Thời sự y học số 407 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ ĐIẾC : Ở BẤT CỨ LỨA TUỔI NÀO, SỰ PHÁT HIỆN PHẢI ĐƯỢC THỰC HIỆN SỚM.
Bây giờ người ta biết đáp ứng tốt nhất với những loại thiếu sót thính giác khác nhau trong suốt cuộc đời.“Phát hiện và điều trị sớm điếc là điều thiết yếu, dầu tuổi tác như thế nào”, GS Vincent Darrouzet, trưởng khoa TMH của CHU de Bordeaux đã nhấn mạnh như vậy. Hơn 10 triệu người Pháp than phiền về một kém thính giác, dẫn đến một phế tật chức năng đối với 5 triệu người trong số họ, một mức độ nghiêm trọng quan trọng đối với 400.000 người. Luật về phế tật năm 2005 đã cho phép thiết đặt công tác điều tra phát hiện đại trà vào lúc sinh đẻ để đưa tuổi chẩn đoán đầu tiên 2-3 tuổi xuống 3-4 tháng trên toàn bộ lãnh thổ Pháp. Ở người trưởng thành, mặc dầu điếc đôi khi được phát hiện bởi y khoa lao động, nhưng chính bệnh nhân (hay người thân) rung chuông báo động trong đại đa số các trường hợp. Khi đó một bilan hoàn chỉnh cho phép phân biệt các loại điếc khác nhau để đề nghị một điều trị thích ứng, ngoại khoa hay appareillage.
Ngoại khoa là giải pháp tốt nhất đối với điếc dẫn truyền (surdité de transmission), liên quan đến tai ngoài hay tai giữa : màng nhĩ và các chuỗi xương con (osselets) cho phép truyền những rung thanh vào tai trong. ” Điếc có thể xuất hiện sau khi bị viêm tai liên tiếp (otites à répétition), một biến cố chấn thương đã chọc thủng màng nhĩ hay gây nên sự xuất hiện của một cholestéatome (u hiền tính), GS Bernard Fraysse, trưởng khoa TMH của CHU de Toulouse đã chỉ rõ như vậy. Bệnh nhân phàn nàn tai chảy nước, đau khi nước vào trong tai và nói chung kêu điếc một bên.” Thầy thuốc xác lập chẩn đoán bằng một quan sát với kính hiển vi liên kết với một bilan audiométrique. Ngoài ra, chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ cho phép xác nhận sự hiện diện của một cholestéatome và mức độ lan rộng của nó. Sau đó giải pháp sẽ là ghép màng nhĩ hay cắt bỏ cholestéatome để giải quyết vấn đề, với một sự theo dõi bằng IRM en diffusion để phát hiện mọi sự tái phát của cholestéatome.
Nguyên nhân thường gặp khác của điếc ở người lớn : otospongiose, một bệnh di truyền thường nhất được phát hiện sau 30 tuổi. Bệnh này gây thương tổn một trong những dây chằng của xương bàn đạp (étrier) (một trong những chuỗi xương con) nên không còn có thể rung được nữa. Bệnh nhân kêu điếc nhưng cũng kêu ù tai trong khi màng nhĩ bình thường : một scanner cho phép tìm thấy foyer và xác nhận chẩn đoán. Những triệu chứng có thể được cải thiện bởi một máy thính giác nhưng, trong nhiều trường hợp, ngoại khoa là một giải pháp hiệu quả hơn. ” Cắt bỏ xương bàn đạp và thiết đặt một piston cho phép hoàn lại cảm giác mà không biến đổi “, GS Bernard Fraysse đã định rõ như vậy.
Khi điếc hoàn toàn một bên xuất hiện, khi nó nặng dần và được kèm theo bởi những tiếng ù tai và/hoặc chóng mặt, một cộng hưởng từ phải được thực hiện nhanh chóng : nó cho phép nhận diện sự hiện diện của một neurinome, một thương tổn hiền tính trên dây thần kinh tiền đình-ốc tai (nerf vestibulo-cochléaire). Theo dõi đơn thuần, ngoại khoa, phóng xạ trị liệu hay gamma-knife sẽ được đề nghị tùy theo kích thước của thương tổn và tuổi của bệnh nhân.
Khi những tế bào tiêm mao (cellules ciliées) của tai trong chết, chúng không được tái sinh. Nếu chúng biến mất với số lượng lớn, sau những chấn thương liên tiếp hay một cách tự nhiên khi tuổi già, một điếc tiếp nhận (surdité de perception) xuất hiện. Điếc do tuổi già (presbyacousie), sự lão hóa của thính giác, như thế vẫn là nguyên nhân thường gặp nhất của điếc ở người lớn và không ngừng gia tăng. Đó là một diễn biến bình thường : dưới 5% dân chúng bị những khuyết tật thính giác vào năm 25 tuổi trong khi một người trên bảy bị thương tổn ít hay nhiều. Ở tuổi 80, 20 đến 30% dân số có những rối loạn trung bình hoặc nặng của thính giác. Các phụ nữ hơi ít bị hơn đàn ông : vài nghề nghiệp ảnh hưởng thính giác cũng như những hành vi có nguy cơ xảy ra ở đàn ông hơn là phụ nữ, nhất là họ ít nhạy cảm hơn đối với những message de prévention.
