Thời sự y học số 410 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG CĂN BỆNH NÀY CẦN ĐƯỢC PHÁT HIỆN TRƯỚC KHI XUẤT HIỆN MỘT UNG THƯ DẠ DÀY.

– 6500 trường hợp ung thư dạ dày mới được khám phá mỗi năm ở Pháp.
– Mọi phụ nữ bị thiếu sắt không phải nguyên nhân phụ khoa phải khám thầy thuốc chuyên khoa dạ dày-ruột, để có một ý kiến chuyên khoa và để được nội soi phần cao của ống tiêu hóa (Pr Guillaume Cadiot, Hôpital Robert Depré, Reims)

Điều tra phát hiện bệnh Biermer và teo niêm mạc dạ dày để tránh một ung thư dạ dày.STOMATOLOGIE. Ung thư dạ dày, đó là 6500 trường hợp mới được khám phá moi năm. ” Được điều trị ở giai đoạn những thương tổn tiền ung thư, ung thư này có tiên lượng tốt trong khi ở giai đoạn ung thư, chỉ có 25% tỷ lệ sống sót vì sự hiện diện thường xuyên của các di căn và một tỷ lệ đáp ứng không đủ với hóa trị “, GS Jean-Charles Delchier (khoa dạ dày-ruột, bệnh viện Henri Mondor, Créteil) và GS Dominique Lamarque (khoa dạ dày-ruột, bệnh viện Ambroise Parré, Boulogne Billancourt) đã giải thích như vậy.
Chính vì vậy điều quan trọng là phát hiện ung thư rất thường im lặng này càng sớm càng tốt. Nguyên nhân thường gặp nhất là sự nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori, một vi khuẩn mắc phải trong thời kỳ thơ ấu và hiện diện dài lâu trong dạ dày, ở đó nó gây một viêm nhiễm (viêm dạ dày mãn tính). ” Một nguyên nhân khác hiếm hơn là sự sản xuất của một tự kháng thể (auto-anticorps) chống lại những tế bào thành dạ dày (cellules pariétales : những tế bào chế tạo acide) của thân dạ dày : đó là bệnh Biermer, một bệnh tự miễn dịch (maladie auto-immune) của dạ dày. Và ít nhất 2% dân Pháp có thể bị bệnh Biermer”, GS Guillaume Cadiot (service d’hépato-gastro-entérologie et de cancérologie digestive, bệnh viện Robert Depré de Reims) đã đánh giá như vậy.
Mặc dầu hai nguyên nhân của viêm dạ dày mãn tính là khác nhau, nhưng chúng gồm nhiều điểm tương tự : ” tất cả bắt đầu bằng một viêm của niêm mạc dạ dày, hoặc khu trú ở thân dạ dày trong bệnh Biermer, hoặc phân tán trong toàn bộ niêm mạc của dạ dày trong nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori. Viêm mãn tính của dạ dày gây teo niêm mạc và một sự sữa chữa bởi những tế bào loại ruột : đó là métaplasie intestinale. Khi đó có thể xuất hiện một loạn sản (dysplasie) (là một tình trạng tiền ung thư) và sau cùng hiếm là một ung thư dạ dày.Điều này cần nhiều năm. Và trước khi đến đó, sự vắng mặt của acidité và sự không tiết của yếu tố nội tại (một protéine cần thiết cho sự hấp thụ vitamine B12) gây nên một thiếu máu muộn do thiếu vitamine 12″, GS Delchier đã giải thích như vậy.
Vậy trên lý thuyết sự hiện diện của một tình trạng thiếu máu như vậy có thể phải báo động. Bất hạnh thay nó không luôn luôn điển hình.” Thật vậy, sự thiếu hụt vitamine B12 bình thường gây một thiếu máu với những hồng cầu lớn dễ phát hiện lúc xét nghiệm máu bằng đếm hồng cầu và công thức bạch cầu (xét nghiệm cơ bản được yêu cầu nhân nhiều trường hợp), nhưng sự kém hấp thụ vitamine này được bù dài lâu bởi những dự trữ vitamine B12 của gan. Vả lại, vì thường có một thiếu hụt sắt liên kết (làm dễ sự sản xuất những hồng cầu nhỏ một cách bất thường), nên kết quả cuối cùng có lẽ là một thiếu máu bởi những hồng cầu kích thước bình thường, điều này có nguy cơ càng làm chậm chẩn đoán !”, GS Cadiot đã nhấn mạnh như vậy.
