Intensive care medecine số 8 – BS Nguyễn Văn Thịnh

NGỘ ĐỘC THUỐC TRỪ SÂU
(INSECTICIDES ORGANOPHOSPHORES ET CARBAMATES)

JEAN-LOUIS VINCENT
Chef du Service de Soins Intensifs
Hôpital Erasme, Bruxelles

Những thuốc trừ sâu này rất được sử dụng. Vài chất cùng loại đã được phát triển như khí chiến đấu độc thần kinh (gaz de combat neurotoxique) (Vx, Sarin, Tabun…) và là một bộ phận của đe dọa khủng bố sinh học (menaces bioterroristes). Đó là những chất ức chế acétylcholinestérase (AchE) của mô và những cholinestérase khác (trong đó có pseudocholinestérase huyết thanh), enzyme xúc tác sự thủy phân của acétylcholine thành choline và acétyl-CoA. Chúng được hấp thụ bằng mọi đường. Các triệu chứng là đa dạng và phản ảnh nhiều chức năng của acétylcholine, chất dẫn truyền thần kinh quan trọng của hệ thần kinh tự trị, của chỗ nối thần kinh-cơ (jonction neuromusculaire) và của hệ thần kinh trung ương. Được phóng thích ở tiền khớp thần kinh (présynapse), sự hiện diện của acétylcholine trong khớp thần kinh thường ngắn ngủi, nhờ hoạt tính của AChE.

I. NHỮNG TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA NGỘ ĐỘC.
Những biểu hiện độc tính được liên kết với sự tích tụ acétylcholine trong những khớp thần kinh.
– Những triệu chứng đầu tiên nói chung là muscarinique : đau quặn bụng, nôn, mửa, tiêu chảy, tăng tiết nước bọt, chảy nước mắt, ra nhiều mồ hôi, co thắt phế quản và tăng tiết phế quản, chịu trách nhiệm suy hô hấp. Co đồng tử, kèm theo rối loạn điều tiết và những dấu hiệu tim mạch (tim nhịp chậm và hạ huyết áp hay choáng trong trường hợp ngộ độc nghiêm trọng) hoàn chỉnh bệnh cảnh lâm sàng.
– Những dấu hiệu này một phần có thể bị chống lại bởi sự tăng hoạt tính của hệ giao cảm (hyperactivié orthosympathique) (tác dụng nicotinique) : tăng huyết áp, loạn nhịp nhanh.
– Sự tác động lên chỗ nối thần kinh-cơ (jonction neuromusculaire) được thực hiện qua hai thì : giai đoạn đầu kích thích (phase d’excitation), được liên kết với các giật rung cơ (myoclonies), trong vài giờ nhường chỗ cho giảm trương lực (hypotonie) và bại liệt, nhất là ở các cơ hô hấp.
– Sự tác động lên hệ thần kinh trung ương với thất điều (ataxie), co giật và hôn mê. Sự thương tổn trung ương làm gia trọng suy hô hấp, thứ phát co thắt phế quản và ứ tiết phế quản và là một nguyên nhân thường xảy ra của tử vong.
Một số tác dụng trì hoãn có thể xuất hiện :
– “ Hội chứng trung gian ” (syndrome intermédiaire) xuất hiện khá thường sau vài ngày ở những bệnh nhân đã có một ngộ độc cấp tính nghiêm trọng. Đó là một bại liệt gần (paralysie proximale), không bị ảnh hưởng bởi atropine và các oximes. Có thể cần thông khí hỗ trợ (assistance ventilatoire) trong vài tuần, nhưng sự hồi phục thường hoàn toàn. Sinh lý bệnh lý không được hiểu rõ : đó không phải là một bệnh thần kinh (neuropathie) nhưng là một thương tổn trước- và sau khớp thần kinh của dẫn truyền thần kinh-cơ.
– một bệnh cơ tim (cardiomyopathie), được kèm theo loạn nhịp tim. Điều trị triệu chứng.
– một bệnh thần kinh cảm giác-vận động (neuropathie sensitivomotrice) (OPIDN : organophosphate-induced delayed neuropathy), do thương tổn sợi trục (atteinte axonale). Bệnh có thể được liên kết với những thương tổn của tủy sống và hành tủy.

II. ĐIỀU TRỊ
Trước hết, phải đảm bảo cung cấp oxy và một thông khí đúng đắn. Sự đa tiết phế quản (bronchorrhée) đôi khi rất dồi dào đòi hỏi cho nhanh atropine 2mg tĩnh mạch và oxy bổ sung. Trong trường hợp thất bại điều trị, nội thông khí quản và hỗ trợ hô hấp phải được thực hiện nhanh chóng.
Sau đó, sự khử nhiễm (décontamination) được thực hiện càng nhanh càng tốt. Trong trường hợp tiếp xúc da, người ta sẽ tiến hành rửa dồi dào với nước xà phòng hay nước máy, sau khi đã lấy đi các quần áo (chú ý nhân viên điều trị !). Trong trường hợp uống vào lượng quan trọng, việc thực hiện rửa dạ dày là hợp lý nếu bệnh nhân đến viện trong thời hạn từ 1 đến 2 giờ sau khi uống và nếu bệnh nhân đã không mửa nhiều lần một cách ngẫu nhiên. Rửa dạ dày phải luôn luôn được thực hiện một cách hết sức thận trọng bởi vì thuốc trừ sâu thường dưới dạng dung dịch trong một hydrocarbure. Tốt hơn là nên đặt ống thông khí quản trước.
Có hai chất giải độc :
– atropine đối kháng các tác dụng mucarinique : sau một liều tiêm trực tiếp tĩnh mạch ban đầu 2 đến 4 mg, tiêm nhắc lại (thí dụ từ 10 đến 15 phút) cho đến khi gây nên những triệu chứng của nhiễm độc atropine (atropinisation). Hơn là giãn đồng tử và tim nhịp nhanh, sự khô của tăng tiết phế quản và sự biến mất của co thắt phế quản là những dấu hiệu đáng tin cậy. Những liều lượng lớn (100mg và hơn) đôi khi cần thiết, vì vậy tiêm truyền tĩnh mạch có thể được ưa thích hơn.
– các oxime tái hoạt hóa AchE : pralidoxime (Contrathion), cần cho chừng nào việc cho atropine là cần thiết.
Nói chung diazépam được liên kết để kiểm soát những biểu hiện cơ và các co giật.

References : LE MANUEL DE RANIMATION,SOINS INTENSIFS ET MEDECINE D’URGENCES. EDITION 2009. JEAN-LOUIS VINCENT.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(17/10/2010)
Review 14/9/2016

This entry was posted in Viết về Huế. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s