổi thiếu niên, não bộ biến đổi nhiều, với những thay đổi quan trọng giữa 12 và 18 tuổi. ” Rượu có một tác động to lớn ở lứa tuổi này bởi vì nó ảnh hưởng cách mà cơ thể học của não được xác lập.” Những thiếu niên tiêu thụ mạnh rượu này cũng thường có hơn một variant de gène của circuit de la dopamine, làm chúng ít nhạy cảm hơn với récompense, do đó một nhu cầu rượu gia tăng để cảm thấy những hiệu quả..
Ở những người thiếu niên này, sau đó được tái đánh giá lúc 16 tuổi, impulsivité và chụp hình ảnh não là, cùng với những thất vọng tình cảm, những yếu tố tiên đoán của sự dai dẳng của tình trạng ngấm rượu. Nhưng, Jean-Luc-Martinot đánh giá, ” những bất thường não được quan sát ở những người trưởng thành có thể là những di chứng của những tiêu thụ của tuổi niên thiếu, bởi vì não dường như được xây dựng chung quanh môi trường mà nó gặp lúc đó, rượu, chất ma túy, hay có lẽ ngay cả sự trầm cảm.”
(LE FIGARO 22/6/2016)

4/ BINGE DRINKING ẢNH HƯỞNG RÕ RỆT NÃO BỘ
Cách say rượu rất nhanh chóng này biến thái chất trắng một cách bền vững.ALCOOL. Jeux à boire, happy hours, shooters vendus au mètre : những thói quen tiêu thụ rượu ở những thanh niên phản ánh sự gia tăng mạnh của binge drinking, hay “biture express”. Được nhập cảng từ những nước anglo-saxon, cách thực hành này, lan rộng trong dân Pháp, nhằm uống nhiều rượu trong một thời gian ngắn để đạt sự say rượu. Năm 2014, 14% những người từ 15-+24 tuổi và 10% những người 25-34 tuổi đã báo cáo đã mãi theo cách uống rượu này trong năm qua, theo Inpes.
Thế mà cách tiêu thụ này có những tác dụng có hại lên não, mà các nhà khoa học chú tâm đánh giá. GS Mickael Naassila (Inserm/ université de Picardie), cộng tác với những đại học Reims Champagne-Ardenne et du Sussex, vừa công bố trong tạp chí Addiction Biology một công trình nghiên cứu mới về những hậu quả của binge drinking trên chất trắng của não. Chất trắng gồm những sợi trục và những câble của các neurone, những neuron này tạo thành chất xám. Tuổi thiếu niên là một thời kỳ dày lên của chất trắng, điều này cho phép gia tốc tốc độ nối kết của những neurone.
Các nhà nghiên cứu đã đưa cho khoảng 40 sinh viên (đàn ông và đàn bà bằng nhau), tuổi từ 18 đến 25 tuổi, những bảng câu hỏi, cho chụp cộng hưởng từ khuếch tán (IRM de diffusion) và thực hiện những test cognitif, hai lần cách nhau một năm. Tất cả đều không thực hành biture express, điều này đã cho phép so sánh hai loại tiêu thụ rượu. Những quan sát được tập trung vào thể chai (corps calleux) (cấu trúc trong đó những câbles của hai bán cầu não bắt chéo nhau).
Điều chứng thực là không thể chối cãi, tuy nhiên với một sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà. Binge drinking có những tác động cơ thể học có thể thấy được ở những người đàn ông, ở họ sự toàn vẹn của chất trắng bị ảnh hưởng, gây nên một sự rối loạn của tính chất nối kết (connectivité). Ở họ chất trắng càng ít mật độ khi họ lao mình vào biture express một cách dữ dội. Trên bình diện chức năng, điều đó được thể hiện bởi một trí nhớ công tác ít tốt hơn, trí nhớ cho phép chúng ta ghi nhớ trong thời gian ngắn hạn những thông tin mà chúng ta cần để hiểu một lập luận, để đọc, tìm kiếm một thông tin, để học…
Ở các phụ nữ, chất trắng không mất mật độ. ” Có lẽ bởi vì não của những thiếu nữ chấm dứt sự chín mùi sớm hơn trong thời kỳ niên thiếu, trong khi quá trình chín mùi vẫn tiếp tục tiến triển ở người đàn ông trưởng thành trẻ “, Mickael Naassila đã nói như vậy. Nhưng hiệu năng nhận thức (performance cognitive) của họ cũng xuống cấp trong trường hợp binge drinking. ” Có lẽ chất trắng chịu những biến đổi tinh tế hơn. Ngoài ra, ta quan sát ở họ những biến đối chất xám, được cấu tạo bởi những neurone.” Thế mà những thương tổn này luôn luôn một năm chậm hơn. ” Ta nghĩ rằng những biến đổi này của chất trắng, và của chất xâm, mặc dầu chúng phục hồi một ít, sẽ để lại những di chứng ở tuổi trưởng thành”, Mickael Naasila đã nói thêm như vậy.