Các bệnh nhân luôn luôn phàn nàn một sự kém hiểu : họ nghe rõ nhưng không còn theo nữa những cuộc đàm thoại. ” Những công trình nghiên cứu đã chứng mình rằng nguy cơ sa sút trí tuệ (déclin cognitif) tỷ lệ với mức độ mất thính giác”, GS Fraysse đã nhấn mạnh như vậy. Ngoài ra những âm gốc càng xa, chúng càng khó thu hồi. Kết luận : phải mang máy càng sớm càng tốt để tránh sự sa sút trí tuệ này và làm dễ réhabilitation. Tuy vậy mỗi bệnh nhân không luôn luôn có cùng nhu cầu : Bộ y tế từ năm 2008 khuyến nghị một bilan thính giác hoàn chỉnh và một thời kỳ thử tối thiểu 15 ngày để đảm bảo rằng máy được đề nghị thích ứng với mỗi bệnh nhân.
” Tuy nhiên các bệnh nhân không cần nhũng modèle high-tech tốn kém nhất, được đề nghị trong 95% những trường hợp “, GS Fraysse đã lấy làm tiếc như vậy.
(LE FIGARO 1/2/2016)

2/ IMPLANT COCHLEAIRE : TỪ 7 THÁNG ĐẾN 77 TUỔI (HOẶC HƠN)
Nếu apareillage auditif (đeo máy trợ thính) đã biết thế nào là một cuộc cách mạng numérique, thì chính những implant cochléaire (cấy điện cực ốc tai) đã cách mạng hóa việc điều trị chứng điếc nặng, nhất là ở trẻ em. ” Tôi nhớ một đứa bé điếc khi sinh (né sourd), đã nhận được một trong những implant đầu tiên trong những năm 80 và đã làm một Normale Sup trong một circuit scolaire hoàn toàn bình thường thay vì trở thành câm điếc (sourd-muet) “, GS Vincent Darrouzet, trưởng khoa TMH của CHU de Bordeaux đã lấy làm phấn khởi như vậy.Được sử dụng từ 15 năm nay ở trẻ em (thường hơn nhiều ở người lớn), những implant này kích thích dây thần kinh thính giác qua trung gian của các điện cực được đặt lúc mổ trong ốc tai (cochlée). Ốc tai nằm trong xương đá (rocher), biến đổi năng lượng thính giác thành năng lượng điện. Những điện cực nằm ở dưới da, sau tai. Phần ngoài của thiết bị gồm một micro (để bắt âm thanh), một processeur (để mã hóa chúng) và một antenne.
Những implant không hẳn chỉ dành cho trẻ em : điếc là một yếu tố cô lập (facteur d’isolement) ở mọi lứa tuổi, với những hậu quả quan trọng lên chất lượng sống. Một bilan hoàn chỉnh trước khi đặt implant được thực hiện : ở trẻ em phải đảm bảo rằng thính giác vĩnh viễn bị phương hại trước khi vô hiệu hóa ốc tai bằng điện cực mà ta đặt ở đó. Ở người trưởng thành, cũng phải chắc chắn rằng bệnh nhân có thể rút được lợi ích từ implant : não bộ phải có thể đáp ứng với những âm thanh mới mà nó sẽ giải thích, vì những âm thanh được cảm nhận vẫn khác với thực tế. Vậy bệnh nhân phải tự nguyện và não phải có khả năng theo một phục hồi cơ năng kéo dài từ 6 tháng đến 2 năm, một thời gian càng dài khi sự mất thính giác càng cũ.
KHÔNG GIỚI HẠN TUỔI.
Tuy vậy, các implant không thể được đề nghị cho tất cả những ai có thính lực bị giảm sút : tổn phí đặt là 45.000 euros đối với mỗi bệnh nhân. Những bệnh nhân này sau đó được theo dõi qua registre national. Mọi trường hợp điếc hai bên, dầu đã được mang máy, và cho phép hiểu dưới 30% các chữ, cho phép xét đặt một implant cochléaire, không giới hạn tuổi. Hiện nay không có vấn đề đặt một implant nếu chỉ bị điếc một tai, mặc dầu điều đó được thực hiện trong vài nước.
Trước khi xét đặt một implant, những máy cổ điển là một giải pháp thay thế thỏa mãn đối với những bệnh nhân chấp nhận chúng, hiện nay luôn luôn là các phụ nữ và những cán bộ cao cấp. Từ nay những máy này numérique, có thể được điều chỉnh một cách tỉ mỉ đối với thính giác của mỗi người trong những tình huống khác nhau và ngay cả cho phép nhận một cách trực tiếp âm thanh của một TV, một ordinateur hay ngay cả của một buổi hòa nhạc khi phòng nghe dự kiến điều đó.
(LE FIGARO 1/2/2016)

3/ TỔ CHỨC ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN CHO TẤT CẢ CÁC KHOA SẢN
” Từ tháng 12 năm 2014, sự điều tra phát hiện điếc được thực hiện một cách hệ thống trong tất cả những nhà hộ sinh của Pháp”, GS Fraysse, trưởng khoa ORL, thuộc CHU de Toulouse đã giải thích như vậy. ” Sự phát hiện có hệ thống này đã được thiết đặt nhằm thu giảm những bất bình đẳng về mặt lãnh thổ đứng trước sự quản lý phế tật và đảm bảo rằng điếc được phát hiện càng sớm càng tốt để cải thiện điều trị.” Công tác phát hiện này được thực hiện trong những giờ sau khi sinh và cho phép phát hiện xem ốc tai (cochlée) có truyền tốt những thông tin thính giác lên não hay không.Trong trường hợp nghi ngờ, một thăm dò mới được thực hiện sau 3 tuần : những trẻ em bị mất thính giác được đưa về những centre experts (CAMSP). Những trung tâm các chuyên gia này nhờ đến một kíp nhiều chuyên môn để xác lập bilan hoàn chỉnh của điếc ở trẻ em và những phương pháp tốt nhất để điều trị.
