Thời sự y học số 408 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIỂU TÁI DIỄN : DÙNG KHÁNG SINH HAY KHÔNG ?
Mặc dầu vấn đề này không phải là vô hại, nhưng ít công trình nghiên cứu dành cho chúng.
UROLOGIE. Bị một nhiễm trùng đường tiểu trong cuộc sống phụ nữ, đó là chuyện thường gặp. Vấn đề, đó là đối với khoảng 20% phụ nữ, câu chuyện được lập lại và, trong số những phụ nữ này, lại còn 30% bị một đợt nhiễm trùng đường tiểu khác. Đó là 30 lần nhiều hơn so với những người đàn ông trẻ !“Một cách nghịch lý, chỉ cần chú ý đến y liệu quốc tế để nhận thấy rằng vấn đề này rất ít được các chuyên gia quan tâm và chính đó là vấn đề ! Trong khi sự điều trị phải thay đổi tùy theo những phụ nữ này đúng là bị viêm bàng quang vi khuẩn tái diễn (cystite bactérienne récidivante) hay họ chi có những dấu hiệu của viêm bàng quang nhưng không tìm thấy mầm bệnh hay những vi trùng được tìm thấy lúc khám nước tiểu nhưng bệnh nhân không có triệu chứng, phần lớn bệnh nhân dùng kháng sinh mặc dầu điều đó không nhất thiết cần thiết”, GS Franck Bruyère, trưởng khoa niệu của CHU de Tours đã lấy làm tiếc như vậy.
Thế mà, sự dùng kháng sinh trong thời gian dài hạn không phải là vô hại : ” Các kháng sinh, thường được kê đơn trong khung cảnh này và nhất là những quinolone, tạo điều kiện cho sự chọn lọc của các vi khuẩn đa đề kháng (bactérie multirésistante), mà để chống lại chúng ngày càng trở nên khó khăn. Vậy đó quả thật là một vấn đề y tế công cộng”, GS Lionel Piroth, thầy thuốc chuyên khoa bệnh nhiễm trùng thuộc CHU de Dijon đã nhấn mạnh như vậy. Trên bình diện cá nhân, sự sử dụng lập lại các kháng sinh tạo điều kiện cho sự phát triển nấm âm đạo và những rối loạn tiêu hóa do làm xáo trộn flore bacétrienne có tác dụng bảo vệ. ” Điều này càng vô ích khi những mầm bệnh liên quan trong những viêm bàng quang cấp tính vi khuẩn của người phụ nữ không giống với những mầm bệnh chịu trách nhiệm những nhiễm trùng thận (viêm thận-bể thận), ngoại trừ những trường hợp hiếm hồi lưu nước tiểu từ bàng quan lên các niệu quản”, GS Bruyère đã nói như vậy.
Vậy logique muốn rằng chỉ điều trị kháng sinh khi điều đó thật sự cần thiết. Nhưng trong thực tế, không phải luôn luôn như vậy. ” Khi một người đàn bà có gần như tất cả những triệu chứng của viêm bàng quang (đau khi đi tiểu, buồn tiểu…) nhưng không tìm thấy mầm bệnh, bệnh nhân không phải dùng kháng sinh, nhưng những điều trị khác như nhỏ giọt những sản phẩm có một tác dụng lên triệu chứng đau bàng quang mãn tính”, GS Bruyère đã xác nhận như vậy.” Cũng vậy, khi bệnh nhân không cảm thấy một triệu chứng nào nhưng các mầm bệnh được tìm thấy trong nước tiểu, phải hết sức tránh điều trị bằng kháng sinh bởi vì thường đó chỉ là một sự xâm nhiễm (colonisation) “, GS Piroth đã nhấn mạnh như vậy.
Trong số những phụ nữ bị những viêm bàng quang tái diễn thật sự, những phụ nữ mãn kinh (thường bị nhất) có lợi khi được điều trị thay thế hormone tại chỗ (traitement substitutif local), bởi vì thời kỳ mãn kinh đóng một vai trò làm nặng them do biến đổi trạng thái dinh dưỡng (trophicité) của bàng quang. Những phụ nữ này cũng có thể gặp nhiều khó khăn hơn để tháo nước tiểu bàng quang, điều này cần được phục hồi chức năng. Và ngay cả khi các kháng sinh trở nên không thể thiếu được, vẫn còn có phương tiện giới hạn những liều lượng được kê đơn, bởi vì sự lựa chọn điều trị thích ứng tùy theo trường hay đề nghị một điều trị dài hạn tùy thuộc vào số các cơn hàng năm.
Dưới 10 đợt mỗi năm, một điều trị vào mỗi cơn (traitement ponctuel) với những kháng sinh rất ít chọn lọc những đề kháng cũng đủ. Sau cùng điều đó cũng giống như cho ít kháng sinh. Ngược lại, bắt đầu từ 10 đợt và nhiều hơn viêm bàng quang mỗi năm, một điều trị nền (traitement de fond) bằng kháng sinh liều thấp được chủ xướng, nhưng điều đó không được ngăn cản phải thử làm tất cả để xuống dưới ngưỡng của 10 cơn này mỗi năm, bằng cách tác động lên những yếu tố nguy cơ.
Thí dụ, ” sự hiện diện của bandelette TVT (Tension Free Vaginal Tape) dưới niệu đạo, được đặt để chấm dứt một nỗi lo âu són tiểu, có thể gây nên một cặn sau tiểu (un résidu post-mictionnel) và tạo điều kiện cho sự tăng sinh vi khuẩn trong bàng quang. Trong trường hợp này, sự kê đơn alphabloquant để làm dễ sự tháo bàng quang hay tập tự thông tiểu lấy, có thể giải quyết vấn đề”, GS Bruyère đã ghi nhận như vậy. ” Một suy nghĩ nhiều chuyên khoa bao gồm, tùy theo những trường hợp, thầy thuốc điều trị, thầy thuốc phụ khoa, thầy thuốc niệu khoa và thầy thuốc chuyên khoa nhiễm trùng, cũng được mong muốn”, GS Lionel Piroth đã nhấn mạnh như vậy.
Ngoài canneberge, còn có những hướng khác để cố tránh khỏi phải dùng các kháng sinh dùng dài ngày. Đó là trường hợp méatotomie, nhằm làm rộng lỗ đái (méat urinaire) hay méatoskénectomie, trong đó các tuyến nhỏ Skène nằm trong vùng này và được cho là có tác dụng như ổ chứa vi khuẩn, được lấy đi đồng thời. Nhưng vì thiếu những công trình nghiên cứu để chứng tỏ tính hiệu quả và độ dung nạp của chúng, nên các thầy thuốc niệu khoa chỉ có thể dựa trên những cảm tưởng của bệnh nhân.
” Cần khẩn cấp “débanaliser” (đừng coi thường) những nhiễm trùng đường tiểu tái diễn làm biến đổi chất lượng sống của nhiều phụ nữ, ngoài ra với một thách thức sinh thái quan trọng đối với họ và đối với tập thể : sự đề kháng vi khuẩn “, GS Piroth đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 19/9/2016)