Vì lẽ tính chất âm ĩ của những căn bệnh này, có thể dẫn đến một ung thư dạ dày, mọi chi tiết khả dĩ báo động, đều có tầm quan trọng của nó. ” Những tiền sử cá nhân và gia đình về bệnh miễn dịch khiến phải nghĩ đến nó bởi vì bệnh Biermer là một bệnh tự miễn dịch. Vì thế, trong trường hợp đái đường phụ thuộc insuline, viêm tuyến giáp, vitiligo hay bệnh tự miễn dịch khác, điều đó thật sự đáng bỏ công định lượng những kháng thể chống tế bào thành (anticorps anti-cellules pariétales) : mặc dầu định lượng này không đáng tin cậy 100%, nhưng sự dễ dàng thực hiện đã có thể định hướng. Cũng phải nghĩ đến chẩn đoán này trước một thiếu máu mãn tính (và do đó một sự mệt mỏi, hơi khó thở) mà không tìm thấy nguyên nhân. Sau cùng, khi chính bệnh tự miễn dịch là nguyên nhân, tuổi xuất hiện của bệnh nói chung là sớm (20-30 tuổi), những phụ nữ thường bị bệnh hơn và tiến triển, khá đột ngột, GS Lamarque đã ghi nhận như vậy.
Đối với GS Cadiot : ” nguy cơ, trong trường hợp thiếu máu do thiếu sắt xảy ra ở một phụ nữ trẻ, là quy tất cả cho kinh nguyệt quá dồi dào, do đó bỏ qua bệnh Biermer. Chính vì vậy, mọi phụ nữ bị thiếu sắt không phải nguyên nhân phụ khoa phải khám thầy thuốc chuyên khoa dạ dày-ruột, để có một ý kiến chuyên khoa và để được nội soi phần cao của ống tiêu hóa : ngay ở giai đoạn khởi đầu của bệnh, có những dấu hiệu thâm nhiễm viêm có thể định hướng cho thầy thuốc dạ dày-ruột. Thế mà chẩn đoán được xác lập càng nhanh thì càng tốt hơn”.
” Khi đó là một nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori, nguồn gốc của viêm dạ dày teo (gastrite atrophique), sự kém hấp thụ B12 và sắt xảy ra muộn hơn, với một chẩn đoán khoảng năm 60 tuổi. Tuy vậy, sự hiện diện của một hay nhiều yếu tố nguy cơ có thể lôi kéo sự chú ý, đặc biệt, những tiền sử bệnh ung thư dạ dày trong gia đình, một nguồn gốc châu Á hay Bồ đào nha, sự kiện hút thuốc và/hoặc ăn rất mặn và sau cùng, có một chế độ ăn uống nghèo trái cây và rau xanh có tiếng bảo vệ”, GS Lamarque đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 26/4/2016)

2/ “TÔI HẰNG NGHĨ LÀ KHÔNG CÓ MỘT TRIỆU CHỨNG NÀO “
Nếu Benjamine Sorbier đã nghe nói đến bệnh Biermer, đó chỉ là bởi vì cô ta làm nghề biologiste. Do đó cô ta nghĩ rằng một ngày kia cô ta sẽ bị liên hệ…
” Chính nhân lúc thực hiện một xét nghiệm máu thường quy để xem mọi sự có ổn không mà tôi đã nhận thấy rằng những tế bào hồng cầu của tôi lớn một cách bất thường và những tế bào đa nhân trung tính (những bạch cầu) tăng phân đoạn (hypersegmenté).Hai dấu hiệu sinh học này rất gợi ý một sự thiếu hụt vitamine B12, dĩ nhiên tôi đã kiểm tra những bất thường này và định lượng máu cho thấy nồng độ vitamine B12 rất thấp. Tôi đã không có một thiếu máu nào liên kết, do đó không khó thở, không mệt mỏi : chỉ thiếu riêng rẻ vitamine B12.