TRÁNH KHÔNG ĐỂ CHO TRẺ TRỞ THÀNH CÂM-ĐIẾC
Điếc càng được phát hiện sớm, trẻ càng sẽ có nhiều cơ may được hội nhập trong hệ học đường nếu bố mẹ lựa chọn oralité. ” Mục tiêu là tránh cho đứa bé khỏi bị câm điếc trong khi appareil vocal không bị thương tổn, điều này dễ dàng hơn khi đứa trẻ mang máy sớm”, GS Darrouzet, trưởng khoa TMH Bordeaux, đã giải thích như vậy.Những kíp nhiều chuyện khoa của centre expert cũng có thể giúp phát hiện những chứng điếc được phát hiện muộn hơn. Khi chứng điếc chỉ bị ở một tai, hay khi nó tiến triển một cách chậm chạp, tuy vậy đứa bé có thể phát triển một sự chậm học tập (retard d’appentissage) và những rối loạn hành vi mặc dầu những trắc nghiệm đo thính lực (test d’audiométrie) đúng đắn. Đó là sự thiếu hiểu những chữ trong môi trường xã hội, tạo những khó khăn cho đứa bé. Những CAMSP cũng đảm trách theo dõi đứa bé : điều trị được lựa chọn phải cho phép đứa trẻ hội nhập về mặt xã hội với phế tật của nó, dầu bố mẹ chọn oralité đơn độc, langage des signes hay bilinguisme.
(LE FIGARO 1/2/2016)

4/ THANH NIÊN VÀ ÂM NHẠC : NHỮNG NGUY HIỂM THÍNH GIÁC NÀO ?

Professeur Bruno Frachet
Président d’Agir pour l’audition
ORL à l’hôpital Rothschild (Paris)
Docteur Wael Khazen
Chef de projet de recherche clinique
Hôpital Rothschild (Paris)

Thính giác của ngày mai, đó là thính giác của những lão niên của những năm 2050. Trong tương lai gần này đối với họ, những người từ 18-25 tuổi hôm nay sẽ trở thành những lão niên của ngày mai. Khoa học sẽ thực hiện những tiến bộ to lớn, có lẽ đó là sự điều chỉnh y khoa những gène xấu, nhưng những senior này của ngày mai phải chăng sẽ nghe rõ hơn những đàn anh của họ ? Bất hạnh thay, những công trình nghiên cứu mới nhất mà chúng tôi có được và kinh nghiệm của chúng tôi (kinh nghiệm lâm sàng và kinh nghiệm thực tế), khiến chúng tôi nghi ngờ về điều đó. Những người 18-25 tuổi hôm nay có một nguy cơ mà ta không được giảm thiểu : nguy cơ là “thế hệ bị hy sinh”, vì đã đánh mất một phần của thính giác trên bàn thờ âm nhạc.
Nhiều công trình nghiên cứu trong những năm qua đã xác nhận điều mà le bon sens gợi ý : những thói quen nghe nhạc có nguy cơ của các thanh niên tạo những chấn thương thính giác mà những hậu quả trong thời gian ngắn hạn là đã rõ ràng (những tiếng ù tai, hyperacousie…), và khiến tiên đoán những hậu quả trong thời gian dài hạn nghiêm trọng hơn chỉ là tật nghển ngãng “tự nhiên”, của người già (presbyacousie), sự giảm thính lực bắt đầu từ 65 tuổi.Những buổi hòa nhạc và sorties quá nhiều décibel, nghe bằng casque với một volume quá cao, trong những thời gian quá dài…Theo OMS, vào năm 2015, 1,1 tỷ thanh niên trên thế giới có nguy cơ bị một giảm sút thính lực (déficience auditive) do tiếp xúc với âm nhạc. Và gần chúng ta hơn nhiều, vào mùa xuân này, Agir pour l’audition đã trắc nghiệm thính giác của 1618 thanh niên từ 17 đến 28 tuổi ở những đại học Paris. Kết quả : 7 trên 10 đã từng bị ù tai (acouphène) nhưng phần lớn đã không làm gì hết, phớt lờ lời cảnh cáo này và những hậu quả tiềm tàng trong thời gian dài hạn, nghĩ rằng “điều đó sẽ qua đi”.
Tại sao có những hành vi nguy cơ này ? Sự trọng tài tế nhị giữa vui chơi-nguy hiểm (arbitrage plaisir-danger) là một hằng số của tuổi trẻ, dầu đó là nhạc rock, thuốc lá, moto…
Thế mà Walkman đã được thương mãi hóa ngay năm 1979. Sự khác nhau có lẽ đúng là phát xuất từ sự có mặt khắp nơi của digital của nó. ” Cool facteur” của casque (rappeur Dr-Drea đã làm giàu nhờ bán cho Apple nhãn hiệu casque của mình), mức âm thanh chỉ được kiểm soát bởi người nghe, sự dễ dàng có được một âm nhạc khắp nơi khắp mọi lúc (musique “partout, tout le temps”) với sự gia tăng đồng thời volume và thời gian tiếp xúc. Các volume d’écoute au casque thường gần với những ngưỡng nguy hiểm (90 đến 100 dB) (cao hơn một marteau-piqueur !), và thời gian tiếp xúc kéo dài vô tận (ta thường ngủ với casque). Chính sự phối hợp thời gian-cường độ này phá hủy một cách không đảo ngược những tế bào tiêm mao (cellules ciliées) (những tế bào tai trong). Những tế bào này biến đổi những rung thanh thành những xung động điện được xử lý bởi não bộ.