2/ ” TÔI ĐÃ ĐỌC VÀ ĐÃ NGHE TẤT CẢ THẾ MÀ ĐIỀU TRÁI LẠI…”
Đối với Amandine Breton, 22 tuổi, nữ sinh viên, thật là phức tạp khi muốn biết phải làm gì khi những nhiễm trùng đường tieu nối tiếp nhau.
” Từ lúc còn bé tí, mẹ tôi đã giải thích cho tôi những quy tắc vệ sinh (uống nước đều đặn, không nín tiểu, chùi từ trước ra sau, làm toilette bên ngoài với những produit d’hygiène dùng ở chỗ kín… vậy tôi không nghĩ là bị những sai lầm về mặt đó. Điều đó đã không tránh cho tôi bị một đợt viêm bàng quang cấp tính đầu tiên (được điều trị một cách nhanh chóng bởi traitement minute) rồi, những tháng vừa rồi, tôi bị 5 nhiễm trùng liên tiếp ! Tôi đã nhận xét rằng điều đó rơi chủ yếu vào thời kỳ đầu kinh nguyệt và tôi tự hỏi không biết điều đó có thể phát xuất từ tampon, nhưng chẳng ai biết trả lời cho tôi. Tôi đã chuyển qua ” la cup ” (thay thế tampon) và mặc dầu còn quá sớm để nói điều đó, tôi có cảm tưởng rằng như thế tốt hơn. Thật đáng tiếc, trên internet, loại câu hỏi đó không tìm thấy câu trả lời : vì điều đó không làm ai quan tâm, ngoài những phụ nữ khó chịu như tôi ! Thầy thuốc đa khoa đã cho tôi xét nghiệm tế bào-vi khuẩn (examen cytobactériologique) nước tiểu, rồi những kháng sinh (khác nhau đối với mỗi đợt) mà chẳng có tác dụng gì.”
” Sau khi đọc nhiều lời chứng trên các diễn đàn, cuối cùng tôi sử dụng canneberge : để an tâm một thời gian, nhưng giá thuốc cao và sự kiện điều đó không được bảo hiểm xã hội bồi hoàn đã nhanh chóng tạo nơi tôi một nỗi ưu tư (tôi là sinh viên) và do đó tôi đã dừng thuốc. Vì phải đi ra nước ngoài để học và sợ bị những nhiễm trùng, thậm chí những biến chứng, tôi đã lấy hẹn ở một thầy thuốc niệu khoa. Ông này cho tôi chụp siêu âm bàng quang và vì kết quả bình thường, ông đã nói với tôi rằng điều đó không nghiêm trọng, nhưng lại không cho tôi những giải pháp khác (chỉ bảo tôi trở lại khám trong trường hợp lại bị viêm bàng quang).
Những câu chuyện nhiễm trùng này, vì làm tôi lo âu đến độ cứ nghĩ đến điều đó ngay cả khi tôi mạnh khỏe, nên tôi đã lấy hẹn với một thầy thuốc niệu khoa khác nhằm tìm một giải pháp vĩnh viễn hơn. Rất nhanh, ông ta đã nói với tôi về méatoskénectomie (điều mà trước đây đã không có ai làm !), khi bảo tôi rằng nó cho 95% những kết quả tốt. Tôi sẵn sàng để được mổ, nhưng bởi vì ông ta chỉ có thể làm điều đó 3 ngày trước khi tôi đi nước ngoài, nên tôi đã không dám và ưa thích trì hoãn hơn. Ngoài ra tôi nhận thấy rằng có rất ít thông tin về cuộc mổ này trên Internet và vị thầy thuốc gia đình của tôi đã không biết nói với tôi mổ có nguy cơ hay không bởi vì ông đã không nghe nói về điều đó trên sách báo ! Trong lúc chờ đợi, ông ta đã kê đơn cho tôi một kháng sinh để phòng ngừa đặng không bị phiền toái khi ở nước ngoài dài ngày. Tôi hy vọng rằng điều đó sẽ đủ, nhưng tôi ý thức rõ rằng đó chỉ là một giải pháp tạm thời và rằng tôi sẽ không có thể không dùng kháng sinh một cách vĩnh viễn…”
(LE FIGARO 19/9/2016)