” Công trình nghiên cứu này đến đúng lúc trước Noel, để nhắc lại những tác hại của binge drinking, ít được biết đến, GS Michel Reynaud, chủ tịch của Fonds action addiction, đã đánh giá như vậy. Về mặt xã hội, cách tiêu thụ này không được nhận thức như là một bệnh liên hệ với rượu, trái với tình trạng phụ thuộc (dépendance). Tuy vậy, cả hai gây nên cùng một sự xuống cấp của các năng lực trí tuệ, xã hội và xúc cảm : sự khó tập trung và học hỏi, sự giải thích quá đáng những tình cảm của những kẻ khác có thể đưa đến những phản ứng hung bạo hay, ngược lại, những quan hệ tình dục và yêu đương dễ dàng.”
Cái khó là xác định sự bước vào binge drinking. “Tiêu thụ đều đặn ít nhất 6 ly trong hai giờ”, GS Reynaud gợi ý như vậy. Ông nhấn mạnh rằng còn cần những công trình nghiên cứu để làm cho tinh tế thêm tiêu chuẩn này. Kíp của GS Naassila đã dựa trên một công thức xét đến số ly được uống mỗi giờ và tần số mà cá thể đã đạt sự say rượu trong 6 tháng qua. ” Trong nhóm sinh viên của chúng tôi, được xếp loại như là binge drinker 40% những người đàn ông, và 16% những phụ nữ, Mickael Naassila đã chỉ rõ như vậy. Điều đó đúng là chứng tỏ sự tầm thường hóa của hiện tượng.”
(LE FIGARO 29/12/2016)

5/ RƯỢU : NGUY CƠ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO GIA TĂNG NGAY 2 HOẶC 3 LY MỖI NGÀY
Cùng tiêu thụ như nhau, các phụ nữ có nhiều nguy cơ xuất huyết não hơn những người đàn ông.SANTE. Ý tưởng cho rằng, như đối với tim, một sự tiêu thụ vừa phải rượu có thể có một tác dụng bảo vệ lên não không phải là mới. Tuy nhiên, những dữ kiện khoa học cho đến nay là khá lạc điệu. Công trình nghiên cứu, vừa được công bố trong BioMed Central bởi những nhà nghiên cứu của đại học Cambridge (Anh) và viện Karolinska (Thụy Điển), có thể cung cấp một lời giải thích khiến tất cả mọi người đồng ý, bởi vì có tính đến những loại tai biến mạch máu não khác nhau.
Tai biến mạch máu não có thể là do vỡ một động mạch của não (xuất huyết não), hoặc do tắc động mạch (thiếu máu cục bộ). Đó là một biến cố đáng sợ dầu lứa tuổi xuất hiện là lứa tuổi nào. Một mặt, bởi vì nó thường gây tử vong : tai biến mạch máu não là nguyên nhân thứ ba gây tử vong ở Pháp, sau ung thư và nhồi máu cơ tim. Mặt khác, bởi vì nó có thể để lại những di chứng chức năng cho những người sống sót : những tai biến mạch máu não là nguyên nhân đầu tiên gây những phế tật thụ đắc (liệt các chi, rối loạn lời nói, khó nuốt,…).