Thời gian nghe kéo dài làm mệt tai đồng thời làm cạn kiệt những dự trữ năng lượng của các tế bào. Phải để chúng nghỉ ngơi trong im lặng, tránh những “after” kéo dài lễ hội âm thanh. Dữ dội hơn là chấn thương âm thanh, sự vỡ thật sự của những tế bào tiêm mao của ốc tai…Thế mà trong tai không có gì được sửa chữa, dẫu sao vào lúc này, nhưng chúng ta hãy hy vọng rằng điều đó thay đổi trong tương lai trong thời gian trung hạn.
Cũng như đối với sự tiếp xúc với ánh nắng (cũng sinh ra một thế hệ bị hy sinh trong những năm 1970), việc tiếp xúc quá lâu, vào những giờ quá dữ dội, không được bảo vệ, trong vùng nhiệt đới, được thúc đẩy bởi áp lực xã hội và “le cool”, đó cũng là nhận một nguy cơ quan trọng. Tất cả những dữ kiện này cho thấy sự khẩn cấp gia tăng của vấn đề, một cách nghịch lý có lẽ ở những thanh niên lớn hơn những lão niên : trong khi tỷ lệ đeo máy của các lão niên, mặc dầu chưa đủ, đã tiến triển từ một thập niên này, giúp kiểm soát những tổn hại về trí tuệ (dommages cognitifs) của chứng điếc do tuổi già (presbyacousie), ngược lại, những thói quen nghe của các thanh niên trở nên trầm trọng thêm. Thính giác của dân Pháp ngày mai bị biến thái ngay chiều nay trong một buổi hoà nhạc, ngay ngày mai trong métro. Thế mà thật là dễ dàng tự bảo vệ để tránh cuộc sống khổ so với những tiếng ù tai và sự hiểu kém khi ở trong nhóm người và trong tiếng ồn.
Đã đến lúc phải hành động cho thính giác : điều tra phát hiện, nhạy cảm hóa bằng những chiến dịch “marketing d’idées” ở những người trẻ, như đã từng làm với niềm tin và hiệu quả những trào lưu sinh thái và aftermondialiste, hành động với những leader d’opinion. Một cuộc chiến tương tự và còn khó khăn hơn, cuộc chiến chống nhiễm độc thuốc lá thụ động, hiện đang thắng cuộc ; chúng ta phải làm như thế đối với thính giác. Chúng ta đừng để những thanh niên mất hôm nay những thú vui thính giác của ngày mai. ” Ta dễ dàng an ủi về sự biến mất của quá khứ ; nhưng chính sự biến mất của tương lai mà ta không lai tỉnh”;
(LE FIGARO 12/10/2015)

5/ NHỮNG TIẾNG Ù TAI ĐẾN TỪ ĐÂU ?
Những tiếng ù tai này hay những tiếng rít làm hỏng cuộc đời của 5 triệu người Pháp. Có mặt khắp nơi, chúng kéo dài vô tận trong đầu trong khi không có một âm thanh nào đến từ bên ngoài. Nguyên nhân của chúng (chấn thương tai, nhiễm trùng…) và nguồn gốc của chúng (ở tai, não hay cả hai ?) vẫn còn không được biết rõ. Vì vậy, thiếu những điều trị hiệu quả và, hôm nay, y khoa chỉ thành công làm thuyên giảm các bệnh nhân. Những tiếng ù tai mới xảy ra có thể được làm thuyên giảm nhờ một phương pháp tiêm một chất trực tiếp vào tai để phong bế hoạt động bất thường của dây thần kinh thính giác. Tuy nhiên tính hiệu quả chỉ trong chốc lát : hai ngày tiêm truyền loại bỏ những tiếng ù tai trong 15 ngày. Về những người mà hiện tượng này kéo dài hơn một năm, các thầy thuốc đặt hy vọng của mình lên kích thích điện qua sọ : một bobine-aimant được đặt trên bề mặt của sọ sẽ gởi một loạt những xung động từ để điều biến hoạt động của một vùng vỏ não thính giác mà ta biết là “tăng hoạt động” ở những người bị ù tai.
Không có điều trị chữa lành nhưng điều trị giảm triệu chứng.
(SCIENCE & VIE : QUESTIONS REPONSES ETE 2015)

6/ SỰ ĐỔI MỚI CỦA CƠ QUAN THÍNH GIÁC : MỘT THÁCH THỨC CỦA THẾ KỶ 21 ?

Dr YANN NGUYEN
ORL
Chef de clinique assistant
Hopital Pitié-Salpetrière, Paris

Điếc là một vấn đề xã hội. Hiện nay, 6 triệu người Pháp bị ảnh hưởng bởi phế tật này. Phế tật này sẽ khuếch đại với sự lão hóa của dân số. Ở những người già, điếc là một yếu tố bổ sung của tình trạng cô lập. Điếc của trẻ em gây nên những rối loạn phát triển và những khó khăn hội nhập hệ học đường nếu nó không được xử trí sớm. Trên bình diện kinh tế, điếc mắc phải ở người lớn gây nên những phế tật xã hội-nghề nghiệp có thể cần reclassemnt hay ngừng hoạt động.