3/ ĐÀN ÔNG, ĐÀN BÀ, ĐIỀU ĐÓ KHÔNG GIỐNG NHAU.
Sau 65 tuổi, những nhiễm trùng đường tiểu thắng thế ở đàn ông với tỷ lệ một người đàn ông bị bệnh đối với hai người đàn bà. Tuy vậy, việc điều trị những nhiễm trùng đường tiểu của đàn ông không liên quan chút nào với điều trị nhiễm trùng đường tiểu của đàn bà. “Tiểu rát kéo dài trên 24 giờ với sốt nhẹ ở người đàn ông, ở bất cứ lứa tuổi nào, đều đáng đi khám bệnh”, GS Franck Bruyère, trưởng khoa niệu ở Tours, đã nhấn mạnh như vậy.
Ý kiến được chia sẻ bởi GS Lionel Piroth, infectiologue của CHU de Dijon, đối với ông ” ý kiến của thầy thuốc niệu khoa là không không thể tránh được và điều này ngay đợt nhiễm trùng đường tiểu đầu tiên. Ngoài ý kiến của thầy thuốc niệu khoa, những ý kiến của thầy thuốc chuyên khoa nhiễm trùng và của thầy thuốc phục hồi chức năng (médecin rééducateur), nhất là trong trường hợp thương tổn thần kinh buộc phải nhờ đến thông tiểu để tháo bàng quan, có thể hữu ích, bởi vì phải thật sự hiểu tại sao điều đó xảy đến.”
Thật vậy, có thể đó là một nhiễm trùng đồng thời của tiền liệt tuyến, của các tinh hoàn, có thể đó là một chướng ngại, như một tiền liệt tuyến lớn (nguyên nhân đầu tiên của nhiễm trùng đường tiểu sau 70 tuổi) hay đó là sự hiện diện của một viên sỏi, hiếm hơn của một hẹp niệu đạo…” Ngoài xét nghiệm tế bào-vi khuẩn (examen cytobactériologique) nước tiểu để nhận diện mầm bệnh, siêu âm bụng, nhằm tìm một cặn sau tiểu (résidu post-mictionnel), là một thăm dò chủ chốt sẽ có lợi nếu được thực hiện một cách hệ thống. Thật vậy, sự việc không thể tháo hết bàng quang của mình sẽ dọn đường cho những nhiễm trùng, bởi vì nước tiểu ứ đọng là một môi trường cấy tốt. Nếu là như vậy, sự kê đơn những thuốc như những thuốc của classe des alpha-bloquants để giúp tháo sạch bàng quang tốt hơn là dieu đáng lưu ý, GS Bruyère đã ghi nhận như vậy, trong khi các kháng sinh sẽ không hiệu quả chừng nào các vi trùng bi tù hãm. ”
Khác nhau đáng chú ý khác so với phụ nữ : sự lựa chọn kháng sinh. ” Để hiệu quả, một điều trị phải tác động lên vi khuẩn, ở nơi mà chúng định vị. Thế mà rất ít kháng sinh đi vào được bên trong tiền liệt tuyến”, GS Piroth nhấn mạnh như vậy. ” Về những kháng sinh thường được sử dụng ở phụ nữ, như fosfomycine hay furadantine, chúng không đi vào trong tiền liệt tuyến. Vậy lấy điều trị của vợ đã từng bị viêm bàng quang là một ý nghĩ rất xấu ! ” GS Bruyère đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 19/9/2016)

4/ SÓN TIỂU CÓ PHẢI LÀ MỘT ĐỊNH MỆNH ?

