Thời sự y học số 405 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG RỐI LOẠN ÁM ẢNH-ÉP BUỘC : NHIỀU TIẾN BỘ
Nhiều rối loạn ám ảnh-ép buộc (TOC) đáp ứng với thuốc và tâm lý liệu pháp hành vi (psychothérapie comportementale) và những liệu pháp khác đang đến….COMPORTEMENT. Có một sự khác nhau lớn giữa việc đi trở lại để kiểm tra rằng ta đúng là đã đóng cửa và việc làm lại động tác nhiều lần, bị dày vò bởi một sự nghi ngờ không ngừng. Chính điều đó, một rối loạn ám ảnh-ép buộc hay TOC (trouble obsessionnel compulsif), và có hàng trăm rối loạn kiểu này. Cứ một trăm người thì có một đã là hay sẽ bị rối loạn này trong cuộc sống của mình. ” Những người này phải đối đầu với những ý tưởng gây lo lắng và tràn ngập (pensées préoccupantes et envahissantes) (những ám ảnh : obssession). Họ cảm thấy bị buộc phải, để đuổi chúng hay để ngăn cản chúng xuất hiện, tiến hành những nghi thức đặc biệt (compulsions), cuối cùng chiếm một chỗ to lớn : chiếm nhiều giờ trong một ngày. Dầu đó là kiểm tra, rửa, sắp xếp, xua đuổi hay tích lũy, điểm chung cho những rối loạn ám ảnh-ép buộc là chúng gây nên những nghi thức luôn luôn trái với sự lựa chọn tự do của người bị bệnh, GS Antoine Pelissolo, trưởng khoa tâm thần của bệnh viện Henri-Mondor (Créteil) và tác giả của ” Les Phobies, faut-il en avoir peur ? “, đã xác nhận như vậy.
Ngoài những TOC gây nên nghi thức có thể thấy được, nhưng đối với người thân không phải luôn luôn dễ để ý thức rằng có cái gì đó không ổn. Trong trường hợp ấy, nếu nghi thức là đếm trong đầu trước khi thực hiện một công việc để xua đuổi nỗi sợ hãi có thể làm hại một người thân, nhưng điều đó có thể bị xem như là một sự chậm chạp đơn thuần (đếm, điều đó làm chậm lại). ” Chính vì vậy, mọi thay đổi hành vi ở một người thân phải được báo động. Bỏ những hoạt động ngày xưa được đánh giá cao hay gặp những khó khăn ở trường học vì một sự chậm chạp bề ngoài là những dấu hiệu gián tiếp cổ điển. Những bệnh khác có thể có liên quan bởi vì những tín hiệu này không có gì đặc hiệu, nhưng điều đó không ngăn cản ta đặt câu hỏi với người thân của mình là có cảm thấy trở ngại bởi điều gì đó hay không và giải thích với người này rằng vài người bị những manie và điều đó có thể điều trị được, để làm cho người này thổ lộ mà không cảm thấy bị phán xét”, GS Pelissolo đã nhấn mạnh như vậy. Nếu, sau cuộc đối thoại này, nếu vẫn nghi ngờ về sự hiện diện khả dĩ của một TOC, điều đơn giản nhất là tiếp xúc với thầy thuốc điều trị để xác nhận chẩn đoán hay không. Không nên chờ đợi bởi vì nếu bị TOC, nguy cơ ăn sâu lại còn lâu dài hơn. Phải có một điều trị thật sự.
Đối với một nửa những người bị TOC, một kết quả tốt có được một cách dài lâu nhờ một thuốc chống trầm cảm sérotoninergique và/hoặc một tam liệu pháp hành vi. Như Marc Spund, chuyên gia tâm lý học lâm sàng đã giải thích, liệu pháp hành vi bắt đầu bằng một état des lieux : ” Người bị bệnh được yêu cầu ghi chép những ý tưởng xâm nhập (pensée intrusive) ám ảnh anh ta và những đáp ứng được thực hiện (rituel). Sau đó người bệnh sắp xếp chúng từ ít gây lo âu nhất đến gây lo lắng nhất. Vấn đề còn lại là thực hiện từng bước nhỏ, đi từ ám ảnh ít gây trở ngại nhất. Nếu sự ám ảnh dẫn đến một rituel, thí dụ đóng 4 lần cái ngắt điện, người bệnh cố buộc làm điều đó chỉ 3 lần, rồi, khi điều đó không tạo vấn đề, hai lần, và cứ như thế cho đến khi không cần điều đó nữa. Nhận thấy rằng không có gì nguy kịch xảy ra khi không theo đúng từng ly từng tý rituel của mình là điều thiết yếu. Vậy không thể đốt giai đoạn, nếu không, người bệnh sẽ chán nản và nghĩ rằng sẽ không bao giờ thành công được. Loại công việc này có thể cần nhiều tháng, nhưng khi có được một kết qua dương tính, kinh nghiệm cho thấy rằng kết quả sẽ dài lâu.”