Các nhà nghiên cứu Anh và Thụy Điển đã thu thập 27 công trình nghiên cứu vững chắc về mặt thống kê và phân biệt những loại tai biến mạch máu não khác nhau. Họ đã thêm vào những dữ kiện của một công trình nghiên cứu Thụy Điển, được thực hiện từ hơn 12 năm qua trên 73.000 người trưởng thành. Phân tích méta cho thấy rằng một sự tiêu thụ rượu vừa phải mỗi ngày, cho đến hai ly (liều chuẩn) được liên kết với một sự giảm nguy cơ tai biến mạch máu não thiếu máu cục bộ, nhưng không là như vậy với những loại tai biến mạch máu não khác, nhất là những xuất huyết não. Ngược lại, bức tranh sẫm tối đối với những người tiêu thụ nhiều hơn : nguy cơ tai biến mạch máu não thiếu máu cục bộ cũng như nguy cơ tai biến mạch máu não xuất huyết gia tăng. Nhưng chủ yếu chính nguy cơ xuất huyết tăng nhanh, từ +25% đối với 3 hay 4 ly mỗi ngày đến +67% đối với 5 ly hoặc hơn. Những gia tăng lần lượt +8% đến +14% đối với nguy cơ thiếu máu cục bộ.
VAI TRÒ CỦA SỰ LÃO HÓA.
Cùng tiêu thụ như nhau, sự gia tăng của nguy cơ ở phụ nữ là quan trọng hơn ở đàn ông : thật vậy, phụ nữ có nguy cơ tai biến mạch máu não gia tăng trên 1 ly mỗi ngày, trong khi đó là truờng họp đối với đàn ông khi uống trên hai ly mỗi ngày.
Theo một công trình nghiên cứu năm 2012 trong Bulletin épidémiologique hebdomadaire, 800.000 người đã làm một tai biến mạch máu não trong đó 500.000 người còn giữ những di chứng. Rượu không phải là nguyên nhân duy nhất : sự lão hóa là một yếu tố nguy cơ quan trọng. ” Tỷ lệ hàng năm xuất hiện những trường hợp mới gia tăng với một thừa số 100 giữa tuổi 50 và 80 “, GS Yannick Béjot và kíp của registre des AVC của thành phố Dijon, đã ghi nhận như vậy.
Ngoài ra Sự gia tăng của tỷ lệ những tai biến mạch máu não thiếu máu cục bộ (và của những nhồi máu cơ tim vì những lý do tương tự), được quan sát ở những người dưới 55 tuổi, là đáng lo ngại, mặc dầu chúng chỉ chiếm 10% tổng số những trường hợp tai biến mạch máu não. Đối với họ, thuốc lá thường là nguyên nhân.
(LE FIGARO 30/11/2015)

6/ VÀI THUỐC CHỐNG VIÊM LÀM MỆT TIM
Những thuốc chống viêm không phải stéroide (AIMS) có thể làm yếu tim, đặc biệt khi chúng được sử dụng trong một thời kỳ dài với liều lượng cao. Đó là điều được chứng minh bởi một kíp châu Âu, với công tác đánh giá sự an toàn của những thuốc này, được dùng để chống viêm và đau. Các nhà nghiên cứu vừa chứng thực rằng 7 trong số những loại thuốc này (trên 27) gia tăng từ 16% đến 83% nguy cơ nhập viện vì suy tim, kể cả ở những người không có tiền sử đối với bệnh lý này. Và nguy cơ này gia tăng với liều lượng được tiêu thụ, lên đến gấp đôi trong vài trường hợp. Trong số những thuốc bị liên hệ, có ibuprofène hay diclofénac (Voltarène), được kê đơn rộng rãi ở Pháp. Mặc dầu những kết quả này phải khiến thầy thuốc và bệnh nhân cảnh giác, tuy vậy nguy cơ vẫn rất thấp, nhất là ở những người ít sử dụng. (BMJ, septembre 2016)
(SCIENCE ET VIE 12/2016)

7/ XƠ CỨNG RẢI RÁC : HY VỌNG CỦA MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI
BS Fabian Docagne, nhà nghiên cứu ở Inserm thuoc Centre Cyceron (Caen), giải thích tác dụng của một kháng thể có tác dụng phong bế sự tiến triển của căn bệnh nan y này.
Hỏi : Bệnh tự miễn dịch này tấn công cơ thể như thế nào ?
BS Fabian Docagne : Những tế bào lympho T của hệ phòng vệ miễn dịch tấn công những tế bào của chính cơ thể, đặc thù là những tế bào của vỏ bảo vệ (gaine protectrice) bao quanh những sợi thần kinh, myéline (cũng tạo điều kiện cho sự trao đổi giữa các neurone) : não và tủy sống khó truyền những thông tin. Bệnh lý này, hai hay ba lần thường gặp hơn ở các phụ nữ, xuất hiện giữa 20 và 50 tuổi.
