Thời sự y học số 404 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ TÌNH TRẠNG TIỀN UNG THƯ CỦA THỰC QUẢN
Ta có thể dễ dàng phát hiện một tình trạng tiền ung thư của cơ quan này.
GASTROENTEROLOGIE. ” Những tiến bộ của nội soi hôm nay cho phép phát hiện tốt hơn sự hiện diện của một bệnh thực quản bị rút ngắn từ bên trong (endobrachyoesophage : EBO) nhưng cũng điều trị nó trước khi nó có thể tiến triển thành một ung thư “, GS Thierry Ponchon, trưởng khoa hépato-gastro-entérologie của bệnh viện Edouad Herriot ở Lyon.Ít được công chúng biết đến, bệnh thực quản bị rút ngắn từ bên trong (EBO) (mà những Anglo-Saxon gọi là ” thực quản Barrett”) là một biến đổi tương đối thường gặp của niêm mạc thực quản. Sự biến đổi này, trong một số nhỏ các trường hợp, có thể tiến triển dần dần về một adénocarconome.
Từ nay ung thư này của thực quản là ung thư có tỷ lệ mắc bệnh gia tăng nhanh nhất trong các nước phương Tây : liên kết với sự biến đổi của những lối sống của chúng ta, hôm nay nó 10 lần thường gặp hơn so với cách nay 30 năm và vượt quá carcinome épidermoide thực quản, chủ yếu là do thuốc lá. Trong 80% các trường hợp, một thực quản Barrett được tìm thấy trong thực quản của những bệnh nhân bị ung thư với, như là yếu tố nguy cơ chính, sự hiện diện của một hồi lưu dạ dày-thực quản cũ và đề kháng với những điều trị. Hồi lưu dạ dày-thực quản đang gia tăng hằng định, liên hệ với sự tiêu thụ bữa ăn mỡ và thiếu hoạt động vật lý.
Tuy nhiên, hồi lưu dạ dày-thực quản không luôn luôn gây triệu chứng, nhất là từ khi xuất hiện những inhibiteur de la pompe à protons (thuốc kháng bơm proton), và một phần của chiến lược chống lại adénocarcinome thực quản dựa trên sự phát hiện sớm thực quản Barrett bằng cách nhằm vào những bệnh nhân có nguy cơ cao nhất bị hồi lưu. Mặc dầu chứng hồi lưu này không gây triệu chứng, nhưng phải được chú ý những người đàn ông, tuổi trên 50, có một cái bụng béo tròn, nhất là lại hút thuốc hay một thành viên khác của gia đình cũng bị bệnh.
Khoảng 10% những người đàn ông này có một thực quản Barrett, thường có thể thấy được lúc làm nội soi và, nhất là nếu những triệu chứng hồi lưu hiện diện và/hoặc nếu hồi lưu đề kháng với điều trị với những thuốc kháng proton, thầy thuốc sẽ cho thực hiện một endoscopie haute. Ngoài ra, nhiều thực quản Barrett được phát hiện trong khi làm nội soi vì những nguyên nhân khác : thật vậy, bệnh lý này phải được tìm kiếm một cách hệ thống khi thực hiện thăm dò này.
Tổng cộng, những công trình nghiên cứu vừa qua cho thấy rằng giữa 1,5 và 2% dân chúng bị ảnh hưởng bởi thực quản Barrett. Mỗi năm, sự tìm kiếm EBO đưa đến sự phát hiện khoảng 10% trong số những trường hợp adénocarcinome của thực quản được chẩn đoán mỗi năm, luôn luôn ở một giai đoạn sớm hơn là khi những triệu chứng được cảm thấy.
Nội soi cho phép thấy sự biến đổi của niêm mạc thực quản, màu hồng nhạt, được biến hóa qua quá trình dị sản (métaplasie) thành niêm mạc ruột, đỏ hơn : đó là thực quản Barrett (EBO).Có thể rằng sự biến hóa này xảy ra sau những tấn công acide mà thực quản chịu trong trường hợp hồi lưu dạ dày-thực quản. Một phần của những tế bào mới này có thể tiến triển và trở thành bất thường rồi ung thư, mỗi giai đoạn được thực hiện theo một quá trình không được biết rõ nhưng nhịp độ là khá cố định.