Nếu lợi ích của những liệu pháp hành vi không còn cần phải chứng minh nữa, những hướng khác còn cần phải nghiên cứu. ” Thiền là một phần của những đợt sóng tâm liệu pháp mới “, GS Luc Mallet, thầy thuốc tâm thần thuộc CHU de Créteil và nhà nghiên cứu của Viện não và tủy sống ở la Pitié-Salpêtrière, chuyên viên của Fondation fondamental, đã nói như vậy. ” Thiền dường như đặc biệt hữu ích để lánh xa những tư tưởng ám ảnh.”
Những kỹ thuật mới còn có thể mang lại một sự hỗ trợ ở những mức độ khác nhau. ” Thí dụ, có thể tác động lên ám ảnh nghi ngờ nhờ một programme informatique de mise en situation.”
(LE FIGARO 16/3/2016)

2/ ” HÔM NAY CUỘC SỐNG CỦA CHÚNG TÔI ĐÃ ĐƠN GIẢN HÓA”
” Là thợ máy, có gia đình, bệnh TOC đã xuất hiện trong đời tôi trong khi tôi đã được 20 tuổi. Tôi đã phải kiểm tra tất cả. Trước hết ở nhà, rồi ở garage nơi tôi làm việc. Không thể kềm chế được. Và sau khi thầy thuốc điều trị của tôi chẩn đoán TOC, những người thân đã đã hướng tôi đến một hiệp hội của những người bị bệnh này, Aftoc (Association française de personnes souffrant de TOC) để tôi tìm một bác sĩ chuyên khoa. Tôi đã thử tất cả : liệu pháp hành vi (thérapie comportementale), các loại thuốc…Nhưng chẳng được gì : tôi thuộc về những trường hợp khó. Chính vì vậy, vào năm 2011, khi Aftoc cho đăng một thông báo của kíp của GS Maillet (ICM ở La Pitié-Salpetrière), tìm những người bị bệnh TOC nặng để thực hiện một thử nghiệm stimulation cérébrale profonde (kích thích vùng sâu của não), tôi đã không do dự. Can thiệp đã diễn biến tốt. Sau cùng, trong một năm, tôi đã đến Paris mỗi tháng để chịu những trắc nghiệm nhưng tôi không biết là tôi đã bị kích thích hay không (điều đó nằm trong protocole nghiên cứu). Trong thời gian đó tôi vẫn luôn luôn bị TOC. Vì những kết quả của công trình nghiên cứu là dương tính, nên bây giờ tôi được kích thích thường trực và, sau cùng, tôi có cảm giác đã trở nên bình thường như trước ! Tôi đã làm lại một stage về mécanique, bởi vì tôi mong muốn tìm lại việc trong lãnh vực này”, Cyril Bourguigon, 35 tuổi, đã giải thích như vậy. Đối với vợ ông cũng vậy, có một Cyril trước khi điều trị và một Cyril sau đó.. ” Hôm nay, cuộc sống của chúng tôi đã đơn giản hóa và Cyril đã bắt đầu làm lại nhiều điều.”
Hành trình của Léo Rocher, 22 tuổi, rất là khác : ” Những TOC của tôi đã bắt đầu khoảng 10 tuổi. Tôi đã phải lập đi lập lại những câu trong đầu tôi và trong một thứ tự chính xác. Càng ngày càng bị lôi cuốn, cho đến 8 giờ mỗi ngày ! Không ai thấy gì bất thường trong số những người thân cận của tôi, bởi vì điều đó không ngăn cản tôi gặp bạn bè, đi xe đạp,…nhưng tôi không lợi dụng những lúc này, bị cuốn hút bởi những câu mà tôi phải lập lại. Việc học của tôi bị ảnh hưởng, bởi vì thay vì tập trung vào những bài thi kiểm tra, tôi bị lôi kéo bởi rituel này.
GROUPE DE PAROLE
Cuối cùng tôi đã lung lay vào khoảng năm 20 tuổi lúc báo với cha tôi điều tôi từng cảm thấy. Ông ta đã tức khắc đi theo tôi để đến khám một thầy thuốc tâm thần và, về sau, tôi được hướng đến một clnique chuyên khoa ở Lyon. Tôi đã ở bệnh viện hai lần, mỗi lần 3 tháng, ở đây nhờ liệu pháp hành vi (psychothérapie comportementale) mà dần dần tôi đã học “décrocher” cái rituel theo đuổi đời tôi. Điều đó đã không dễ dàng buộc tôi đúng nói một câu nữa, rồi hai câu…nhưng điều đó rất có hiệu quả trong trường hợp của tôi. Nhân những ngày lưu lại ở bệnh viện, chủ tịch Aftoc đến trình bày hiệp hội của ông và điều đó là một déclic : sắp đến tôi sẽ làm sôi nổi một groupe de parole ở Valence để giúp những người khác. Tôi cũng muốn đi học lại để làm việc trong social. Vì bị bệnh TOC, tôi đã không bao giờ làm việc trong lãnh vực này.