Hỏi : Những triệu chứng gây nên bởi sự tấn công vào myéline này ?
BS Fabian Docagne : Tùy theo định vị của thương tổn : một sự vướng víu lúc bước, giảm khả năng cử động, són tiểu, mất cân bằng, cảm giác kiến bò ở một hay nhiều chi, những bất thường thị giác…
Hỏi : Ta xác lập chẩn đoán một cách chính xác như thế nào ?
BS Fabian Docagne : Một thăm dò chụp hình ảnh não cho phép phát hiện những mảng đặc trưng của những phần bị thương tổn trong não và tủy sống.
Hỏi : Bệnh tiến triển như thế nào ?
BS Fabian Docagne : Điều đó tùy thuộc vào thể của nó.
1. Thể phổ biến nhất, giảm từng hồi hồi quy (rémittente récurrente) (55% những trường hợp), tiến triển thành từng đợt trong đó những triệu chứng biến thiên tùy theo mức độ nghiêm trọng của chúng, với những thời kỳ thuyên giảm.
2. Trong những thể nguyên phát và thứ phát tiến triển (lần lượt 20 đến 25% những trường hợp), bệnh xơ cứng rải rác tiến triển một cách đều đặn không có cơn bộc phát lẫn những giai đoạn hồi phục. Ở một giai đoạn tiến triển, căn bệnh trở nên gây phế tật. Ở Pháp, bệnh xơ cứng rải rác là nguyên nhân thứ hai gây phế tật ở những người trưởng thành trẻ tuổi sau những tai nạn đường xá.
Hỏi : Những điều trị hiện nay là gì ?
BS Fabian Docagne : Những điều trị hiện nay nhằm vào hệ miễn dịch bằng những thuốc điều biến miễn dịch (immunomodulateur). Vài loại có mục đích ức chế tác dụng của những tế bào lympho xâm lược, những loại khác phong bế sự đi vào não và tủy sống của chúng, vài loại ngăn cản chúng từ giả cơ quan chế tạo chúng (như lá lách). Nhưng hôm nay không có điều trị nào cho phép làm ngừng tiến triển của bệnh. Ta chỉ có thể làm chậm nó và giới hạn sự xuất hiện của những đợt bộc phát.
Hỏi : Với kíp của ông, lần đầu tiên ông vừa hiệu chính một kháng thể, dường như làm ngừng tiến triển của bệnh xơ cứng rải rác. Nó tác động như thế nào ?
BS Fabian Docagne : Để những tế bào lympho xâm lược đến được vỏ myéline bảo vệ dây thần kinh, chúng phải vượt qua hàng rào máu-não (barrière hémato-céphalique), thành chia cách não với tuần hoàn máu. Kháng thể của chúng ta, do tác động lên một thụ thể (loại ổ khóa cho phép mở hàng rào máu- não), ngăn cản những tế bào lympho này đi xuyên qua nó. Nó cho phép đóng cửa vào.
Hỏi : Công trình nghiên cứu của ông diễn ra như thế nào ?
BS Fabian Docagne : Sau những kết quả tốt đẹp của những công trình đầu tên của chúng tôi trong phòng thí nghiệm, chúng tôi đã tiến hành một công trình nghiên cứu so sánh ở những con chuột bị bệnh xơ cứng rải rác. Điều trị được cho bằng đường tĩnh mạch ngay khi những triệu chứng đầu tiên xuất hiện. Ở những động vật này, sau một tháng, căn bệnh tiến triển một cách hệ thống dẫn đến một sự bại liệt hoàn toàn của các cẳng chân sau. Trong nhóm được điều trị bằng kháng thể của chúng tôi, tiến triển của bệnh xơ cứng rải rác đã hoàn toán được làm ngừng lại, trái với những con chuột chứng mà ở chúng ta đã thường chứng thực sự trầm trọng của sự bại liệt. Khám phá của chúng tôi, vừa được công bố trong tạp chí khoa học uy tín “Brain”, được xem như một bước tiến rất quan trọng, mang hy vọng để hiệu chính một điều trị ở người.
Hỏi : Giai đoạn kế tiếp là gì ?
BS Fabian Docagne : Những công trình nghiên cứu đầu tiên của chúng tôi đã được thực hiện với một điều trị được cho vào lúc đầu của căn bệnh, ngay khi những dấu hiệu bại liệt xuất hiện. Những thử nghiệm khác được dự kiến ở động vật để kiểm tra xem kháng thể của chúng tôi có cho phép làm ngừng tiến triển ở một giai đoạn tiến triển hay làm cách quảng thêm nữa những đợt bộc phát bằng cách giới hạn mức độ trầm trọng của chúng.