Vì tôi vốn được theo dõi nội tiết học vì một giảm năng tuyến giáp nguồn gốc tự miễn dịch (hypothyroidie autoimmune) (điều này có nghĩa rằng tôi chế tạo những kháng thể chống lại chính tuyến giáp của tôi), nên thầy thuốc nội tiết của tôi đã gọi tôi đến khám thầy thuốc chuyên khoa nội tiết. Thật vậy, sự việc có một bệnh tự miễn dịch được liên kết với một nguy cơ gia tăng bị bệnh Biermer. Một soi dạ dày với nhiều sinh thiết ở dạ dày đã xác nhận rằng đúng là tôi bị bệnh Biermer, nhưng lạ kỳ thấy không gây triệu chứng.
Từ đó, mỗi 3 hay 4 tháng tôi tiêm vitamine B12 và nồng độ vitamine đã trở lại bình thường. Chính vào cơ hội này mà tôi đã thấy được mối liên hệ với một triệu chứng đau nặng ở vùng dưới của lưng mà tôi đã bị hai năm trước đây : thầy thuốc điều trị của tôi đã không tìm thấy giải thích đặc biệt nào và những thuốc giảm đau thông thường chỉ làm thuyên giảm một phần, vì thế tôi quen ít nhiều với triệu chứng đau dai dẳng.
Từ khi tôi dùng vitamine B12 tôi không còn đau chút nào nữa ! Thầy thuốc nội tiết của tôi không ngạc nhiên lắm : bà ta cho rằng những vai trò của vitamine B12 vẫn còn không được biết rõ và vitamine, thường không được cho đúng liều lượng..Ngoài việc cho bổ sung vitamine B12 bằng tiêm mông, tôi thực hiện những bilan sinh học đều đặn (mỗi 6 tháng) để đảm bảo rằng nồng độ vitamine B12 ở mức tối ưu của nó và để kiểm tra rằng những cầu máu và nồng độ sắt của tôi cũng bình thường.
Sau cùng thầy thuốc dạ dày-ruột thực hiện cho tôi một nội soi dạ dày mỗi 3 năm. Những bệnh tự miễn dịch vì gia tăng ở những người thân khi một trong những thành viên gia đình bị bệnh, nên các con tôi cũng được theo dõi. Điều đó có vẻ hơi chán ngắt, nhưng cũng rất an lòng khi tự bảo rằng đó là một phương tiện chắc chắn để thoát khỏi bị ung thư dạ dày đối với tôi và các con tôi !”
(LE FIGARO 26/4/2016)

3/ HƯỚNG VỀ MỘT ĐIỀU TRỊ TOÀN BỘ
Sự tiến triển của viêm dạ dày teo (gastrite atrophique) được thực hiện bằng những giai đoạn, nhiên hậu hướng về ung thư dạ dày. Vậy tất cả thách thức của chiến lược hiện nay là phát hiện những viêm dạ dày teo trước khi nó thoái hóa thành ung thư : ” ở giai đoạn métaplasie intestinale, sự theo dõi nội soi được thực hiện mỗi 3 năm, với những sinh thiết ở 9 điểm khác nhau của dạ dày để không bị nguy cơ bỏ sót một thương tổn. Kinh nghiệm cho thấy rằng những người bị liên hệ hiểu tầm quan trọng của sự theo dõi sát này và đã trở lại để làm nội soi dạ dày. Sự theo dõi này có thể cho phép nhận diện một vùng chính xác loạn sản (dysplasie) cấp độ thấp, có thể được lấy đi bằng nội soi. Nhưng khi loạn sản trở nên khuếch tán hay có vẻ bất thuận lợi, ngoại khoa phải được xét đến”, GS Dominique Lamarque (bệnh viện Ambroise-Paré, Boulogne-Billancourt) đã nói tiếp như vậy.
Sự việc hơi khác khi tác nhân gây bệnh là một vi khuẩn. ” Thật vậy, có thể trừ khử Helicobacter pylori nhờ sự kết hợp của nhiều kháng sinh, khi đó nguy cơ bị ung thư dạ dày do vi khuẩn này trở nên số không, với điều kiện điều trị nhiễm trùng đúng lúc. Và vì lẽ những điều kiện vệ sinh đời sống đã được cải thiện nhiều trong khoảng thời gian một thế hệ, nên ngày càng có ít những người trẻ bị nhiễm bởi Helicobacter pylori ở Pháp. Mặc dầu ổn định hôm nay, tần số ung thư dạ dày tương quan với vi khuẩn này có thể giảm trong tương lai, nhưng điều đó không liên hệ những ung thư dạ dày do sự sản xuất những tự kháng thể chống lại những tế bào của dạ dày như bệnh Biermer”, GS Jean-Charles Delchier (bệnh viện Henri-Mondor, Créteil) đã nhận xét như vậy.