(LE FIGARO 16/3/2015)

3/ TÌM NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG RỐI LOẠN NÀY SẼ ĐIỀU TRỊ CHÚNG TỐT HƠN
Những vùng của não hoạt động khác nhau ở những người bị bệnh TOC và những người không bị bệnh, đã được phát hiện. ” Chúng tạo thành những yếu tố của một mạng liên quan đến sự kiểm soát những hành động, những tư tưởng và lấy quyết định, đặc biệt có liên quan là những vùng vỏ nằm ở bề mặt của não và những cấu trúc nằm sâu như striatum. Một sự thiếu sót trao đổi (défaillance de communication) giữa những vùng này gây nên sự xuất hiện của những hành vi lập lại không thể kềm chế được. Một loạn năng như thế có thể là thực thể (structurel) nghĩa là do những bất thường của “cablages” giữa những vùng ở bề mặt của não và những vùng sâu. Vì những cablage này được thiết đặt trong thời thơ ấu, điều này khiến nghĩ rằng những TOC (ít nhất những TOC xuất hiện sớm) có thể do những bất thường của sự phát triển.
Về những TOC xuất hiện muộn hơn, ngoài một tính nhạy cảm di truyền, những cơ chế gần với những bệnh tự miễn dịch hay những biến cố đời sống gây chấn thương, nguồn gốc của fragilité cérébrale, có thể có liên quan “, GS Luc Mallet (ICM à Paris) đã xác nhận như vậy.
Vậy đằng sau những TOC, đúng là có những bất thường sinh học. ” Sức ép xã hội và môi trường không thể tự nó gây nên một TOC, mà nó làm dễ sự xuất hiện hay sự trầm trọng hóa của những rối loạn ở những người vulnérable. GS Antoine Pelissolo (CHU Créteil) đã xác nhận như vậy. Thí dụ, việc nhồi nhét quảng cáo chung quanh sự vệ sinh gây nên sự ám ảnh về sự sạch sẽ của họ và do đó họ là những người tiêu thụ lớn của những lingette jetable và những thuốc khử trùng.
MỘT SỰ NGHI NGỜ KHÔNG KỀM CHẾ ĐƯỢC
Vấn đề là còn phải hiểu sự nghi ngờ xâm nhập người bị bệnh TOC đến từ đâu : ” Sự nghi ngờ này hiện hữu ở mỗi chúng ta. Thí dụ, khi chúng ta nghi ngờ đã không đóng cửa kỹ, chúng ta sẽ kiểm tra nó, nhưng đối với chúng ta chỉ một lần là đủ. Tại sao quá trình này không đủ để làm an lòng bệnh nhân bị TOC ? Chúng ta đã nhận diện những mạng não khác dường như đóng một vai trò chủ yếu trong métacognition, nghĩa là năng lực hoài nghi và tư duy trên chính mình “, GS Mallet nói tiếp như vậy. Nhiều tiến bộ đã được thực hiện và những kỹ thuật mới sẽ còn cải thiện những điều trị.
(LE FIGARO 15/3/2015)

4/ IMPLANT ĐỐT SỐNG : HƯỚNG VỀ MỘT KỸ THUẬT AN TOÀN HƠN.
GS Charles Court, thầy thuốc ngoại chỉnh hình, chuyên khoa về cột sống của bệnh viện Bicetre, trình bày những lợi ích mong chờ bởi sự sử dụng những vis thông minh mới nhằm đảm bảo một cách chính xác sự đặt đúng của chúng.
Hỏi : Trong những trường hợp nào ta phải đề nghị một sự cố định các đốt sống (fixation de vertèbre) ?
GS Charles Court : Trong trường hợp gãy, biến dạng cột sống, đau quan trọng do một hư khớp gây nên một đè ép các dây thần kinh, di căn hay hao mòn các đĩa liên đốt sống (disque intervertébral).
Hỏi : Protocole ngoại khoa cổ điển của phẫu thuật đặt một implant đốt sống ?
GS Charles Court : Nguyên tắc là đưa vào một vis chiều dài 30 đến 45 mm vào trong hai cuống sống (pédicule) (phần xương) của đốt sống. Vis này dùng để nâng đỡ một thanh kim loại, thường bằng titane, ở cả hai bên của đĩa sống, sẽ giữ đốt sống.Trước khi implantation, với nhiều kiểm tra quang tuyến, ta sửa soạn đường đi của vis vào trong các cuống sống với một dụng cụ kim loại. Động tác này cần nhiều phim chụp X quang hay chụp cắt lớp vi tính để kiểm tra không có thủng xương. (Ta cũng có thể sử dụng một kỹ thuật sờ (technique de palpation) với một dụng cụ mảnh hơn, nhưng thủ thuật này không đáng tin cậy 100%). Sau khi đặt một implant, ta thực hiện một ghép xương và khi xương ghép cứng, đốt sống vĩnh viễn được hàn lại.
Hỏi : Với kỹ thuật mổ này, những khó khăn lớn nhất ở chỗ nào ?
