Cấp cứu Nội Tiết và Chuyển Hoá số 38 – BS Nguyễn Văn Thịnh

HÔN MÊ TĂNG THẨM THẤU
(HYPERGLYCEMIC HYPEROSMOLAR NON KETOTIC COMA)

Adam J.Rosh, MD
Assistant Professor
Department of Emergency Medicine
Wayne State University School of Medicine
Detroit, MI

TEST 8

Một người đàn bà 74 tuổi có tiền sử bệnh đái đường được EMS mang đến khoa cấp cứu vì biến đổi trạng thái tâm thần. Home health aide nói rằng bệnh nhân cạn thuốc cách nay 4 ngày. HA là 130/85 mmHg, tần số tim là 110 đập mỗi phút, nhiệt độ là 99,8 độ F và tần số hô hấp là 18 hơi thở mỗi phút. Lúc khám, bệnh nhân không thể theo các mệnh lệnh nhưng đáp ứng với các kích thích. Các kết quả xét nghiệm cho thấy số lượng bạch cầu là 14.000/L, hematocrit 49%, tiểu cầu 325/L, sodium 128 mEq/L, potassium 3 mEq/L, chloride 95 mEq/L, bicarbonate 22 mEq/L, BUN 40 mg/dL, creatinine 1,8 mg/dL, và glucose 850 mg/dL. Phân tích nước tiểu cho thấy gluocose 3+, protein +1, không có máu hay ketone.
Sau khi thực hiện ABCs, biện pháp kế tiếp thích hợp nhất trong điều trị ?
a. Bắt đầu hồi sức dịch với bolus 2 đến 3 L normal saline, sau đó cho 10 đơn vị regular insulin bằng đường tĩnh mạch.
b. Bắt đầu hồi sức dịch với bolus 2 đến 3 L normal saline, sau đó cho 10 đơn vị regular insulin bằng đường tĩnh mạch và bắt đầu phenytoin để dự phòng co giật
c. Cho 10 đơn vị regular insulin bằng đường tĩnh mạch, sau đó bắt đầu hồi sức dịch với 2 đến 3 L normal saline
d. Thực hiện một chụp cắt lớp vi tính não, nếu âm tính đối với đột qụy cấp tính, bắt đầu hồi sức dịch với 2-3 L normal saline
e. Sắp xếp để thẩm tách máu cấp cứu.
Câu trả lời đúng là a
Hôn mê tăng thẩm thấu (HHNC : hyperglycemic hyperosmolar nonketotic coma) là một hội chứng biểu hiện tăng đường huyết rõ rệt (glucose huyết thanh > 600 mg/dL), tăng thẩm thấu (hyperosmolarity) (plasma osmolality > 350 mOsm/L), mất nước đáng kể (9L ở bệnh nhân 70 kg), và giảm chức năng tâm thần (mental functioning), có thể tiến triển đến hôn mê. Hôn mê tăng thẩm thấu (coma hyperosmolaire) có thể là bệnh cảnh ban đầu của bệnh đái đường không được nhận biết trước đây ở một người trưởng thành với bệnh đái đường loại 2. Những bệnh nhân già có nguy cơ cao hơn bị hôn mê tăng thẩm thấu. Lợi tiểu thẩm thấu (osmotic diuresis) càng nổi bật hơn so với nhiễm toan xeton đái đường (DKA). Sự điều chỉnh nhanh tình trạng tăng thẩm thấu (hyperosmolar state) có thể dẫn đến phù não. Không như nhiễm toan xeton đái đường (DKA), trong hôn mê tăng thẩm thấu (HHNC), nhiễm toan và tích xeton (ketosis) thường không có hay ở mức tối thiểu. Trụ cột của điều trị là hồi sức dịch, cho insulin, bổ sung chất điện giải, và tìm kiếm một nguyên nhân phát khởi.
(b) Phenytoin bị chống chỉ định trong hôn mê tăng thẩm thấu bởi vì không hiệu quả và có thể làm giảm sự phóng thích insulin nội tại.
(c) Hồi sức dịch là trụ cột của điều trị và phải luôn luôn được thực hiện trước insulin
(d) Mặc dầu bệnh nhân nhiên hậu có thể nhận một chụp cắt lớp vi tính, nhưng hồi sức dịch là ưu tiên bởi vì mất nước nặng ở những bệnh nhân này.
(e) Nếu một bệnh nhân có thận hoạt động, thẩm tách máu (hemodialysis) không cần thiết. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có bệnh thận ở giai đoạn cuối, khi đó thẩm tách máu có thể cần thiết để điều trị bù dịch quá (overhydration)

Reference : Emergency Medicine. Pretest

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(20/11/2016)

This entry was posted in Cấp cứu nội tiết và chuyễn hóa, Chuyên đề Y Khoa. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s