Nguy cơ tiến triển tỷ lệ với kích thước và dáng vẻ của phần thực quản bị ảnh hưởng bởi quá trình dị sản (métaplasie). ” Tiến triển được thực hiện theo nhịp 1% mỗi năm đối với sự chuyển của thực quản Barrett thành loạn sản cấp độ thấp rồi loạn sản cấp độ cao và sau cùng thành ung thư “, GS Marc Barthet, thầy thuốc ngoại khoa của khoa dạ dày-gan-ruột và chuyên khoa ung thư tiêu hóa của bệnh viện Bắc Marseille, đã nhấn mạnh như vậy.Những ống nội soi mới có ánh sáng trắng với độ xác định cao, từ nay là chuẩn mực, đủ để nhìn thấy niêm mạc bị biến hóa và ngay cả những vùng ở đó một loạn sản có thể hiện diện. Một sinh thiết được thực hiện ở nơi này. Nếu kết quả dương tính hay nghi ngờ, một nội soi thứ hai có thể được thực hiện, nếu có thể trong một trung tâm chuyên môn, với một protocole sinh thiết tiêu chuẩn hóa và một lecture anatomopathologique double, trong có được đọc bởi một chuyên gia.
Đó là nhận diện mức độ tiến triển của các tế bào, tương quan trực tiếp với nguy cơ tiến triển thành một ung thư và, nếu có dịp, những vùng trên đó điều trị sẽ được thực hiện. Cũng như đối với ung thư cổ tử cung, rất thường có khi những tế bào bất thường được loại bỏ bởi cơ thể : vậy điều trị tất cả những bệnh nhân ngày khi một loạn sản được phát hiện là điều vô ích, nhưng một prélèvement đều đặn cho phép kiểm tra rằng những tế bào không tiến triển về giai đoạn tiếp theo.
Những khuyến nghị theo dõi của SFED, được xác lập vào năm 2007, hôm nay được theo đúng và cho phép thiết đặt một điều trị vào lúc thuận lợi nhất khi sự loạn sản được xác nhận ở cấp độ cao, với một nguy cơ cao tiến triển thành một ung thư. Trong trường hợp này, điều trị nhằm loại bỏ những tế bào bị biến hóa với những kết quả thỏa mãn đến độ từ nay việc nhờ đến phẫu thuật là ngoại lệ đối với những bệnh nhân này, mà trong 90% những trường hợp, sau đó thoát khỏi ung thư.
(LE FIGARO 20/6/2016)

2/ LOẠN SẢN THỰC QUẢN : ĐIỀU TRỊ AN TOÀN BẰNG NỘI SOI.
” Từ nay, khi một loạn sản (dysplasie) cấp độ cao hay một ung thư nông (cancer superficiel) được nhận diện, ta có thể điều trị thương tổn bằng nội soi, với những hậu quả ít nặng nề hơn nhiều cho bệnh nhân so với phẫu thuật “, GS Stanislas Bruley des Varannes, truởng khoa dạ dày-gan-ruột của CHU de Nantes đã nhấn mạnh như vậy. Khi đó mục tiêu là lấy đi hay phá hủy tất cả những tế bào loạn sản (dysplasique) hay dị sản (métaplasique). Chúng sẽ được thay thế bởi những tế bào bình thường của niêm mạc thực quản.
Phương pháp thứ nhất là lấy đi niêm mạc bị thương tổn, nếu có thể với một pièce complète bằng kỹ thuật tách dưới niêm mạc (technique de dissection sous-muquese). ” Phương pháp này cho phép phân tích một cách chính xác mức độ lan sâu của loạn sản để biết nguy cơ lan đến các hạch “, GS Thierry Ponchon, trưởng khoa gan-dạ dày-ruột của bệnh viện Edouard-Herriot (Lyon) đã nhắc lại như vậy. ” Ngoài ra, ta cũng tránh những nguy cơ biến chứng do thủng “.
Phương pháp an toàn này ngay cả có thể được bổ sung, thậm chí được thay thế nếu việc phân tích pièce liên hệ không hữu ích, bằng cắt bỏ bằng nhiệt (ablation thermique) với radiofréquence ở các rìa để chắc chắn phá hủy tất cả niêm mạc bị biến đổi. Kỹ thuật, từ nay được công nhận như là phương pháp phá hủy tốt nhất, sử dụng một sonde được phủ bởi những vi điện cực, giữa chúng là một dòng điện lưu thông, tạo nên một nguồn nhiệt rất nhắm đích, có khả năng phá hủy những tế bào trên một bề dày từ 1 đến 2 mm, tương đương với bề dày của niêm mạc.