Nguồn gốc của điếc được chia thành hai loại. Loại đầu tiên là điếc được gọi là dẫn truyền (surdité de transmission), hậu quả của một sự giảm lan truyền của sóng âm trong thành phần “cơ học” của tai (vành tai, ống tai ngoài, màng nhĩ và chuỗi các xương con). Trên nguyên tắc chung, điếc này có thể được tiếp cận với một điều trị vì ngoại khoa hay một điều chỉnh bởi audio-prothèse. Loại thứ hai là điếc được gọi là “tiếp nhận” (surdité de perception), hậu quả của một thương tổn của cấu trúc “thần kinh-giác quan” (neuro-sensorielle) của tai (cơ quan Corti ở ốc tai) và/hoặc những câu trúc hạ nguồn (dây thần kinh ốc tai, những đường thính giác trung ương) cho phép truyền thông tin âm thanh dưới dạng những tín hiệu điện đến tận não trong vùng vỏ não thính giác. Những cơ chế sinh học, nguồn gốc của điếc tiếp nhận thường do nhiều yếu tố và không hoàn toàn được làm sáng tỏ. Như thế không luôn luôn có thể xác lập một chẩn đoán nguyên nhân của sự mất thính giác.
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG PHẾ TẬT.
Trong số những nguyên nhân thường gặp nhất, ta có thể kể chứng điếc do tuổi già (presbyacousie), những chấn thương âm thanh ngắn ngủi (thí dụ khi bom nổ) hay mãn tính (những tiếp xúc lập lại của vài nghề nghiệp của công nghiệp hay của xây dựng), những trường hợp điếc do di truyền của trẻ em, nhưng cũng của người lớn, những nhiễm trùng mẹ-thai nhi (rubéole, cytomégalovirus, toxoplasmose) và những thuốc gây nhiễm độc ốc tai (như vài hóa trị). Một khi những tế bào của cơ quan Corti bị đánh mất, chúng không có năng lực tự sửa chữa hay đổi mới.
Hôm nay sự điều trị chứng điếc thần kinh-giác quan (surdité neuro-sensorielle) dựa vào sự phục hồi chức năng của phế tật hơn là điều trị nguồn gốc của rối loạn thính giác. Trong trường hợp điếc nhẹ hay trung bình, sự lắp bộ phận thính giác giả bằng audioprothèse là giải pháp hiệu quả nhất. Khi mức độ điếc nặng hơn hay sâu hơn, và khi sự tăng âm bởi audioprothèse trở nên không đủ để cho phép một sự giao tiếp bình thường, sự đặt một prothèse électronique được gọi là “implant cochléaire” có thể được thực hiện bằng phẫu thuật trong ốc tai. Loại thiết bị y khoa này cho phép một sự trao đổi tốt trong im lặng. Như thế, những trẻ sinh ra điếc nặng và được đặt vào khoảng năm 1 tuổi có thể thụ đắc ngôn ngữ và theo một scolarité bình thường nếu không có những phế tật quan trọng liên kết. Tuy nhiên, implant cochléaire đạt những giới hạn của nó trong trường hợp nói chuyện trong tiếng ồn (nhiều người, ở tiệm ăn…) hay khi nghe những âm thanh phức tạp (âm nhạc, những đối thoại bằng điện thoại di động). Vì lý đó này, tốt hơn là điều trị những quá trình bệnh lý nguồn gốc của chứng điếc hơn là “chỉ” bù sự mất thính giác.
TÁI SINH CƠ QUAN CORTI.
Trong trường hợp điếc tiếp nhận (surdité de perception), sự đổi mới của cơ quan Corti sẽ là giải pháp thích ứng nhất để tìm lại một thính giác tự nhiên và hiệu năng. Cơ quan này gồm có một liên kết những tế bào có những chức năng bổ sung nhau. Vậy sự đổi mới của nó không dựa trên một loại tế bào duy nhất. Vài động vật như các con chim bảo tồn một khuynh hướng tái sinh vài tế bào của cơ quan Corti. Năng lực này bị đánh mất ở những động vật có vú.
Công cuộc nghiên cứu xét đến hai phương pháp để đạt mục đích này. Phương pháp thứ nhất là thay thế những tế bào của cơ quan Corti bằng những tế bào gốc có khả năng phân chia để tái tạo những loại tế bào khác nhau cấu tạo cơ quan thần kinh-giác quan này. Những hạn chế của phương pháp này là thu thập khó những tế bào gốc từ những mô khác của bệnh nhân và sự kiểm soát sự phân chia của chúng thành những tế bào biệt hóa không được nắm vững. Phương pháp thứ hai là “đánh thức” những tế bào, bên trong cơ quan Corti, đã đánh mất tiềm năng phân chia của chúng. Điều đó cần sự sử dụng những yếu tố tăng trưởng hormone và biến đổi sự biểu hiện của vật liệu di truyền bằng cách phong bế sự biểu hiện của vài gène (thí dụ gène Notch) và kích thích sự biểu hiện của những gène khác (thí dụ gène Atohl). Như thế đã có khả năng tái sinh những cơ quan Corti trong những modèle thí nghiệm của những động vật nhỏ nhưng không ở tuổi trưởng thành.