Nếu không có gì phải chờ đợi từ công trình nghiên cứu bệnh Biermer, những tiến bộ chắc chắn sẽ đến từ sự điều trị toàn bộ của ung thư dạ dày, dầu nguồn gốc như thế nào : nhiều kíp đang nghiên cứu điều đó trên thế giới.
(LE FIGARO 25/4/2016)

4/ HỘI CHỨNG RUỘT DỄ BỊ KÍCH THÍCH : THƯỜNG GẶP NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC BIẾT RÕ.
GASTRO-ENTEROLOGIE. Đó là một bệnh mãn tính ảnh hưởng 5% đến 15% dân số, đa số là những phụ nữ (hai đến ba lần nhiều hơn đàn ông) và chẩn đoán đối với nhiều bệnh nhân giống như một đoạn đường chiến binh. Ít được biết rõ bởi đại chúng cũng như các thầy thuốc, bệnh đại tràng chức năng (colopathie fonctionnelle) là trọng tâm của tác phẩm mới đây của GS jean-Marc Sabaté, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa (APHP/Inserm). Ruột dễ bị kích thích (intestin irritable) là động cơ của 60% những trường hợp thăm khám dạ dày-ruột.Cũng được gọi là syndrome de l’intestin irritable (hội chứng ruột dễ bị kích thích), bệnh thường bắt đầu từ từ, không có yếu tố phát khởi, khoảng 30-40 tuổi. Trong 20% những trường hợp, nó xuất hiện tiếp theo sau một viêm dạ dày ruột nặng hay sau một choc tâm lý. Mặc đầu tiên lượng sinh tồn không bị đe dọa, chất lượng sống của các bệnh nhân có thể bị ảnh hưởng sâu đậm bởi những triệu chứng : đau bụng, rối loạn tiêu hóa (bón, ỉa chảy, hay sự luân phiên của cả hai), chướng bụng và khó tiêu. ” Đó là một sự tăng nhạy cảm (hypersensibilité) của ống tiêu hóa. Sự rối loạn tương đương với một ung thư đại tràng hay một bệnh viêm của ruột”, GS Pierre Desreumaux (CHRU Lille) đã minh họa như vậy.
Những triệu chứng không đặc hiệu này, được chia sẻ với bệnh Crohn hay bệnh coeliaque (intolérance au gluten), gia tăng nguy cơ lầm lẫn chẩn đoán. Một công trình nghiên cứu của Pháp mới đây đã cho thấy rằng trung bình hai năm trôi qua giữa những triệu chứng đầu tiên và sự nhận diện nguyên nhân của chúng. Mặc dầu những tiêu chuẩn chẩn đoán đã được xác lập năm 2006 bởi một ủy ban quốc tế các chuyên gia (critères de Rome III),” nhưng bất hạnh thay một cuộc điều tra năm 2014 đã phát hiện rằng chỉ 25% những thầy thuốc đa khoa biết những tiêu chuẩn này, GS Babaté đã phàn nàn như vậy. Cũng vậy, chỉ 82% những thầy thuốc dạ dày-ruột là hay biết về những tiêu chuẩn này”
Để một thầy thuốc có thể gợi lên một bệnh đại tràng chức năng (colopathie fonctionnelle), bệnh nhân phải bị đau bụng và bị rối loạn tiêu hóa (inconfort digestif) từ ít nhất 6 tháng, với một tần số tối thiểu 3 ngày mỗi tháng. Những triệu chứng này ít nhất phải tương quan với hai trong ba dấu hiệu sau đây : một sự cải thiện những triệu chứng bằng đại tiện cũng như một sự biến đổi tần số và thể chất của phân.
Khó khăn khác đối với các thầy thuốc. Không có một thăm dò nào cho phép xác lập chẩn đoán một cách chắc chắn. ” Phải nhìn những liên kết của các triệu chứng và tiến hành bằng phương pháp loại bỏ, Jean-Marc Sabaté đã giải thích như vậy.