Professeur Christian Castagnola
Chirurgien urologue
Vice-président de l’Association française d’Urologie.

Mặc dầu còn quá thường là chủ đề cấm kỵ, nhưng són tiểu vẫn là một thực tế. Đối với những bệnh nhân bị són tiểu, nó đặt một vấn đề về vệ sinh cá nhân và về những quan hệ xã hội, càng quan trọng nhất là khi họ khó nói về điều đó, kể cả với thầy thuốc của mình.Chứng són tiểu này thường được trải nghiệm như một định mệnh. Vậy giai đoạn thứ nhất là rõ ràng : phải giải phóng lời nói của những người bị bệnh lý này. Cũng phải giải phóng lời nói của những người điều trị và điều dưỡng. Những người này phải đề cập chủ đề này nhằm cho phép làm bật cái chốt văn hóa, xã hội và tâm lý của căn bệnh thầm kín này… Bởi vì hôm nay đại đa số những trường hợp són tiểu có thể được điều trị.
Gây bệnh cho hơn 3 triệu người ở Pháp, chứng són tiểu được định nghĩa một cách đơn giản như là sự mất nước tiểu không tự ý qua niệu đạo. Có 3 loại : són tiểu khi gắng sức (incontinenence d’effort), són tiểu do thúc tiểu (incontinence par urgenturie) và hỗn hợp.
Trong són tiểu khi gắng sức (incontinence d’effort), chiếm khoảng 40% những bệnh nhân, sự rò tiểu xảy ra khi thực hiện một cố gắng vật lý mạnh ít hay nhiều (ho, hách xì, hoạt động thể thao). Chủ yếu thường gặp ở phụ nữ, ngay cả trẻ tuổi, nó thường là hậu quả của một sàn hội âm (périnée) bị suy yếu bởi những chấn thương khác nhau (sinh khó, bón kinh niên, phẫu thuật bụng-chậu, nghề nghiệp buộc mang những gánh nặng, thực hành cật lực vài môn thể thao, mất trophicité do thời kỳ mãn kinh). Chứng són tiểu là nguyên nhân của khoảng 1/2 những trường hợp són tiểu phụ nữ : ta ước tính một phụ nữ trên năm bị chứng són tiểu. Ở người đàn ông chứng són tiểu thường là do một phì đại hiền tính của tuyến tiền liệt. Nói chung, nếu prévalence của són tiểu gia tăng với tuổi, phải hết sức tránh nghĩ rằng đó là một bệnh lý của người già.
Són tiểu do thúc tiểu (incontinence urinaire par urgenturie) chỉ sự cần tiểu đột ngột và khó có thể kềm chế được. Nó có thể hiện hữu đơn độc, nhưng thường nhất kèm theo són tiểu do không thể trì hoãn tiểu tiện. Nó có 3 loại nguyên nhân : một thương tổn bàng quang, vài bệnh lý thần kinh hay một chướng ngại đối với sự tháo sạch bàng quang. Đôi khi không tìm thấy một nguyên nhân nào : khi đó ta nói són tiểu không rõ nguyên nhân (incontinence idiopathique). Són tiểu do thúc tiểu gây bệnh cho 7 đến 27% những người đàn ông và 9 đến 23% phụ nữ.
Loại thứ ba là són tiểu hỗn hợp. Rất thường, hai loại són tiểu (gắng sức và do thúc tiểu) cùng hiện hữu ở cùng bệnh nhân. Đó là trường hợp ở 30 đến 40% những phụ nữ. Ở đàn ông, loại này hiếm hơn.
Thầy thuốc niệu khoa là chuyên gia có thể đảm nhận tất cả các loại són tiểu. Bằng vấn chẩn, khám lâm sàng, và đôi khi với những thăm dò chuyên môn (siêu âm, IRM, bilan urodynamique) ông ta sẽ xác định loại són tiểu cũng như ảnh hưởng của nó và đề nghị một chiến lược điều trị.
Đứng trước điều cấm kỵ liên quan đến căn bệnh, ta ước tính rằng 30% những người bị són tiểu không được điều trị…Tuy vậy, ngày nay hiện hữu những giải pháp hiệu năng. Những điều trị này được đề nghị tùy theo loại són tiểu, những yếu tố liên kết (sa cơ quan sinh dục, tăng thể trọng, những tiền sử ngoại khoa…), sự khó chịu bị gây nên và yêu cầu của bệnh nhân.
Đối với điều trị chứng són tiểu lúc gắng sức, một phục hồi chức năng đáy chậu (rééducation périnéale) có thể rất hữu ích, vả lại nước Pháp là một bộ phận của những quốc gia báo trước (pays précurseur) về phục hồi chức năng đáy chậu sau khi sinh. Từ cuối những năm 1990, những can thiệp rất đơn giản tỏ ra rất hiệu quả, với một tỷ lệ thành công hơn 90%. Đó là những bandelette synthétique được đặt dưới canal de l’urèthre (niệu đạo) để nâng đỡ nó khi gắng sức. Trong những trường hợp phức tạp nhất, những giải pháp khác hiện hữu như ballon péri-urétral, những mũi tiêm hay đặt một cơ vòng nhân tạo (sphincter artificiel), với những kết quá tuyệt vời và một chất lượng sống tốt.
Trong són tiểu do thúc tiểu (incontinence par urgenturie), một phục hồi chức năng nhằm biến đổi comportement de la vessie có thể được thực hiện cũng như điều trị thuốc. Trong trường hợp thất bại của những điều trị này, những mũi tiêm toxine botulique sẽ được đề nghị. Mục đích là làm giảm sự co bóp của cơ bàng quang tăng hoạt động. Cũng có khả năng cấy một một neuro-modulateur để kích thích điện bàng quang và phục hồi chức năng của nó với những kết quả dương tính 50 đến 80% trong thời gian dài hạn. Cần ghi nhận rằng những điều trị mới đang được nghiên cứu để sử dụng một liệu pháp tế bào. Mục đích là tăng cường trương lực của niệu đạo bằng ghép tế bào gốc.
(LE FIGARO 9/5/2016)