Cái khó là ở chỗ không những trong sự lựa chọn những phối hợp các phân tử mà còn trong cách phát chúng ở một nơi chính xác của cơ quan thính giác, mà không làm tổn hại thêm nữa, với những liều và thời gian được kiểm soát. Trở ngại sau cùng này sẽ được vượt qua bởi sự phát triển những công cụ robot hóa, cho phép có được một sự chính xác ngoại khoa hơn là sự chính xác đã có được trong phòng mổ hàng ngày. Trong khi chờ đợi sự đạt tới tất cả những technologie này, việc bảo vệ tốt nhất vẫn là sự sử dụng một cách chừng mực những lecteur MP3 và tránh những chấn thương âm thanh trong lúc làm việc và trong lúc tiêu khiển để tránh một sự thoái hóa sớm của thính giác.
(LE FIGARO 12/10/2016)

7/ TESTOSTERONE Ở NGƯỜI GIÀ
Nồng độ testostérone trong máu ở người đàn ông giảm với tuổi tác, song song với năng lượng và hoạt động tình dục. National Institute of Health (Hoa Kỳ) đã bảo trợ 7 công trình nghiên cứu quy chiếu về chủ đề này trong 12 trung tâm Hoa Kỳ. Những kết quả của 3 thử nghiệm đầu tiên vừa được công bố : 790 người đàn ông, 65 tuổi hoặc hơn, có một nồng độ testostérone thấp, đã nhận mỗi ngày trong 12 tháng, một gel kích thích tố hay một gel placebo. Những định lượng nồng độ trong máu đã được thực hiện với những khoảng thời gian từ một, hai, ba, sau và chín tháng, cho thấy rằng điều trị đã bình thường hóa nồng độ testostérone ở 91 người tham dự, đã cải thiện khí chất của họ, libido của họ cũng như chức năng cương (nhưng ít hơn so với Viagra). Không một tác dụng phụ quan trọng nào đã được quan sát. Ta chờ đợi kết quả của những công trình nghiên cứu khác.
(PARIS MATCH 10/3-16/3/2016)

8/ SÓN TIỂU : PHÁT TRIỂN SỬ DỤNG TOXINE BOTULIQUE
GS Franois Haab, chirurgien urologue trong Groupe hospitalier Diaconesses Croix Saint Simon (Paris), giải thích những lý do sử dụng ngày càng thường kỹ thuật này, được đề nghị đối với tính tăng hoạt động bàng quan (hyperactivité de la vessie)
Hỏi : Ở phụ nữ, những dạng khác nhau của són tiểu là gì ?
GS Franois Haab : Loại thứ nhất được biểu hiện bởi một rò tiểu xảy ra khi gia tăng áp lực bụng (ho, hách xì hay khi ta chạy). Loại thứ hai tương ứng với một sự tăng hoạt động của thành bàng quang. Bàng quang co lại một cách không tự ý và quá mức, gây buồn tiểu đột ngột, khó, thậm chí không thể chế ngự.
Hỏi : Những rối loạn này có thường gặp không ?
GS Franois Haab : Ở Pháp, 2 đến 3 triệu đàn bà bị chứng són tiểu và ở 1/4 trong số họ, những són tiểu này rất gây phế tật. Mặc đầu thế, chỉ 1/3 các phụ nữ này dám nói điều đó với thầy thuốc của họ.
Hỏi : Vậy són tiểu vẫn là một chủ đề cấm kỵ ?
GS François Haab : Vâng. Ngoài ra, lúc khám bệnh, bệnh nhân tránh dùng chữ đó và thích nói rằng họ bị một vấn đề bàng quang.
Hỏi : Những nguyên nhân của loại thứ hai, tăng hoạt động bàng quang ?
GS François Haab : Trong đa số các trường hợp, ta không biết được nguyên nhân trực tiếp, trái với loại thứ nhất, són tiểu lúc gắng sức (incontinence d’effort), do một sự giãn của cơ vòng. Tình trạng tăng hoạt động có thể là triệu chứng của một bệnh bàng quang (polype, bệnh lý thần kinh như Parkinson…) Vài loại thuốc cũng gia tăng những nguy cơ.
Hỏi : Những phụ nữ bị rối loạn này có quản lý phế tật của họ được không ?
GS François Haab : Một cách khó khăn, bởi vì những cảm giác buồn tiểu đột ngột và không kiểm soát được tạo một phế tật xã hội quan trọng. Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, có một sự tự khép mình.
Hỏi : Điều trị hiện nay của những bệnh nhân này là gì ?
GS François Haab : Sau chẩn đoán lâm sàng xác nhận dạng tăng hoạt động, điều trị dựa vào sự sử dụng hàng ngày những anticholinergique nhằm ngăn cản những co bóp bất thường của bàng quang. Liên kết với điều trị hàng ngày này là những buổi phục hồi chức năng. Hôm nay khi điều trị thuốc tỏ ra không đủ, hay khi điều trị bị bỏ (bởi gần 1/2 các bệnh nhân) vì những tác dụng phụ của nó (bón, khô miệng và mắt..), ta xét đến việc đặt một ” pacemaker của bàng quang” hay, càng ngày càng thường hơn những mũi tiêm toxine botulique.
Hỏi : Dược phẩm này chủ yếu được biết để điều trị những vết nhăn của mặt ! Nó tác động như thế nào lên bàng quang tăng hoạt động ?