GS Charles Court : Cuống sống (pédicule) có hình dáng của một cylindre có đường kính vài mm. 1. Khi ta vượt thành của nó, nguy cơ là làm thương tổn các dây thần kinh hay tủy sống. 2. Không được đặt đúng vào bên trong có thể gây nên một vấn đề giữ vis : matériel bị long ra, ngăn cản đốt sống liền lại. 3. Nếu ta đặt những vis quá dài ta có thể làm thuong tổn những mạch máu như động mạch chủ. 4. Trong những trường hợp nặng nhất, nhưng may mắn thay hiếm, một sự đặt vis không đúng có nguy cơ dẫn đến một bại liệt. Ta ước tính rằng 1% đến 3% những biến chứng là do những sai lầm của đường đi của vis. 5. Phẫu thuật này đặc biệt khó khăn trong trường hợp biến dạng cột sống (như một scoliose trong đó những đốt sống bị nghiêng và xoay) hay trong trường hợp mổ lại.
Hỏi : Đối với kip của bloc opératoire, những kiểm soát lập lại của X quang có những bất tiện hay không ?
GS Charles Court : Vâng, những tiếp xúc hàng ngày với các tia X có nguy cơ gây nên, những vấn đề sức khỏe mặc dầu mang một tablier chì. Thế mà nhiều kiểm soát X quang này kéo dài thời gian mổ.
Hỏi : Để việc đặt implant được an toàn, tiến bộ mới nhất là gì ?
GS Charles Court : Có hai tiến bộ quan trọng. Tiến bộ thứ nhất đă được thực hiện trong chụp hình ảnh y khoa với sự xuất hiện của navigation opératoire. Đó là một scanner cho phép thầy thuốc ngoại khoa thấy trực tiếp trên một màn anh diễn biến của việc đặt các vis. Nhờ “GPS” opératoire này, những động tác, với độ chính xác cực kỳ, không làm thương tổn một cấu trúc bên cạnh não. Tiến bộ lớn thứ hai là hiệu chính những vis mới được gọi là “thông minh”, bởi vì chúng hủy bỏ giai đoạn chuẩn bị của sự đưa implant intervertébral vào trong đốt sống.
Hỏi : Bằng cơ chế nào những vis thông minh này cho phép hủy bỏ giai đoạn chuẩn bị ?
GS Charles Court : Những vis này được trang bị một hệ thống điện tử, cho phép biết tức thời, không phải chuẩn bị ban đầu lộ trình của chúng, là chúng có được đặt đúng vị trí ở bên trong các cuống sống (pédicule) không. Với kỹ thuật này, ta đưa các vis vào trong đốt sống một cách trực tiếp và an toàn. Ưu điểm lớn khác : ta giảm những kiểm soát quang tuyến trong khi mổ, điều này rút ngắn thời gian. Hệ thống này là tiến triển của một technologie phát sinh cách nay vài năm từ cuộc gặp gỡ của một thầy thuốc ngoại khoa cột sống có uy tín, GS Ciaran Bolger, và một kỹ sư, Maurice Bourlion. Vị kỹ sư này đã đưa vào một áp dụng dầu hỏa nhằm phát hiện tính chất của một vật liệu phức tạp ở đầu của một ông thăm dò.
Hỏi : Cho đến nay ta đã có được những kết quả nào với những vis thông mình này ?
GS Charles Court : Những công trình nghiên cứu được thực hiện với nhiều trung tâm châu Âu đang được tiến hành trên hàng trăm bệnh nhân. Những kết quả đầu tiên rất đáng phấn khởi, bởi vì ta đã có thể chứng thực một sự đặt tối ưu của các vis.
(PARIS MATCH 24/3-30/3/2016)

5/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO : NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA ?
Một công trình nghiên cứu Nhật bản của đại học Kyoto lôi kéo sự chú ý về sự mất khả năng thăng bằng khi đứng trên một chân trong hơn 20 giay. Dấu hiệu này có thể loan báo sự xuất hiện trong thời gian dài hạn của một tai biến mạch máu não hay một sa sút trí tuệ thuộc loại Alzheimer. BS Yasuharu Tabara đã tuyển mộ 841 phụ nữ và 546 người đàn ông tuổi khoảng 67. Người ta yêu cầu họ đưa một chân lên và giữ thăng bằng trong 60 giây, mở hai mắt và lập lại bài tập. Thời gian tốt nhất của hai thử nghiệm được ghi nhớ. Sau đó não bộ của họ được phân tích bởi chụp cộng hưởng từ. Những thương tổn của vi tuần hoàn não đã được phát hiện ở những bệnh nhân đã có được những kết quả xấu nhất lúc trắc nghiệm thăng bằng (hơn 1/3 trong số những bệnh nhân tham dự). Theo BS Tabara, Sự đánh giá này có thể đưa đến một thăm dò X quang và nhận thức (exploration cognitive) của những bệnh nhân yếu ớt.
(PARIS MATCH 8/1-14/1/2016)

6/ HƯ KHỚP : MỘT IMPLANT ĐỂ LÀM TÁI SINH SỤN
GS Nadia Benkirane-Jessel, giám đốc nghiên cứu o Inserm và của đơn vị nanomédeicine régénérative ostéoarticulaire et dentaire, thuộc đại học Strasbourg, giải thích chức năng của một implant khớp mới, “vivant”, nhằm tái tạo một khớp bị thương tổn.