Hỏi : Khi nào ông tiến hành một công trình nghiên cứu ở người ?
BS Fabian Docagne : Trước khi dự kiến điều đó, còn nhiều giai đoạn cần phải vượt qua. Trước hết làm cho sản phẩm có thể chích được ở người khi hiệu chinh một kháng thể người, đồng thời đảm bảo không có độc tính. Sau đó, chúng ta có thể tiến hành những công trình nghiên cứu lâm sàng để trắc nghiệm tính hiệu quả của kháng thể của chúng ta ở những người bệnh.
(PARIS MATCH 8-14/9/2016)

8/ NÔN VÀ MỬA LÀM GIẢM NGUY CƠ SẨY THAINhững công trình nghiên cứu đầu tiên gợi ý điều đó, những công trình của Israel và Hoa Kỳ hôm nay vừa xác nhận điều đó : bị nôn trong thời kỳ thai nghén, liên kết hay không với mửa, là một dấu hiệu tốt. Mặc dầu nôn và mửa xác nhận sự tồn tại của thai nghén, nhưng chúng chủ yếu được liên kết với một sự giảm của nguy cơ sẩy thai tự nhiên. Ở những phụ nữ có thai tự ý và đã bị một hay hai lần sẩy thai trong quá khứ, các nhà nghiên cứu đã cho thấy một sự giảm 55% nguy cơ sẩy thai ở tam cá nguyệt đầu đối với những phụ nữ bị nôn và 81% đối với những phụ có thêm mửa. (JAMA Internal Med, septembre 2016)
(SCIENCE ET VIE 12/2016)

9/ UNG THƯ TIẾN TRIỂN CỦA TINH HOÀN : TIẾN BỘ ĐẦU TIÊN
GS Karim Fizazi, trưởng khoa médecine oncologique ở Viện Gustave-Roussy, giải thích tác dụng của một điều trị mới đối với những thể nặng.
Hỏi : Ở Pháp, tần số của ung thư tinh hoàn ?
GS Karim Fizazi : Ta liệt kê khoảng 2000 trường hợp mới mỗi năm. Những ung thư này chủ yếu xảy ra ở những người trưởng thành trẻ, giữa 18 và 40 tuổi.
Hỏi : Những triệu chứng đầu tiên là gì ?
GS Karim Fizazi : Bệnh nhân có thể thấy xuất hiện một khối u ở tinh hoàn, phần lớn không đau (điều này giải thích rằng nó có thể phát triển một cách không được nhận biết), hay cảm thấy đau trong vùng thắt lưng, do những di căn trong những hạch bạch huyết.
Hỏi : Có những giai đoạn khác nhau của ung thư này ?
GS Karim Fizazi : Nhìn toàn bộ, có hai giai đoạn : ung thư tại chỗ và ung thư di căn. Ở Pháp, một nửa số những trường hợp ung thư tinh hoàn được khám phá ở một giai đoạn sớm, nghĩa là tại chỗ. Những ung thư di căn đã xâm chiếm những cơ quan khác, thường nhất là những hạch của bụng hay phổi và, trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, não, gan và xương. Những ung thư di căn được xếp thành 3 loại : tiên lượng tốt, giai đoạn trung gian hay tiên lượng xấu. Những ung thư tiên lượng tốt thường gặp nhất.
Hỏi : Hôm nay, những điều trị chuẩn tùy theo giai đoạn là những điều trị nào ?
GS Karim Fizazi : 1. Đối với những ung thư khu trú, điều trị trước hết là ngoại khoa : ta thực hiện một sự cắt bỏ tinh hoàn, được bổ sung, nếu cần, bởi một hóa trị. Điều trị này cho phép có được một tỷ lệ chữa lành gần 100%.
2. Những ung thư di căn chủ yếu được điều trị bằng hóa trị. Protocole standard, được gọi là BEP, phối hợp 3 loại thuốc, được tiêm truyền tĩnh mạch (bléomycine, étoposide và cisplatine). Nếu còn lại một khối u di căn còn sót sau hóa trị, nó sẽ được lấy đi bằng phẫu thuật. Trước những năm 1980, không có protocole này, nhiều người đàn ông trẻ không thể được chữa lành…
Hỏi : Những kết quả đối với những ung thư di căn là gì ?