GS François Haab : Toxine botulique tác dụng lên bộ máy cơ và có nhiều chỉ định nội khoa. Trong những trường hợp tăng hoạt động bàng quang, nó phong bế những co bóp bất thường của cơ. Trước hết được chỉ định ở những bệnh nhân són tiểu vì những bệnh thần kinh, từ nay toxine botulique được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới ở rất nhiều bệnh nhân trong trường hợp thất bại điều trị thuốc.
Hỏi : Ông hãy mô tả cho chúng tôi protocole ?
GS François Haab : Dưới gây tê tại chỗ và kỹ thuật nội soi, thuốc được tiêm trực tiếp vào bàng quang. Mũi tiêm thứ nhất có liều lượng thấp để có thể quan sát phản ứng của bệnh nhân, nhằm cho liều thích đáng khi tiêm mũi thứ hai. Sự gia tăng dần dần của lượng thuốc cho phép giảm đến tối thiểu một sự phong bế tạm thời và hoàn toàn có thể đảo ngược của bàng quang.
Hỏi : Những kết quả là gì ?
GS François Haab : Những kết quả dương tính đầu tiên được biểu hiện giữa ngày thứ hai và thứ tư sau những mũi tiêm. Ở 2/3 những bệnh nhân, có sự biến mất hoàn toàn cảm giác thúc tiểu trong khoảng 6 tháng. Vậy điều trị phải được lập lại hai lần mỗi năm.
Hỏi : Những kết luận của những công trình mới nhất có xác nhận những kết quả này không ?
GS François Haab : Vâng, điều này giải thích sự sử dụng gia tăng của điều trị này, đã biến đổi chất lượng sống của hàng ngàn phụ nữ bị dạng són tiểu này.
Hỏi : Tóm lại, đối với bệnh tăng hoạt động bàng quang, những ưu điểm của toxine botulique là gì ?
GS François Haab :
1. Một tính hiệu quả lớn.
2. Điều trị ít gò bó, có thể được thực hiện ngoại trú và tránh dùng thuốc hàng ngày.
3. Một sự cải thiện rất rõ rệt chất lượng sống.
4. Ít nguy cơ bị những tác dụng phụ.
(PARIS MATCH 26/5-1/6/2016)

9/ TÌNH DỤC ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI GIÀ
Sandrine Cesaretti, phụ trách những projets o l’asbl Espace Seniors, đập vỡ những điều cấm kỵ
Hỏi : Sau 60 tuổi có phải là quan trọng khi vẫn còn có một tình dục ?
Sandrine Cesaretti : Tình dục (sexualité) góp phần cho sự thoải mái (bien-être) và sức khỏe cho mỗi người, dầu ở lứa tuổi nào. Ngoài ra, Tổ chức y tế thế giới định nghĩa sức khỏe nhục dục (santé sexuelle) như là một bộ phận của sức khỏe, của bien être, và của chất lượng sống trong toàn thể của chúng. Sự khoái lạc cực độ (orgasme), do tiết endorphine và oxytocine mà nó cung cấp, đóng một vai trò trong sự kiểm soát đau đớn, giảm stress hay chất lượng giấc ngủ. Thế mà từ những công trình nghiên cứu khác nhau, người ta cho rằng có những giao hợp đều đặn làm giảm những nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến và góp phần vào sự làm vững chắc xương và cơ ở đàn ông. Còn về các phụ nữ, một công trình nghiên cứu Bắc Mỹ đã chứng minh rằng những phụ nữ có một hoạt động tình dục khoảng 1 lần mỗi tuần có một nồng độ oestrogène cao hơn những phụ nữ khác. Vào lúc mãn kinh, các phụ nữ ít chịu những tác dụng của thời kỳ này hơn. Còn về những phụ nữ già hơn, một tình dục đều đặn cho phép bảo tồn trương lực (tonicité) của các cơ vùng đáy chậu và như thế đóng một vai trò phòng ngừa chứng són tiểu.
Hỏi : Tình dục của những người già có khác với tình dục của những người trẻ hơn ở chỗ nào ?
Sandrine Cesaretti : Đời sống tình dục tiến triển ở mỗi giai đoạn của cuộc sống. Trong khi những người trẻ nhất có thể nghĩ rằng một quan hệ tình dục “thành công” (relation sexuelle réussie) bắt buộc phải bao gồm pénétration và khoái lạc cực độ (orgasme), và đồng hóa tình dục (sexualité) với khả năng sinh đẻ (génitalité), còn đối với những người già, sensorialité (giác quan) có thể ưu thế hơn khả năng sinh sản và hướng nhiều hơn về một dimension relationnelle và émotionnelle. Tình dục hiện diện ở tất cả những lứa tuổi của cuộc đời. Những thay đổi được thực hiện, thế thì sao ? Những thích nghi có lẽ sẽ cần thiết để đương đầu với những thay đổi sinh lý, vật lý hay tâm lý. Nhưng nhiều lão niên nhất trí nói rằng mặc dầu những giao hợp thường ít thường xuyên hơn và khác hơn, nhưng chất lượng của quan hệ lại tốt hơn.
Hỏi : Về tình dục, những vấn để thường gặp phải khi lớn tuổi ?