Những lời chứng của các bệnh nhân điểm xuyết cuốn sách của ông có tính chất xây dựng : ” Tôi đi cầu khẩn cấp 6 đến 12 lần mỗi ngày ! Tôi không thể làm việc, tôi không còn đời sống xã hội nữa, đừng nói chi đến bạn bè, căn bệnh của tôi làm bỏ trốn tất cả mọi người. ” Hay lại nữa : ” Có khi tôi ba tuần vẫn không đi cầu, khi đó tôi làm cho tôi mửa sau khi ăn. Tôi sống căn bệnh của mình trong cô đơn, xấu hổ và trong sự không thông hiểu của những người quanh tôi và của những thầy thuốc. ” Bởi vì tác động của bệnh đại tràng chức năng không chỉ lên chức năng tiêu hóa : giấc ngủ xáo trộn, tình dục đình trệ, những ý nghĩ tự tử gia tăng, cuộc sống nghề nghiệp bị ảnh hưởng.” Một trong những bệnh nhân của tôi đã trở thành juriste sau khi đã từ chối hành nghề luật sư vì sợ không thể nín được trong những buổi biện hộ nếu không đi cầu “, GS Sabaté đã kể lại như vậy.
Những điều trị hiện nay có cho phép tìm lại một sự thoải mái trong cuộc sống hàng ngày ? Không có điều trị nào chữa lành được bệnh, mà những nguyên nhân vẫn không được xác định rõ. Nhưng có nhiều cách để làm giảm những triệu chứng : những thuốc chống co thắt (antispasmodiques), những thuốc nhuận tràng, những liều kháng sinh, vài probiotique, những thuốc chống trầm cảm, homéopathie, thôi miên, châm cứu, menthe poivrée… ” Đôi khi phải phối hợp chúng nhưng trong đại đa số các trường hợp, ta tìm được công thức để làm thuyên giảm bệnh nhân. Điều đó có thể cần thời gian : trung bình cần 4 đến 6 tuần để quan sát một hiệu quả tối đa. Chính vì vậy tôi cổ võ sự kiên nhẫn ở các bệnh nhân tôi”, GS Desrumaux đã giải thích như vậy. Tuy nhiên ông phàn nàn rằng hai loại thuốc rất có hiệu quả, linaclotide và lubiprostone, có ở Hoa Kỳ và được chuẩn nhận bởi Cơ quan quản lý dược phẩm châu Âu, nhưng không được thương mãi hóa ở Pháp.
Ngoài khía cạnh y khoa, những lời khuyên về vệ sinh đời sống là thiết yếu : kiểm soát trình trạng stress và lo âu của mình (thí dụ bằng thôi miên hay yoga), chơi thể thao (điều đó làm dễ nhu động tiêu hóa), ăn nhiều sợi và uống nhiều nước. Ta cũng có thể thử chế độ ăn uống giảm vài chất đường “fodmaps”, ” duy nhất chứng tỏ tính hiệu quả”, Pierre Desremuax đã chỉ rõ như vậy.
(LE FIGARO 18/4/2016)

5/ MICROBIOTE INTESTINAL : GIỮA NHỮNG HY VỌNG VÀ NHỮNG HỨA HẸN.
Flore của ruột chúng ta, dồi dào đến 100.000 tỷ vi khuẩn, bây giờ được xem như là một cơ quan nói riêng.BACTERIOLOGIE. Những kháng sinh nằm trong số những tiến bộ y khoa quan trọng của thế kỷ XX. Và một cách nghịch lý, có lẽ chính những vi khuẩn sẽ cho phép y khoa của thế kỷ XXI thực hiện những tiến bộ đáng kể. Sự phát triển nhanh như chớp của những kỹ thuật séquençage génétique trong những năm qua đã đặt lại vào trọng tâm của những quan tâm khoa học, những vi sinh vật cho đến nay không được chú ý : 100.000 tỷ vi khuẩn của flore intestinale.
Chứng béo phì, bệnh đái đường, bệnh Crohn nhưng cũng chứng trầm cảm hay những rối loạn hành vi ăn uống có thể được liên kết với một sự bất quân bình của flore intestinale (còn gọi là dysbiose). Microbiote ruột hôm nay được xem như một cơ quan riêng biệt, hàng triệu gène được biểu hiện bởi những vi khuẩn của nó đối với người sẽ là một “génome thứ hai”, và vài người không còn do dự nữa khi nói ruột như là một não bộ thứ hai.