NHIỀU CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Trong hai trường hợp, niêm mạc thực quản bình thường có khả năng tái xâm thực (recoloniser) khoảng bị cắt hay bị phá hủy. ” Điều quan trọng là phải hỗ trợ hiệu quả của phẫu thuật bằng một điều trị với IPP, như thế cho phép hạn chế sự hồi lưu và để cho niêm mạc có thời gian để tái tạo mà không bị nguy cơ bị thay thế lần nữa bởi một niêm mạc ruột “, GS Bruley des Varannes đã nhắc lại như vậy. Bởi lẽ ung thư đã không khuếch tán đến các hạch (điều này chỉ xảy ra trong 2% những loạn sản cấp độ cao), nên nguy cơ phát triển một loạn sản hay một ung thư khi đó được loại bỏ đối với 90% những bệnh nhân.
Hiện nay nhiều công trình nghiên cứu đang được tiến hành để đánh giá lợi ích của những điều trị này, đặc biệt của radiofréquence, gây rất ít những biến chứng, ở những bệnh nhân có một loạn sản cấp độ cao, nhằm tránh mối nguy cơ thâm nhập dưới niêm mạc, tạo điều kiện cho sự khuếch tán của một ung thư. Phẫu thuật từ nay được dành cho những thương tổn nghiêm trọng nhất.
(LE FIGARO 20/6/2016)

3/ MỘT ÁNH SÁNG TRẮNG ĐỂ PHÁT HIỆN NHỮNG TẾ BÀO XẤU
Nội soi phần cao của đường tiêu hóa cho phép thăm dò bằng mắt, từng bước nhỏ, cả chiều dài của thực quản, dạ dày và tá tràng. Thực quản Barrett (EBO : endobrachyoesophage) xảy ra ở phần dưới cùng của thực quản, gần dạ dày, nơi dịch có thể hồi lưu ra ngoài dạ dày. Ánh sáng trắng, được rọi bởi ống nội soi, đặc biệt hiệu quả để phát hiện sự thay đổi màu của niêm mạc, như thế báo hiệu một sự biến đổi tế bào. Những ống nội soi hiện nay có một độ xác định rất cao, cho phép ngay cả phát hiện những biến đổi của những chỗ nổi (reliefs), có thể chỉ một loạn sản.
Nếu một thực quản Barrett có thể thấy được, những sinh thiết phải được thực hiện khi làm nội soi đầu tiên này theo một protocole nhất định tùy theo kích thước và sự phân bố của EBO. Nếu không một loạn sản (dysplasie) nào được nghi ngờ hay chẩn đoán, thao tác sẽ được lập lại với một tần số thay đổi tùy theo kích thước của EBO : mỗi 5, 3 hay 2 năm. Nếu một loạn sản được nghi ngờ, bệnh nhân sẽ được điều trị với inhibiteur de la pompe à protons (IPP) trong vài tháng để làm giảm hồi lưu trước khi thực hiện một nội soi khác và sinh thiết. Nếu một loạn sản cấp độ thấp được xác nhận, những nội soi thường xuyên hơn sẽ được khuyến nghị. Sau cùng nếu một loạn sản cấp độ cao được xác nhận, một điều trị với IPP sẽ được thực hiện trước một nội soi mới và những sinh thiết sẽ sít sao hơn, đôi khi được hướng định bởi những kỹ thuật nhuộm màu thực (bằng acide acétique hay indigo carmin) hay ảo nhưng ống nội soi thuộc thế hệ mới nhất. Khi đó một double lecture các mẫu sinh thiết phải được thực hiện, trong đó một được giải thích bởi một chuyên gia cơ thể bệnh học tiêu hóa, điều này một lần nữa nói lên lợi ích của việc thành lập những trung tâm chuyên môn (centre expert), trong đó các chuyên gia cũng có thể điều trị bằng nội soi.
(LE FIGARO 20/6/2016)

4/ NHỮNG BỆNH VIÊM MÃN TÍNH CỦA RUỘT : HƯỚNG VỀ MỘT NEUROSTIMULATION VAGALE.
GS Bruno Bonaz, gastro-entérologue của CHU de Grenoble, giải thích những lợi ích của kỹ thuật cải tiến này, có thể tránh dùng thuốc.