5/ LÀM SAO ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG SINH DỤC-NIỆU CỦA THỜI KỲ MÃN KINH ?

Professeur Patrice Lopes
CHU Nantes
Groupe d’étude de la ménopause et du viellissement hormonal
Professeur Claude Hocke
CHU Bordeaux
Groupe d’étude de la ménopause et du viellissement hormonal

Có quá nhiều phụ nữ than vãn chứng khô âm đạo, rát âm hộ và đau sinh dục sau thời kỳ mãn kinh. Họ không dám nói điều đó với thầy thuốc của mình trong khi có những giải pháp. Thuật ngữ xưa teo âm hộ-âm đạo (AVV : atrophie vulvo-vaginale), quá hạn chế, vừa được thay thế bởi thuật ngữ ” hội chứng sinh dục-niệu của thời kỳ mãn kinh” (Sgum : syndrome génito-urinaire de la ménopause).
Sgum gồm nhiều triệu chứng tương quan với sự lão hóa và những dấu hiệu liên kết với sự giảm dần của oestrogène ; những triệu chứng âm hộ-âm đạo, khô, rát, kích thích, gãi, những triệu chứng sinh dục, đau khi giao hợp (dyspareunie) do thiếu sự bôi trơn ; những triệu chứng đường tiểu, tiểu nhiều lần (pollakiurie), buồn tiểu cấp bách (urgenturie), nhiễm trùng đường tiểu lập lại không tìm thấy vi trùng (tiểu rát).
ĐIỀU TRỊ HORMONE
Tần số toàn bộ của hội chứng sinh dục-niệu của thời kỳ mãn kinh là 27% nhưng bị đánh giá thấp ; Sgum gia tăng với thời gian của thời kỳ mãn kinh. Vậy các phụ nữ phải biết rằng điều trị không chỉ có mục đích cải thiện sự thỏa mãn nhục dục mà còn tránh những nỗi phiền tiểu tiện. Các phụ nữ phải nói với thầy thuốc của mình về những dấu hiệu này và mỗi thầy thuốc phải hỏi những phụ nữ mãn kinh bởi vì họ không dám đề cập chủ đề này mặc dầu họ thật sự khổ vì nó (giảm tự tin và chất lượng sống).
Điều trị phải được thực hiện sớm, trước khi những bất thường teo (atrophie) trở nên không thể đảo ngược được. Điều trị phải được theo đuổi lâu dài bởi vì bệnh lý là mãn tính.
Những điều trị kích thích tố là hiệu quả nhất. Các oestrogène, có thể được cho bằng đường tổng quát và/hoặc nhất là bằng đường tại chỗ.Có nhiều dạng galérique (ovule, vòng, crème). Ở Pháp, những produit chứa những liều thấp oestrogène, điều này cho phép, mặc dầu kích thích tố đi qua đường tổng quát, cho những nồng độ oestradiol huyết tương thấp (dưới 20 pg/m).
Những điều trị không kích thích tố chủ yếu dựa trên những chất bôi trơn (theo yêu cầu lúc giao hợp) và những chất làm ướt (hydratant) (điều trị duy trì). Những probiotique chứa lactobacille cũng có thể được sử dụng.
Phải nhấn mạnh việc ngừng thuốc lá và một hoạt động sinh dục đều đặn để cho phép gia tăng vascularisation âm đạo, cung cấp prostagl andine, acide béo và sự căng âm đạo nhằm duy trì sự mềm mại của các mô.
Trên thực hành, sự kê đơn ưu tiên tương ứng với những thuốc bôi trơn theo yêu cầu và những hydratant (mỗi ngày trong 3 tuần, rồi 2-3 lần mỗi tuần trong một thời kỳ 3 tháng đến 1 năm). Trong trường hợp hiệu quả không đủ, những điều trị tại chỗ bằng oestrogène là hiệu quả nhất để điều trị nhưng rối loạn âm hộ-âm đạo cũng như những dấu hiệu đường tiểu. Laser để điều trị teo (atrophie) đang được đánh giá.
Đối với những bệnh nhân đã có một ung thư phụ thuộc hormone (chủ yếu ung thư vú), những điều trị bằng anti-aromatase gia tăng tần số của Sgum. Lời khuyên đầu tiên là sử dụng những hydratant và lubrifiant. Trong trường hợp chất lượng sống bị biến đổi, một điều trị tại chỗ bằng oestrogène liều thấp có thể được để nghị sau khi đả thông bệnh nhân về lợi ích/nguy cơ.
(LE FIGARO 1/2/2016)