Hỏi : Bà hãy nhắc lại chức năng của sụn trong một khớp xương ?
GS Nadia Benkirane-Jessel : Sụn là một mô liên kết mềm, không được phân bố mạch máu lẫn thần kinh, nằm giữa hai bề mặt xương của khớp. Bằng cách ngăn cản sự cọ sát của hai bề mặt này, sụn ngăn cản mọi sự ăn mòn và cho phép chúng trượt lên nhau.
Hỏi : Trong trường hợp hư khớp, sụn bị thoái hóa như thế nào ?
GS Nadia Benkirane-Jessel : Sụn bị mỏng và dẹt đi, và dần dần thành hình một sự cọ sát tiến triển giữa các phần xương của khớp. Bởi vì khớp được phân bố thần kinh và mạch máu, do đó xuất hiện những hiện tượng viêm với những triệu chứng đau và trở ngại cơ năng ở khớp liên hệ.
Hỏi : Sự thoái hóa này có thể tiến triển như thế nào ?
GS Nadia Benkirane-Jessel : Sụn có nguy cơ càng ngày càng biến mất, bởi vì nó không tái sinh, và đau khi đó trở nên không thể chịu được, ngay cả có thể dẫn đến một invalidité khi, đó là một hư khớp gối, thí dụ, sẽ ngăn cản bệnh nhân bước. Vậy điều rất quan trọng là can thiệp trước khi sụn bị thoái hóa toàn bộ.
Hỏi : Hôm nay, ta xử trí như thế nào ?
GS Nadia Benkirane-Jessel : Các rhumatologue bắt đầu thực hiện tiêm ngấm (infiltrations) vào trong khớp những thuốc kháng viêm để làm giảm đau, nhưng nói chung cần lập lại chúng một cách đều đặn. Chiến lược khác : tiêm acide hyaluronique (thành phần của sụn), những tế bào gốc được lấy trong tủy xương và mô mỡ (luôn luôn để làm giảm đau). Cơ chế là làm tiết những phân tử kiểm soát viêm và làm chậm sự thoái hóa của sụn. Nhưng vấn đề là ta không thành công làm tái sinh nó. Khi đó ta có thể đề nghị một giải pháp cuối cùng : đặt một prothèse.
Hỏi : Những khớp bị thương tổn nhất bởi căn bệnh thoái hóa này là gì ?
GS Nadia Benkirane-Jessel : Những khớp của gối (gonarthrosse), của háng (coxarthrose), của bàn tay ; ít gặp hơn, của cột sống, ở vùng thắt lưng (lombarthrose). Hư khớp vai nói chung là do một chấn thương.
Hỏi : Ta có xác định được nguyên nhân của sự thoái hóa này của sụn không, và có những người bị tố bẩm không ?
GS Nadia Benkirane-Jessel : Có những yếu tố di truyền, nhưng một trong những yếu tố quan trọng nhất là sự lão hóa. Quá trình hư khớp cũng phát triển ở những người hypersportif sau một chấn thương.
Hỏi : Bà đã hiệu chính một implant để làm tái sinh sụn. Thành phần của nó là gì ?
GS Nadia Benkirane-Jessel : Implant này gồm hai ngăn. Ngăn thứ nhất là một membrane nanofibreuse được cấu tạo bởi collagène và một polymère có những nanoréservoir chứa những yếu tố tăng trưởng xương. Ngăn này có nhiệm vụ làm dễ sự sửa chữa xương. Ngăn thứ hai là một lớp hydrogel chứa acide hyaluronique và những tế bào gốc lấy trong tủy xương của bệnh nhân để tái sinh sụn. Mục đích là đạt được, bằng một quá trình tự nhiên, một sự sữa chữa toàn bộ khớp. Ta có thể so sánh implant này với một tartine gồm hai lát cắt bánh mì, được ngăn cách bởi một lớp lát cắt bánh mì (confiture). Những tế bào gốc được đưa vào trong hydrogel có vai trò của confiture. Điều quan trọng của phương pháp này là ta điều trị đơn vị “xương-sụn” chứ không chỉ là sụn.
Hỏi : Thiết bị của ông được dùng để đặt trong một khớp nhất định ?
GS Nadia Benkirane-Jessel : Hiện nay, đó là khớp gối. Nhưng, trong trường hợp có kết quả tốt ở người, chúng tôi nghĩ có thể sử dụng nno cho những khớp khác. Những đối tượng nghiên cứu của chúng tôi cho đến nay là những động vật : các con cừu cái, các con chuột…Các kết quả, rất đáng phấn khởi, đã được công bố trong hai tạp chí khoa học uy tín : ” Trends in Biotechnology” và “Nanomedicine”. Chúng tôi đang chờ đợi những tài trợ để bắt đầu giai đoạn I ở người. Kíp của chúng tôi vừa thành lập một start-up : Artios Nanomed SAS. Nếu chúng tôi nhận được những kinh phí được dự kiến, công trình nghiên cứu này sẽ bao gồm 62 bệnh nhân có một thương tổn của đầu gối, được thực hiện trong 3 nước, trong đó có nước Pháp.