Sandrine Cesaretti : Những người đàn ông có thể, y hệt như các phụ nữ, trải nghiệm những thay đổi kích thích tố. Andropause ảnh hưởng 30% đến 50% những người trên 55 tuổi. Một trong những hậu quả của andropause là giảm thực hành tình dục (pratique sexuelle). Những điều trị những rối loạn sinh dục ở đàn ông đa dạng và nhất thiết phải được bàn bạc với một thầy thuốc. Thật vậy, những điều trị khác nhau cần những thăm dò trước khi kê đơn nhằm xác định những chống chỉ định. Chúng cũng cần một thẻo dõi y khoa thường xuyên. Viagra có thể là một câu trả lời thích hợp cho những người đàn ông có những rối loạn cương. Những viên thuốc này chứa một phân tử sẽ tác dụng như một chất làm dễ sự cương cứng. Bên cạnh những viên thuốc xanh bé nhỏ này, cũng có những điều trị dùng kích thích tố nam (testostérone). Về phía phụ nữ, một trong những huyền thoại liên quan đến thời kỳ mãn kinh là những phụ nữ, vào thời kỳ đó của cuộc đời, không còn ham muốn tình dục nữa. Đó là hoàn toàn sai ! Thời kỳ mãn kinh có thể dẫn đến một sự giảm cũng như một sự gia tăng của dục tình (libido) nhưng không có nghĩa là chấm dứt hoạt động tình dục. Mỗi phụ nữ mỗi khác nhau và sẽ trải nghiệm sự diễn biến của thời kỳ mãn kinh theo cách của mình. Dầu thế nào đi nữa, những thích ứng của hormone và những thay đổi liên quan đến tuổi già có thể có một ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau lên những phản ứng tình dục. Những cảm giác khi kích dục, khi khoái lạc cực độ là khác nhau, tính đàn hồi của âm đạo giảm và thành âm đạo trở nên thanh mảnh. Sự bôi trơn cũng có thể bị chậm lại và ít dồi dào hơn. Vài phụ nữ cũng có thể bị khô âm đạo. Những dung dịch hiện hữu, như những thuốc bôi trơn hay làm ướt âm đạo, một giải pháp cho những cảm giác khó chịu khi giao hợp. Một điều trị kích thích tố thay thế cũng là một giải pháp.
(PARIS MATCH 19/5-25/5/2016)

10/ LÀM VIỆC KHÔNG HẠI CHO SỨC KHOẺ TRỞ THÀNH MỘT ƯU TIÊN.
TRAVAIL. Sự đau khổ tinh thần (souffrance psychique) nguồn gốc xã hội, nhất là trong lao động, đã trở nên một mối bận tâm quan trọng của xã hội chúng ta. Vài vụ tự tử ngoạn mục chỉ là phần nổi. ” Sự đau khổ xã hội (souffrance sociale) là névrose narcissique française to lớn “, nhà xã hội học Alain Ehrenberg, giám đốc nghiên cứu của CNRS đã không do dự xác nhận như vậy. Vả lại không phải là không có lý do.
Những nguy cơ tâm lý-xã hội có những bộ mặt khác nhau tùy theo nghề nghiệp thực hành. Thí dụ, một y tá hay một người hầu bàn phải đương đầu với những đòi hỏi cảm xúc mạnh, đồng thời kềm chế những cảm xúc riêng và làm nhẹ bớt những cảm xúc của những người được gặp. Một công nhân bị một sự thiếu giới hạn thao tác (marque de manoeuvre) trong công việc hơn.
” Những nghề nghiệp qualifié nhất xuất hiện, có vẻ phải đương đầu với những yêu cầu tâm lý-xã hội tương đối cao trong công việc, cũng như với những xung đột về giá trị thường gặp hơn, nhưng ít bị thiếu giới hạn thao tác (marge de manoeuvre) hơn, ít thiếu hỗ trợ xã hội hơn hay an toàn kinh tế hơn so với những nghề ít qualifié”. Ngoài những khu vực về hành chanh, y tế và xã hội, một người làm việc ăn lương trên bốn sợ bị mất việc làm.
Không ai nghi ngờ rằng việc làm là một nơi căng thẳng giữa những khát vọng của những người ăn lương và những yêu cầu của xí nghiệp. ” Khi sự căng thẳng này thấp, ông giải thích như vậy với Agence nationale pour l’amélioration des conditions de travail, ta có thể xét đến một quan hệ cả tin và apaisé của những người ăn lương với entreprise của họ”. Ngược lại nếu sự căng thẳng này quá mạnh, sức khỏe của người ăn lương bị khốn khổ.
Ngay năm 2005, một cuộc điều tra của Dares Analyses về những điều kiện làm việc nhấn mạnh gánh nặng của những yêu cầu nghề nghiệp. Một người hoạt động trên bốn cho rằng người ta đòi hỏi anh ta một lượng công việc quá mức một cách đều đặn. Cùng tỷ lệ phàn nàn thường phải ngừng một công tác để làm một công tác khác không được dự kiến” và một nửa những người hoạt động thường buộc phải “vội vã trong công việc của mình”
May mắn thay tất cả không là đen tôi trong thế giới việc làm.
Dares ghi nhận : ” công việc vẫn là một lieu de socialisation rất quan trọng đối với nhiều người”. Các đồng nghiệp phần lớn được đánh giá là “thân hữu”, sự tương trợ là một thực tế và “sự hỗ trợ của cấp trên cũng rất là hiện diện, mặc dầu một ăn lương trên bốn đánh giá rằng cấp trên của mình không giúp đỡ hoàn thành tốt công việc”.
(LE FIGARO 21/10/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(29/9/2016)

This entry was posted in Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s