6/ VỊ TRÍ HIỆN NAY CỦA VISION 3D TRONG THỰC HÀNH NIỆU KHOA ?

Dr Thierry Piechaud
Chirurgien urologue
Spécialiste en chirurgie robotisée
Professeur Luc Soler
Directeur spécifique de l’Ircad

Vision en 3D đã là một bộ phận của những phương tiện được đặt dưới sự sử dụng của các thầy thuốc niệu khoa trong thực hành hàng ngày của họ, để thực hiện một cuộc mổ cũng như để đào tạo. Thật vậy điều chủ yếu là cần hiểu rằng ngoại khoa đã tiến triển. Trong quá khứ, thầy thuốc ngoại khoa đã làm những đường xẻ lớn để mổ và thấy trực tiếp bên trong của bệnh nhân với sự nhìn nổi (vision stéréoscopique) một cách tự nhiên.Ngoại khoa được gọi là vi xâm nhập (chirurgie mini-invasive) đã thay đổi tất cả. Trong ngoại khoa này, ta chỉ làm vài lỗ nhỏ, đường kính từ 5 đến 10 mm, trong thành bụng để đưa vào những dụng cụ ngoại khoa và optique của caméra.Mặc dầu ngoại khoa vi xâm nhập biểu hiện một lợi ích quan trọng đối với bệnh nhân, tuy vậy ngoại khoa này phức tạp hơn đối với người phẫu thuật vì phải nhìn một écran để mổ.3D trong vidéo opératoire đã cho phép cải thiện một cách đáng kể tầm nhìn của phẫu thuật viên. Optique, nằm cách vài cm, thậm chí vài mm, tái tạo những hình ảnh mà chất lượng rõ rệt tốt hơn chất lượng thị giác tự nhiên của thầy thuốc ngoại khoa, mà hiệu năng sẽ xuống cấp với sự lão hóa.Hôm nay chúng ta có thể thấy en 3D những chi tiết ngày xưa không thể thấy được bằng mắt trần. Trong thực hành thường ngày, vision 3D có thể tiếp cận từ những caméra 3D được đưa vào trong système robotique Da Vinci (vision 3D được tái tạo trên console được sử dụng bởi người mổ) hay những caméra coelioscopique 3D khi đó cần đeo kính.Một trong những ưu điểm của ngoại khoa vi xâm nhập là khả năng quay phim và do đó ghi hay truyền vidéo opératoire. Vidéo 3D do đó đã trở thành một công cụ giảng dạy, thường được sử dụng trong những buổi lên lớp hay trong hội nghị, bằng cách truyền lại những cuộc mổ một cách trực tiếp hay sau khi thu qua trung gian những projecteur vidéo 3D và những kính liên kết, giống hệt với cinéma.
Ta thấy đó, hình ảnh 3 D đã thuộc về môi trường hàng ngày của thầy thuốc phẫu thuật niệu khoa trong thực hành và trong những phương tiện đào tạo của mình. Thêm vào những hình ảnh 3D vidéo này là một hình ảnh ảo. Để đào tạo, 3D virtuel này nằm trong những stimulateur để huấn luyện những động tác mổ, nhất là để tập sự những phẫu thuật robot hóa. Điều này cho phẫu thuật viên khả năng của một huấn luyện kỹ thuật en vision 3D trong một môi trường virtuel.
(LE FIGARO 9/5/2016)