(PARIS MATCH 7/7-12/7/2016)

7/ GIỚI TÍNH GIA TĂNG ÍT NGUY CƠ TIM
Làm tình một cách đều đặn sau một nhồi máu cơ tim làm giảm một nửa nguy cơ bị những rối loạn mới của tim.CARDIOLOGIE. Ngày chủ nhật 27 tháng giêng năm 1979, ta được tin về cái chết của Nelson Rockfeller, 70 tuổi, xảy ra một cách đột ngột trong khi ông làm việc ở văn phòng của ông ở Manhattan. Thật ra, 4 ngày sau nổ ra một scandale: chính trong vòng tay của một cô phụ tá 35 tuổi đã xảy ra cơn khoái lạc cực độ chết người.
Những nguy cơ tim của những cuộc dan díu tình dục ngoài giá thú đã được biết từ lâu mặc dầu phải đợi năm 1963 khi một thầy thuốc pháp y Nhật, GS Ueno, lần đầu tiên công bố những kết quả của 34 trường hợp giải phẫu tử thi những nạn nhân “chết đột ngột lúc giao cấu” : 25 xảy ra trong một phòng khách sạn và 5 ngoài nơi cư trú. Những người chết trung bình lớn hơn partenaire của mình 18 tuổi.
Hai công trình nghiên cứu được công bố năm 2006, một của Trung tâm pháp y của đại học Kyungpook, ở Đại hàn, một của bệnh viện đại học Francfort ở Đức, đã tính tỷ lệ tử vong sau một hoạt động tình dục trong số những séries giải phẫu tử thi vì chết đột ngột. Điều đó chiếm 14 trường hợp trên 137 (1%) ở Đại hàn và 68 trên 32.000 (0,22%) ở Đức.
Trong tạp chí Forensic Science, Medicine and Pathology, GS Markus Parzeller (công trình nghiên cứu của Francfort), trình bày chi tiết những trường hợp chết trong số 68 trường hợp tử vong : ” 10 người đàn ông trong lúc thủ dâm, 5 trong lúc được thủ dâm bởi paretnaire của họ, 3 trong một fellation, một trong một strip-tease, 4 trong một massage érotique, hay trong vòng tay của cô điếm và ba trong giai đoạn chuẩn bị hay trước khi pénétration.”
Các công trình nghiên cứu đã đánh giá những biến đổi sinh lý xảy ra khi giao hợp, nhưng không có sở thích gì đặc biệt, ngoại trừ vài tư thế cơ bản, và không tìm thấy những thay đổi lớn về mặt tác động tim mạch. Tuy nhiên các thầy thuốc tim nhắc lại rằng phải ngừng hoạt động tình dục nếu những triệu chứng xuất hiện (đau ngực, khó chịu, chóng mặt, khó thở..) và kiêng cử khi ta mệt hay sau một bữa ăn dồi dào.
AHA khuyến nghị những người đàn ông mang défibrillateur implantable (DI) ưu tiên những tư thế trong đó người đàn bà ở trên hay ở phía bên (“petite cuillère”). Tư thế sau cùng này cũng được khuyên ở những phụ nữ mang DI và tư thế nằm ngửa chân buông thỏng ở cạnh giường với một partenaire qùy ở chân giường.
Đỉnh cao của tần số tim đạt được vào lúc khoái lạc cực độ, trong khi đỉnh cao của huyết áp xảy ra 10 phút sau và sự trở lại bình thường có thể cần đến hai giờ. Các thầy thuốc pháp y Đức đã nêu lên rằng ” phần lớn các trường hợp tử vong xảy ra trong những cuộc dan díu tình dục ngoài giá thú (39 trường hợp), hoặc với một nhân tình (10 trường hợp), hoặc với một cô điếm (29 trường hợp)”. Họ cũng ghi nhận rằng phần lớn các trường hợp tử vong xảy ra ở những người đàn ông với tỷ lệ 63 đối với 5 phụ nữ.
Trong những khuyến nghị năm 2013, ủy ban những chuyên gia của Hiệp hội tim Hoa Kỳ khuyến nghị một cách thận trọng : ” Hoạt động tình dục trong một môi trường thuận lợi, trong một căn phòng có một nhiệt độ thoải mái và với partenaire thường lệ mang lại ít stress hơn cho tim.”
Làm tình sau một nhồi máu cơ tim có thể tỏ ra gây lo lắng cho những người đang lại sức và đối với những partenaire của họ ! Tuy vậy, công trình nghiên cứu vừa được công bố tháng này trong Journal of The American College of Cardiology trấn an những người lo lắng nhất.
Thật vậy, GS Dietrich Rothenbacher và những đồng nghiệp của ông ở đại học Ulm ở Đức đã phân tích trong 10 năm nguy cơ chịu một tai biến tim mới trong một hoạt động tình dục có hay không có partenaire.
