Cấp cứu Nội Tiết và Chuyển Hoá số 35 – BS Nguyễn Văn Thịnh

TĂNG KALI-HUYẾT
(HYPERKALIEMIA)

Adam J.Rosh, MD
Assistant Professor
Department of Emergency Medicine
Wayne State University School of Medicine
Detroit, MI

TEST 5

Paramedics mang đến khoa cấp cứu một bệnh nhân 54 tuổi, được vợ tìm thấy nằm dài trong căn hộ của ông ta. Ông ta được nội thông khí quản tại chỗ và paramedics đang thực hiện hồi sức tim-phổi (CPR). Bệnh nhân được đưa lên brancard ở phòng cấp cứu và nhanh chóng được nối vào cardiac monitor. Anh yêu cầu paramedics tiếp tục hồi sức tim-phổi và đánh giá bệnh nhân và điện tâm đồ (rhythm strip). Monitor cho thấy tim nhịp chậm xoang, nhưng không bắt được mạch. Lúc khám anh đánh giá rì rào phế nang ở hai phế trường với thông khí cơ học, bụng mềm, không có nổi ban đỏ, một AV graft ở ở cánh tay trái.
Ngoài CRP với epinephrine và atropine mỗi 3 đến 5 phút, can thiệp nào nên được thực hiện tiếp theo ?
a. Tiêm 1 ampoule sodium bicarbonate
b. Tiêm một ampoule calcium gluconate
c. Tiêm một ampoule D50 (dextrose)
d. Đặt ống dẫn lưu ngực trái
e. Thực hiện chọc màng ngoài tim (pericardiocentesis)
Câu trả lời đúng là b
Bệnh nhân này có hoạt động điện tim (tim nhịp chậm xoang), nhưng không có mạch. Do đó bệnh nhân ở trong tình trạng hoạt động điện vô mạch (PEA) pulseless electrical activity) và xử trí theo AHA PEA algorithm.Bệnh nhân hoạt động điện vô mạch phải được điều trị với hồi sức tim-phổi (CRP), epinephrine mỗi 3 đến 5 phút, và atropine mỗi 3 đến 5 phút (nếu tần số PEA dưới 60 mỗi phút), nhưng một sự tìm kiếm nguyên nhân với những can thiệp đích còn phải được thực hiện.
Những nguyên nhân thông thường đối với hoạt động điện vô mạch được cho thấy trong bảng dưới đây với những điều trị đặc hiệu của chúng.Những H’s và T’s trong bảng là một cách để nhớ chẩn đoán phân biệt. Mỗi nguyên nhân phải được xét đến đối với mọi bệnh nhân với hoạt động điện vô mạch và những nguyên nhân khả dĩ hơn xét vì bệnh sử và khám vật lý phải được điều trị trước tiên. Bệnh nhân này có một AV graft, chứng tỏ bệnh nhân có một tiền sử về bệnh thận. Bởi vì những bệnh nhân với bệnh thận giai đoạn cuối có nguy cơ bị tăng kali-huyết và bởi vì tăng kali-huyết có thể gây hoạt động điện vô mạch, nên calcium gluconate nên được cho trước tiên để ổn định màng tế bào.
(a) Nếu bệnh nhân không cải thiện với calcium, calcium bicarbonate có thể được cho để điều trị nhiễm toan chuyển hóa và
(c) 50% dextrose có thể cho nếu nghi giảm đường huyết.
(e) Chèn ép tim (cardiac tamponade) là một nguyên nhân khả dĩ ở một bệnh nhân với bệnh thận và chọc màng ngoài tim (pericardiocentesis) có thể được thực hiện nếu bệnh nhân không cải thiện với những điều trị nêu trên.Một siêu âm tại giường cũng có thể hữu ích để tìm dấu hiệu ép thất phải (right ventricular collapse) hay những dấu hiệu khác của tamponade.(d) Tràn khí màng phổi là nguyên nhân ít khả năng hơn ở bệnh nhân này. Nó được điều trị với đặt ống dẫn lưu ngực.

Reference : Emergency Medicine. PreTest

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(27/10/2016)

This entry was posted in Cấp cứu nội tiết và chuyễn hóa, Chuyên đề Y Khoa. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s