7/ MỘT KHÁNG SINH ĐƯỢC CHỨA TRONG MŨI CỦA CHÚNG TA.
Một kíp những nhà nghiên cứu người Đức đã có tinh ý ! Trong lúc phân tích những vi khuẩn hiện diện trong những chất tiết của mũi của 187 cá thể, họ đã khám phá nguồn của một kháng sinh hiệu quả chống lại tụ cầu khuẩn vàng. Vi khuẩn đề kháng với các kháng sinh này đã gây 2000 tử vong mỗi năm ở Pháp. Nhưng nó cũng hiện diện trong xoang mũi của nhiều người nhưng không gây nhiễm trùng…Thế mà các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng một trong những bà con của nó, Staphylococcus lugdunensis, đôi khi có khả năng an tọa trong những niêm mạc của chúng ta.Vậy họ đã phân tích những phân tử được sản xuất bởi S.lugdunensis với hy vọng tìm thấy ở đó vũ khí cho phép họ đánh đuổi tụ cầu khuẩn vàng. Sau đó họ chứng thực rằng một trong những phân tử này, được mệnh danh là “lugdunine”, tỏ ra rất có hiệu quả : được đặt trên da của những con chuột bị nhiễm bởi tụ cầu khuẩn vàng, sự hiện diện của nó làm giảm rất mạnh số lượng các vi khuẩn, và hoàn toàn loại bỏ chúng trong 40% các trường hợp.
(SCIENCES & VIE 10/2016)

8/ CỘNG ĐỒNG AMISH ĐƯỢC BẢO VỆ CHỐNG LẠI HEN PHẾ QUẢN.
Sự gần gũi những động vật của nông trại tăng cường một cách hiệu quả hệ miễn dịch của những thành viên của cộng đồng Amish sống ở Hoa Kỳ.
IMMUNOLOGIE. So với cộng đồng huttérite của miền Nam Dakota, cộng đồng của những người Amish sống ở tiểu bang Indiana ít bị hen phế quản hơn nhiều. Tuy vậy hai cộng đồng anabaptiste này (trào lưu của protestanisme) ở Hoa Kỳ chia sẻ một nguồn gốc Đức.Để giải quyết sự khác biệt này, các nhà nghiên cứu của đại học Chicago (Hoa Kỳ) đã theo dõi 2 nhóm gồm 30 đứa bé mỗi nhóm, xuất thân từ hai cộng đồng. Kết quả : 5% những người Amish bị hen phế quản so với 21% những người Huttérite. Nhằm tìm lời giải thích, các nhà nghiên cứu khảo sát lối sống của hai cộng đồng này. Trong khi những người Amish sống trong những doanh nghiệp sữa và nhờ đến ngựa như lực kéo, những người Huttérite sử dụng những nông cụ hiện đại và do đó ít tiếp xúc với động vật. Thế mà dường như chính những bụi nhiều vi khuẩn đến từ những động vật nông trại làm tăng cường hệ miễn dịch của những người Amish.
(SCIENCES ET AVENIR 9/2016)