Hơn 4500 bài bao khoa học đã được công bố về microbiote ruột, và mỗi tháng có những bài mới. Các chuyên gia của môn nghiên cứu trẻ tuổi này vui sướng vì một sự năng động như thế, cũng như về sự ủng hộ cho vài dự án bởi công nghiệp nông sản. Nhưng họ cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của một sự tiêu chuẩn hóa tốt hơn những protocole nghiên cứu và sự cần thiết tiết chế vài hy vọng điều trị, đôi khi quá đáng.
Sự quan tâm đối với microbiote intestinal được biến thành sự hâm mộ thật sự khi, vào năm 2004, kíp của Jeffrey Gordon đã cho thấy rằng vài vi khuẩn ruột góp phần vào sự phát triển của bệnh béo phì. Một thập niên sau, chưa có viễn ảnh điều trị nhưng những nghiên cứu tiến triển, nhất là nhờ séquençage của génome của các vi khuẩn của quần thể ruột, métagénome.
” Vào năm 2010, chúng ta chỉ biết 3,3 triệu gène vi khuẩn, hôm nay chúng ta có 10 triệu, Joel Doré, nhà nghiên cứu chuyên môn về microbiote thuoc Institut national de recherche agronomique đã nói rõ như vậy. Bây giờ chúng ta biết rằng có một noyau métagénomique, rất được bảo tồn giữa các cá thể, và những gène hiếm, gần như độc nhất ở mỗi trong chúng ta.”
Chính sự đa dạng của flore có một tác động lên sức khỏe. ” Microbiote thường bị “teo” hơn ở những người có nồng độ cao cholestérol hay bị bệnh đái đường. Đó cũng là những người đáp ứng ít tốt nhất đối với chế độ ăn uống hypocalorique”, Joel Doré đã giải thích như vậy.
Một công trình nghiên cứu mới đây, được tiến hành ở Unité Inserm 1073 de Rouen đã cho thấy rằng vi khuẩn Escherichia coli có thể có liên quan trọng vài trường hợp rối loạn hành vi ăn uống (anorexie, boulimie, hyperphagie…). E.coli sản xuất một protéine, ClpB, gần như tương tự mélanotropine, một trong những kích thích tố có tác dụng điều hòa cảm giác no nê (satiété). Đáp ứng của hệ miễn dịch chống ClpB có thể cùng lúc nhắm vào mélanotropine, như thế làm rối loạn cảm giác no nê và sự ăn uống (prise alimentaire).
Những mối liên hệ giữa microbiote intestinal và những rối loạn tâm thần khác đã được gợi lên. ” Đã có những tài liệu xuất bản chung quanh bệnh tự kỷ và nhất là chứng trầm cảm”, Jacques Schrenzel, trưởng phòng xét nghiệm vi khuẩn học của những bệnh viện đại học Genève đã bình luận như vậy. ” Nhưng rất khó khảo sát những căn bệnh nhiều nguyên nhân và phức tạp này, đối với chúng xếp loại một cách đúng đắn những bệnh nhân đặt một vấn đề thật sự.
Mới đây, một kíp nghiên cứu Pháp của Inra, cộng tác với một kíp của Trung quốc, đã cho thấy rằng có một “chữ ký vi khuẩn” (signature bactérienne) liên kết với những bệnh gan, từ xơ gan đến ung thư gan. ” Chữ ký này càng vững chắc khi giai đoạn của căn bệnh càng tiến triển “, Joel Doré đã xác nhận như vậy.Những công trình nghiên cứu khác được tiến hành trên những mô hình động vật gợi ý rằng vài trường hợp xơ cứng rải rác (sclérose en plaques) có thể được làm dễ bởi một sự rối loạn của microbiote. ” Tất cả điều này rất có tác dụng kích thích đối với việc nghiên cứu, nhưng không nên tạo những hy vọng giả ở các bệnh nhân”, Joel Doré đã nhấn mạnh như vậy. ” Chúng ta có thể chứng thực những tương quan giữa vài “signature bactérienne” và những căn bệnh, nhưng chúng ta còn phải hiểu điều đó hoạt động như thế nào, vi khuẩn nào làm cái gì và chúng tương tác với nhau như thế nào.”