Đó là một nhóm gom 536 người đàn ông và phụ nữ từ 30 đến 70 tuổi (trung bình 57 tuổi) đã bị một nhồi máu cơ tim. Kết quả : so với những bệnh nhân hoạt động tình dục dưới 1 lần mỗi tuần, những bệnh nhân hoạt động tình dục ít nhất một lần mỗi tuần giảm một nửa nguy cơ bị tai biến tim. ” Thông tin này hẳn làm an lòng cả bệnh nhân lẫn partenaire “, các thầy thuốc người Đức đã viết như vậy.
(LE FIGARO 28/9/2015)

8/ STATINES : NHỮNG TÁC DỤNG CÓ LỢI LÊN VÀI UNG THƯ ?
Tính hiệu quả của các statines, thuốc chống cholestérol, đã được xác lập và xác nhận bởi những viện tim học quốc tế uy tín nhất. Nhiều công trình đã chỉ rằng các statines làm giảm nguy cơ xuất hiện của vài khối u rắn (tumeur solide). Một công trình nghiên cứu của Anh (đại học Birmingham) đã theo dõi trong 13 năm 5481 phụ nữ bị ung thư vú, 4629 đàn ông bị ung thư tuyến tiền liệt. 7997 và 4570 người của hai giới tính lần lượt bị một ung thư phổi và ruột. Bằng một tác dụng còn chưa được biết rõ, tỷ lệ tử vong đã giảm ở những người được điều trị với statines, so với những người không dùng chúng : giảm 22% đối với ung thư phổi, 43% đối với ung thư vú, 47% đối với ung thư tiền liệt tuyến, 30% đối với ung thư ruột !
(PARIS MATCH 28/7-3/8/2016)

9/ UNG THƯ : MỘT VỆ SINH ĐỜI SỐNG TỐT TRÁNH MỘT TRƯỜNG HỢP TỬ VONG TRÊN HAI
Thuốc lá, rượu, béo phì, nhàn rỗi không hoạt động : chỉ một mình chúng, 4 yếu tố nguy cơ này chịu trách nhiệm một nửa những trường hợp tử vong do ung thư.ONCOLOGIE. Khi lần đầu tiên những nhà thống kê người Anh, Bradford Hill và Richard Doll đã xác nhận thuốc lá là nguyên nhân chính của ung thư phổi, ông chủ của cơ quan nghiên cứu Anh, sir Harold Himsworth, đã khuyến nghị họ kiểm tra lại kết quả này trước khi công bố, bởi vì điều đó rất là quan trọng. Cuối cùng những nhà thống kê công bố công trình nghiên cứu của họ ngày 30/9/1950, 4 tháng sau khi hai thầy thuốc ngoại khoa Hoa Kỳ (Wynder và Graham) đã đi đến cùng kết luận trong Journal of the American Medical Association (Jama)
Nhưng thuốc lá không phải là kẻ thù duy nhất của y tế cộng đồng. Hôm nay, chính trong ấn bản của Jama chuyên về ung thư (Jama Oncology) mà hai nhà dịch tễ học của trường y tế công cộng uy tín của Harvard (Boston, Hoa Kỳ), Mingyang Song và Edward Giovannucci, công bố một công trình nghiên cứu làm sáng tỏ về vai trò của ba yếu tố nguy cơ khác trong ung thư, bằng cách dùng lại phương pháp luận về “risque attribuable”, đã cho phép sir Richard Doll chứng minh, vào năm 1981, rằng 9 trường hợp ung thư phổi trên 10 là do thuốc lá.
Đối với BS Frédéric Le Guillou, thầy thuốc chuyên về bệnh phổi ở La Rochelle và chủ tịch của hiệp hội BPCO (bệnh phế quản phổi tắc nghẽn mãn tính), thuốc lá vẫn đúng là kẻ thù số 1. ” Đó là sản phẩm tiêu thụ thông thường duy nhất được cho phép, cứ hai người thì giết chết một trong số những người tiêu thụ và ở Pháp chiếm 78.000 trường hợp tử vong, trong đó 30.000 ung thư phế quản-phổi vào năm 2014″, ông đã nhấn mạnh như vậy. Trên quy mô thế giới, ta ước tính rằng thuốc lá đã giết 100 triệu người vào thế kỷ XX. ” Và nếu không làm gì hết, nó sẽ giết một tỷ người vào thế kỷ XXI, thầy thuốc chuyên khoa phổi nói thêm như vậy. Tỷ lệ tử vong do thuốc lá trên thế giới, đó là tương đương với sự rơi của 18 Airbus A 380 mỗi ngày.”