9/ PREMIERE MONDIALE : GHÉP THẬN BẰNG ROBOT Ở NGƯỜI BỆNH BÉO PHÌ
BS Nicolas Doumerc, chirurgien urologue của CHU de Rangueil (Toulouse) giải thích kỹ thuật đã cho phép ghép thận trong trường hợp béo phì.
Hỏi : Trong những trường hợp nào ta xét đến một ghép thận ?
BS Nicolas Doumerc : Ghép thận được đề nghị đối với những bệnh nhân bị suy thận mãn tính cần một dialyse (thẩm tách : lọc thận nhân tạo để loại bỏ khỏi thận những chất cặn bã, như thế thay thế chức năng thận). 3 buổi thẩm tách từ 3 đến 4 giờ mỗi tuần, nhập viện một ngày, là cần thiết nhưng gò bó. Ghép thận cho phép cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân.
Hỏi : protocol phẫu thuật cổ điển là gì ?
BS Nicolas Doumerc : Người hiến, còn sống hay đã chết, phải có cùng compatibilité immunologique với người nhận. Ta không lấy đi thận bị bệnh, ta cấy (implanter) quả thận cần phải ghép trong khung chậu. Kỹ thuật cổ điển cần một đường xẻ từ 10 đến 20 cm ở phía dưới bụng để, xuyên qua thành bụng, đặt mẫu ghép đến tiếp xúc với những mạch máu và bàng quang.
Hỏi : Với kỹ thuật nặng nề này, những biến chứng có thể xảy ra là gì ?
BS Nicolas Doumerc : Có những nguy cơ nhiễm trùng và lòi tạng (éventration), nhất là ở những bệnh nhân béo phì. Ở Pháp và ở châu Âu, ta cho rằng một chỉ số khối lượng cơ thể (IMC : indice de masse corporelle : thể trọng chia cho kích thước bình phương) trên 35 là một chống chỉ định ghép thận. Bất tiện khác của phẫu thuật này : đau lúc thức dậy do mở thành bụng.
Hỏi : Trong trường hợp béo phì, tỷ lệ những biến chứng biện minh một chống chỉ định ?
BS Nicolas Doumerc : Ta đã thông kể đến 40% những nhiễm trùng thành bụng ở những bệnh nhân béo phì và, một cách tổng quát, 4 lần những biến chứng hậu phẫu nhiều hơn. Tất cả những vấn đề này có tiềm năng đe dọa chức năng của mẫu ghép. Mặt khác, sự việc mổ những bệnh nhân béo phì có thêm một khó khăn kỹ thuật : thành bụng vì rất dày, sự quá tải của các mô mỡ làm phức tạp sự tiếp cận đến các huyết quản.
Hỏi : Ông hay giải thích cho chúng tôi ông đã có thể thực hiện première européenne này như thế nào ở hai bệnh nhân béo phì ?
BS Nicolas Doumerc : Bằng cách sử dụng kỹ thuật chirurgie robotisée. Trước chúng tôi, kỹ thuật này đã được thực hiện trên 67 bệnh nhân bởi kíp Chicago. Phương pháp này không cần một đường xẻ lớn mở thành bụng nữa. Các cánh tay của robot, được điều khiển bởi phẫu thuật viên, được định vị xuyên qua 4 lỗ nhỏ đường kính 1 cm. Một lỗ thứ năm, 4 cm, cho phép đưa mẫu ghép vào trong bụng. Mẫu ghép này sau đó được đặt vào trong tiểu khung. Hiện nay, chirurgie robotique để ghép thận rất ít được sử dụng : chỉ 300 bệnh nhân trên thế giới đã nhận phẫu thuật này, trong đó 30 ở châu Âu.
Hỏi : Những hậu phẫu ở những bệnh nhân béo phì được ghép thận của ông như thế nào ?
BS Nicolas Doumerc : Hai bệnh nhân mà chúng tôi đã ghép, một phụ nữ cân nặng 105 kg đối với 1,63 m và một người đàn ông 130 kg đối với 1,80 m, đã không có một biến chứng nào. 3 tháng sau khi mổ, chức năng thận của họ được bình thường hóa và, thay đổi rất quan trọng đối với chất lượng sống của họ, họ không còn phải chịu những buổi thẩm tách mỗi tuần.
Hỏi : Có những chống chỉ định đối với những ghép thận bằng chirurgie robotisée ở những bệnh nhân béo phì không ?
BS Nicolas Doumerc : Vâng, những tiền sử ngoại khoa bụng nặng nề và một tình trạng huyết quản xấu (thí dụ những huyết quản bị vôi hóa).
Hỏi : Sự thành công này có sẽ khiến sử dụng ở những người béo phì chirurgie robotisée đối với những bệnh khác ?
BS Nicolas Doumerc : Vâng, không chút đó dự. Những bệnh nhân mà đối với họ một ngoại khoa cổ điển là phức tạp bởi vì một tăng thể trọng, có thể được mổ nhờ kỹ thuật robotique này cho những bệnh lý tiêu hóa, phụ khoa hay niệu khoa. Robot làm dễ rất nhiều những can thiệp ở người béo phì, đối với đối tượng này mọi phẫu thuật đều tế nhị.
Hỏi : Ông có dự kiến thực hiện những ghép thận khác bằng robotisation ở những bệnh nhân béo phì ?
BS Nicolas Doumerc : Khoảng 20 bệnh nhân được lên danh sách chờ đợi và chúng tôi sẽ xác nhận những kết quả đầu tiên của chúng tôi trong một công trình nghiên cứu châu Âu rộng lớn hơn.
(PARIS MATCH 15/9-21/9/2016)

10/ SỰ SƯỞI ẤM KHÍ HẬU ĐÃ TẠO ĐIỀU KIỆN CHO NHỮNG NHIỄM TRÙNG.
Lần này, không còn nghi ngờ gì nữa : sự gia tăng được quan sát ở Hoa Kỳ và ở châu Âu số những nhiễm trùng do những vi khuẩn thuộc họ Vibrio, nhất là chịu trách nhiệm bệnh dịch tả và ngộ độc thức ăn đôi khi gây chết người, đúng là do sưởi ấm khí hậu. Để chứng tỏ điều đó, các nhà vi trùng học Hoa Kỳ trước hết đã đo mức độ dồi dào của những vi khuẩn biển này, mà con người tiếp xúc qua tắm biển và tiêu thụ fruits de mer, trong những mẫu nghiệm plancton được thu thập giữa năm 1958 và 2011 trong 9 vùng của Bắc đại tây dương. Sau đó họ đã so sánh những kết quả của họ với nhiệt độ của nước bề mặt cũng như số nhiễm trùng được ghi nhận ở cùng những thời kỳ. Phân tích đã phát hiện rằng 3 hiện tượng này rất tương quan với nhau : nhiệt độ của nước càng gia tăng, số những vi khuẩn Vibrio càng tăng thêm, và châu Âu cũng như Bắc Mỹ ghi nhận một số lượng gia tăng những bệnh nhân. Sự tăng cao có những trường hợp đặc biệt rõ rệt vào lúc nhiệt độ đạt cao điểm, như cao điểm đã xảy ra ở biển Baltique vào mùa hè năm 2014 : 72 nhiễm trùng Vibrio khi đó đã được ghi nhận ở Phần Lan và Thụy Điển, so với 12 được ghi nhận ở Pháp cùng năm. Trong tương lai những con số có thể gia tăng…
(SCIENCES & VIE 10/2016)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(6/10/2016)

This entry was posted in Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s