Những bệnh nhân bị nhiễm trùng Clostridium tái diễn cũng có lý do để hy vọng. Ghép microbiote từ một người lành mạnh có thể chữa lành bệnh. Một phương pháp “ghép phân” (transplantation fécale), được trắc nghiệm bởi ngày càng nhiều những kíp nghiên cứu trên thế giới, gây nên một sự hào hứng thật sự và cũng có thể hữu ích trong bệnh Crohn. ” Đó là một bước tiến điều trị thật sự, Jacques Schrenzel đã bình phẩm như vậy. Nhưng để cho kỹ thuật này được công nhận như là một giải pháp thay thế cho điều trị thuốc trong những năm đến, sẽ cần phải những kết quả rất vững chắc và do đó cần phải tiến hành những công trình nghiên cứu tiêu chuẩn hóa.
(LE FIGARO 3/11/2014)

6/ UNG THƯ TỤY TẠNG : ĐỂ MỘT PHÒNG NGỪA TỐT HƠN.
Ung thư tụy tạng (10.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp) quá thường bị chẩn đoán muộn, khi căn bệnh không thể mổ được. Những thầy thuốc của Institut des sciences médicales de New Delhi ở Ấn Độ và của đại học Emory ở Atlanta công bố một công trình nghiên cứu duyệt xét lại những yếu tố làm dễ căn bệnh nhằm cải thiện sự phòng ngừa và phát hiện. Vài người mang những yếu tố nguy cơ không thể biến đổi, như những người có những tiền sử gia đình về loại ung thư này, những người bị viêm tụy tạng mãn tính, bệnh đái đường loại 2 (diabète gras) từ hơn 10 năm. Những người khác mang những yếu tố có thể được biến đổi như chứng béo phì, thuốc lá, thức ăn nhiều thịt, nhiều đồ ăn rán, nhiều cholestérol… Những người này có thể được theo dõi sớm hơn…
(PARIS MATCH 29/9-5/10/2016)

7/ MỘT ĐIỀU TRỊ HỨA HẸN CHỐNG BỆNH SỐT RÉT
Điều trị tấn công vào ký sinh trùng ở tất cả các giai đoạn chu kỳ tăng sinh của nó.
PARASITOLOGIE. Đó là một triễn vọng chưa từng có của điều trị chống bệnh sốt rét : một loại thuốc có tiềm năng chữa lành bệnh và phòng ngừa sự lan truyền bằng một lần uống duy nhất và với liều thấp. Thuốc tấn công Plasmodium, ở tất cả các giai đoạn của chu kỳ tăng sinh của nó, nhất là khi ký sinh trùng tăng sinh trong các hồng cầu và gan.
Loại thuốc này đã được khám phá bởi những nhà nghiên cứu của Broad Institute of MIT và Harvard, ở Cambridge (Hoa Kỳ) trong số một collection khoảng 100.000 phân tử. Các nhà nghiên cứu đã khai thác một chiến lược tổng hợp hóa học, đã cho phép họ thành lập một bibliothèque gồm nhiều ngàn hợp chất rất đa dạng trong cấu trúc 3 chiều của chúng. Trong số này, BRD7929, một hợp chất mà cách tác dụng đến nay không được biết rõ. Còn cần phải xác nhận lợi ích của nó với những công trình nghiên cứu độc chất học sâu hơn ở động vật, rồi những thử nghiệm lâm sàng ở người.
(SCIENCES ET AVENIR 10/2016)

8/ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SARCOPENIE
GERIATRIE. Sarcopénie là một hội chứng lão khóa, được thể hiện bởi một sự mất khối lượng và sức mạnh của các cơ. Hậu quả, những người bị sarcopénie có một nguy cơ gia tăng bị té ngã và gãy xương, nhất là cổ xương đùi, một sự giảm toàn bộ những mức hoạt động vật lý và những rối loạn chuyển hóa. Những nhà nghiên cứu người Bỉ thuộc đại học Liège, vừa trình bày ở hội nghị thế giới về bệnh loãng xương, viêm xương-khớp và những rối loạn cơ xương, một công trình nghiên cứu cho thấy rằng căn bệnh này, mặc dầu con không được biết rõ, trong những năm đến, có thể có một phát triển mạnh.