Nếu phần có thể quy cho thuốc lá trong nguy cơ ung thư phổi, được tính bởi Song và Giovanucci, lần này chỉ là 80%, hai nhà nghiên cứu đã thêm vào thuốc lá 3 tham số khác : rượu, béo phì và thiếu hoạt động vật lý. 4 yếu tố nguy cơ khảo sát được chọn lựa kỹ “, GS Catherine Hill, chuyên khoa dịch tễ học thuộc Viện Gustave-Roussy đã giải thích như vậy. ” Ở Pháp, nếu ta lấy những nguyên nhân của ung thư theo thứ tự tầm quan trọng, ta sẽ lấy một cách chính xác cùng những yếu tố.”
Song và Giovannuci đã tính toán rằng một nửa những ung thư có thể tránh được nếu có một vệ sinh đời sống tốt. Trước hết , không hút thuốc hay đã hút dưới 5 gói mỗi năm (nghĩa là không hơn 1 gói mỗi ngày trong 5 năm hay 1/2 gói mỗi ngày trong 10 năm). Sau đó tránh rượu, trong tất cả mọi trường hợp không hơn một liều rượu mỗi ngày đối với phụ nữ và hai liều đối với đàn ông. Đối với thể trọng (corpulence), mức không được đặt ở 25 IMC (indice de masse corporelle), như trong nhiều công trình nghiên cứu, mà ở mức 27,45 IMC, điều này cho phép thêm vài kg. Sau cùng, các tác giả đã lấy lại mức hoạt động vật lý thường được khuyến nghị, hoặc ít nhất 1 giờ 15 hoạt động cật lực mỗi tuần hay 2 giờ 30 hoạt động vừa phải.
Tuy nhiên các tác giả loại bỏ ra khỏi những phân tích của họ vài loại ung thư “bởi vì chúng rất liên hệ với những yếu tố môi trường khác với những yếu tố được xét đến trong công trình nghiên cứu này, như sự tiếp xúc với những tia tử ngoại, những nhiễm trùng, sự chiếu phóng xạ và sự tiếp xúc với những chất sinh ung thư “. Đó là trường hợp của những ung thư da, của não hay của máu. Công trình nghiên cứu được thực hiện ở hai nhóm, một nhóm gồm 89.571 người đàn ông và nhóm kia gồm 46.339 đàn ông.
” Đó là một công trình tuyệt vời, GS Hill đã kết luận như vậy. Ông tự vấn. Khi nào dân chúng sẽ hiểu rằng bằng cách từ bỏ thuốc lá (hơn 30% những người nghiện thuốc lá hiện nay), bằng cách giảm mạnh rượu (2,6 ly mỗi người trưởng thành và mỗi ngày hiện nay nếu ta chia toàn bộ rượu được uống trong tất cả những người 15 tuổi và hơn), bằng cách tránh béo phì và bằng cách có một hoạt động vật lý đủ, ta thu giảm rõ rệt nguy cơ ung thư của mình ? ”
Một vệ sinh đời sống đạo hạnh làm giảm 12% tỷ lệ tử vong bởi ung thư vú nhưng dường như ít ảnh hưởng sự xuất hiện của những ung thư này (- 4% tỷ lệ xuất hiện) ” Điều đó không gây ngạc nhiên lắm bởi vì không phải những yếu tố nguy cơ cổ điển của ung thư vú được xét đến trong công trình nghiên cứu này, BS William Jacot, oncologue sénologue thuộc viện ung thư Montpellier đã giải thích như vậy, trái lại nhiều công trình nghiên cứu đã báo cáo một tiên lượng tốt hơn đối với những bệnh nhân không béo phì và đối với những bệnh nhân có một hoạt động vật lý quan trọng hơn. Vậy hoàn toàn hợp lý rằng sự cải thiện tỷ lệ tử vong là quan trọng hơn nhiều sự cải thiện tỷ lệ mắc bệnh. Đối với ung thư vú, công tác điều tra phát hiện vẫn là điều không thể tránh được.”
(LE FIGARO 30/5/2016)

10/ UNG THƯ VÚ VÀ VITAMINE D
Vài công trình nghiên cứu đã gợi ý rằng một sự thiếu hụt vitamine D có thể làm cho ung thư vú ác tính hơn và tạo điều kiện cho sự khuếch tán. Một ê kíp nghiên cứu của đại học Standford ở Californie, được điều khiển bởi BS Brian Feldman, đã muốn kiểm tra giả thuyết này. Trước hết các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng ung thư vú chuột ít được nuôi dưỡng vitamine D có một sự tăng trưởng nhanh chóng và di căn thường hơn ung thư vú của chuột có một cung cấp vitamine D bình thường. Sau đó kíp nghiên cứu đã khám phá rằng một sự thiếu hụt vitamine D kích thích tác dụng của một gène được gọi là ID1. Gène này tạo điều kiện cho sự tiến triển có hại này và bị ức chế bởi vitamine D. Gène này cũng hiện diện ở phụ nữ : sự xem xét những tế bào ung thư được lấy ở những bệnh nhân bị mổ vì một ung thư vú đã cho thấy rằng cứ mỗi gia tăng 10 ng nồng độ vitamine D tương ứng một sự giảm 20% tỷ lệ gène ID1 trong các khối u.
(PARIS MATCH 24/3-30/3/2016)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(3/9/2016)

This entry was posted in Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s