GS Karim Fizazi : Đối với những khối u tiên lượng tốt, ta có được ít nhất tỷ lệ 95% chữa lành. Đối với những khối u ở giai đoạn trung gian, 80%. Đối với những ung thư tiên lượng xấu, chỉ 50%.
Hỏi : Vậy chính những khối u tiên lượng xấu này mà ông đã hiệu chính ở Viện Gustave-Roussy một điều trị mới. Protocole của điều trị này là gì ?
GS Karim Fizazi : Đó là một thérapie sur mesure. Thay vì điều trị tất cả những bệnh nhân với 4 cycle hóa trị kế tiếp nhau trong vài tháng theo protocole BEP, ta thực hiện ở bệnh nhân cycle đầu tiên với một tuần tiêm truyền mỗi ngày. 3 tuần sau, ta đánh giá sự giảm của những marqueur tumoral (những chất trong máu được sản xuất bởi những tế bào ung thư). Nếu hiệu quả nhanh, ta tiếp tục thực hiện protocole cổ điển ; nếu tính hiệu quả không đủ, ta tăng cường hóa trị bằng cách thêm vào 3 thuốc bổ sung (paclitaxel, ifosfamide, oxaliplatine), hoặc một tổng cộng 6 loại thuốc thay vì 3. Điều trị mới này, với một thời gian điều trị 3 tháng, có thể; nếu cần; được bổ sung bởi một ngoại khoa.
Hỏi : Công trình nghiên cứu nào đã chứng minh tính hiệu quả của điều trị mới này ?
GS Karim Fizazi : Đó là một công trình nghiên cứu so sánh quốc tế (GETUG 13), được thực hiện với sự cộng tác của Pháp, Hoa Kỳ và Slovaquie trên 263 bệnh nhân tuổi trung bình 28 tuổi, bị một ung thư tinh hoàn di căn có tiên lượng xấu và không bao giờ được điều trị. Một nhóm đã nhận protocole mới của chúng tôi, nhóm kia nhận hóa trị chuẩn BEP. Các bệnh nhân có một sự giảm nhanh những chất chỉ dấu máu đã chữa lành bệnh trong 80% những trường hợp. Những bệnh nhân mà sự giảm không đủ đã được chữa lành trong 70% những trường hợp với điều trị mới của chúng tôi. Tóm tắt, đối với toàn bộ những ung thu tiên lượng xấu, hôm nay ta đã chuyển từ 50% len 70% tỷ lệ chữa lành. Công trình nghiên cứu này cũng đã chứng minh rằng, trong thời gian dài hạn, những tác dụng phụ của hóa trị giảm và không để lại di chứng ở phần lớn những bệnh nhân. Đó là lần đầu tiên từ 25 năm qua ta đã cải thiện được tỷ lệ chữa lành ở những bệnh nhân bị thể nặng.
(PARIS MATCH 13-19/1016)

10/ MORPHINE : MỘT THUỐC GIẢM ĐAU KHÔNG CÓ TÁC DỤNG PHỤ ?
Những trường hợp ngộ độc Morphine và những chất dẫn xuất đã gây 165.000 trường hợp tử vong ở Hoa Kỳ từ năm 1999. Một kíp của các nhà hóa học của những đại học Standford, của Bắc Carolina và Nuremberg đã sàng lọc hơn 3 triệu phân tử và hàng tỷ những giao thoa thuốc ! Thay vì sử dụng sơ đồ nghiên cứu nhằm biến đổi morphine để tạo một dẫn xuất được dung nạp tốt hơn, các nhà hóa học đã khảo sát cấu trúc 3 D của thụ thể chống đau chủ chốt của morphine, được gọi là “mu”. Hai thụ thể khác mà morphine kết nối, delta và kappa, chịu trách nhiệm những tác dụng không mong muốn. Như thế các nhà nghiên cứu đã khám phá một phân tử, PZM21, liên kết với thụ thể mu nhưng không tiếp xúc với hai thụ thể kia của morphine. Ở chuột, tác dụng chống đau cũng hiệu quả như tác dụng của morphine, nhưng không có hại cho sự hô hấp cũng như không gây nghiện.
(PARIS MATCH 8-14/9/2016)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(17/12/2016)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 416 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 595 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s