Như thế, bằng cách sử dụng những dữ kiện được thu thập bởi Eurostat, văn phòng thống kê của Liên hiệp châu Âu, các nhà nghiên cứu đã có thể thực hiện những dự báo trong thời kỳ 2016-2045 trong 28 nước châu Âu về số những người khả dĩ bị sarcopénie. Để xây dựng những dự báo này, họ đã sử dụng định nghĩa được hiệu chính bởi Groupe de travail européen về sarcopénie do tuổi tác. Cũng cho phép một chẩn đoán về những giai đoạn khác nhau của hội chứng (présarcopénie, sarcopénie, sarcopénie sévère).
Theo những tính toán của họ, trị số thấp của sự đánh giá chỉ rằng có 10 triệu người ở châu Âu bị sarcopénie. Con số sẽ tăng lên 18,7 triệu năm 2045. Theo trị số cao, con số hiện nay là 19,7 triệu và đạt 32,3 triệu năm 2045. Tỷ lệ lưu hành (fourchette de prévalence) vậy sẽ là 11% đến 20% năm 2016 và 13% đến 22% năm 2045. ” Dầu cho định nghĩa được sử dụng là gì, BS Olivier Ethgen, tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu, chúng ta thấy rằng sẽ có một sự gia tăng mạnh số người già bị sarcopénie trong những năm đến. Vậy điều thiết yếu là chúng ta phải có những chiến lược đề phòng ngừa và để điều trị chứng sarcopénie.”
Và cũng phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu để thông hiểu sự thoái hóa cơ này và về cách làm ngừng nó hay ít nhất làm chậm nó lại. Cơ được cấu tạo bởi hai loại sợi : những sợi được gọi là “đỏ”, loại I, co chậm, là những sợi của sự bền dai (endurance) ; những sợi được gọi là “trắng”, loai II, co nhanh, ít đề kháng với sự mệt mỏi. Sarcopénie chủ yếu là đó teo những sợi cơ loại II. Cách chủ yếu để chống lại điều đó là dinh dưỡng.
(LE FIGARO 18/4/2016)

9/ BACLOFENE TỎ RA CÓ HIỆU QUẢ CHỐNG CHỨNG NGHIỆN RƯỢU
Một công trình nghiên cứu loan báo tỷ lệ thành công 56% trong chứng cai rượu nhờ sự sử dụng chất giãn cơ (décontractant musculaire) này.
ADDICTOLOGIE. Chúng ta nóng lòng chờ đợi chúng : những kết quả của hai công trình nghiên cứu về tính hiệu quả của baclofène như là phương tiện điều trị cai rượu sau cùng đã được công bố. Thử nghiệm Bacloville được chỉ đạo bởi GS Philippe Jaury (đại học Paris Descartes) loan báo tỷ lệ thành công 56% trong cai rượu, điều chưa bao giờ thấy trong alcoologie. Thử nghiệm thứ hai, Alpadir, được chỉ đạo bởi GS Michel Reynaud (bệnh viện Paul-Brousse, Villejuif, Val-de-Marne) kết luận trái lại rằng baclofène chỉ có một tác dụng khiêm tốn lên sự giảm tiêu thụ rượu.
Làm sao giải thích sự mâu thuẫn này ? Có lẽ đó “một vấn đề liều lượng”, Renaud de Baurepaire, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần thuộc bệnh viện Paul-Guiraud de Villejuif đã phân tích như vậy. Thật vậy, liều trung bình trong công trình nghiên cứu Bacloville đúng là cao hơn (và gần với liều được đưa ra một cách thường nghiệm bởi các hiệp hội những bệnh nhân) so với liều được cho phép bởi công trình nghiên cứu Alpadir. Một công trình nghiên cứu khác của Hiệp hội của các bệnh nhân về những tác dụng phụ của baclofène sẽ đưa ra những kết luận từ nay đến cuối năm này.
(SCIENCES ET AVENIR 10/2016)

10/ NGƯỜI PHÁP SỢ VACCINSANTE PUBLIQUE. Với hơn 65.000 người được hỏi trong 67 nước, cuộc điều tra quy mô lớn nhất từng được thực hiện về chủ đề này tiết lộ rằng Pháp là vô địch thế giới về sự ngờ vực đối với những vaccin ! 41% những người Pháp cho rằng những vaccin này không an toàn. Một mối lo sợ hoàn toàn không có căn cứ. Đối với Bangladesh, chỉ có 0,2% ý kiến âm tính.
(SCIENCES ET AVENIR 10/2016)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(23/10/2016)

This entry was posted in Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s