Hỏi : Những hội chứng của viêm mãn tính của ruột là gì ?
GS Bruno Bonaz : Bệnh Crohn và viêm đại trực tràng chảy máu (rectocolite hémorragique). Chúng gây bệnh cho hơn 200.000 người ở Pháp. Trong bệnh Crohn, viêm có thể xảy ra cho toàn bộ ống tiêu hóa, trong viêm đại trực tràng xuất huyết, chỉ trực tràng và đại tràng là bị thương tổn. Hai bệnh này được tập hợp dưới tên MICI.
Hỏi : Những căn bệnh này được biểu hiện như thế nào ?
GS Bruno Bonaz : Hai bệnh này gây đau bụng và ỉa chảy. Trong trường hợp viêm đại trực tràng chảy máu, phân kèm theo nước nhớt (glaires) và máu.
Hỏi : Làm sao ta chẩn đoán một cách chính xác những bệnh lý này để không lầm lẫn chúng với những viêm đại tràng thông thường ?
GS Bruno Bonaz : 1. Đối với bệnh Crohn, khi thực hiện soi đại tràng, người thầy thuốc phát hiện những thương tổn dưới dạng những vết loét trên thành của đại tràng và ruột non với những khoảng cách niêm mạc lành mạnh. 2. Trong trường hợp viêm đại trực tràng chảy máu, những thương tổn liền một khoảnh, không có những khoảng lành và niêm mạc xuất huyết. Sinh thiết có thể xác nhận chẩn đoán.
Hỏi : Ta có tìm được nguyên nhân của những viêm mãn tính này không ?
GS Bruno Bonaz : Trong cả hai trường hợp, những yếu tố di truyền và môi trường gây nên một kích hoạt bất thường của hệ miễn dịch, phóng thích những protéine (cytokine) gây viêm, đặc biệt TNF alpha
Hỏi : Thông thường ta điều trị những bệnh này như thế nào ?
GS Bruno Bonaz : Một cách gần như tương tự đối với cả hai : những thuốc kháng viêm, corticoides, những thuốc làm suy giảm miễn dịch liên kết với TNF alpha.
Hỏi : Nhìn toàn bộ, ta có được những kết quả nào với những điều trị quy ước này ?
GS Bruno Bonaz : Ta không chữa lành những căn bệnh này, ta làm giảm những triệu chứng mà thôi. Ta có được những thuyên giảm với sự hóa sẹo một phần của những thương tổn ở khoảng 50 đến 60% những bệnh nhân, với những tác dụng phụ trong đó có sự suy giảm miễn dịch. Do đó một sự nhạy cảm đối với những nhiễm trùng và sự phát triển những ung thư da (nhưng không phải mélanome) và những lymphomes. Vấn đề khác : sự tuân thủ điều trị kém.
Hỏi : Ông hãy giải thích cho chúng tôi nguyên tắc của kỹ thuật mới bằng kích thích thần kinh phế vị của ông
GS Bruno Bonaz : Não bộ và ống tiêu hóa liên lạc với nhau qua trung gian của dây thần kinh phế vị và hệ giao cảm trung ương, kích thích chức năng vận động của ống tiêu hóa và tiết dịch dạ dày. Dây thần kinh phế vị trái gây một tác dụng kháng viêm (anti-TNF), nhưng tác dụng bảo vệ này giảm trong những bệnh mãn tính ruột. Lúc kích thích dây thần kinh này, chúng ta tái lập chức năng kháng viêm của nó.
Hỏi : Ông hãy mô tả cho chúng tôi protocole của kích thích thần kinh (neurostimulation) này ?
GS Bruno Bonaz : Phương pháp kích thích thần kinh này nhằm thực hiện một can thiệp ngoại khoa nhỏ với gây mê tổng quát, trong đó ta đặt một điện cực ở cổ, chung quanh dây thần kinh phế vị trái, được nối với một máy kích thích thần kinh (neurostimulateur), nằm dưới xương đòn gánh trái. Bệnh nhân được nhập viện từ 24 đến 48 giờ. Thời kỳ hậu phẫu không đau đớn và có ít những tác dụng phụ.
Hỏi : Ông được những kết quả nào với phương pháp điều trị mới này ?
GS Bruno Bonaz : Một công trình nghiên cứu lâm sàng đã được thực hiện ở 7 bệnh nhân bị bệnh Crohn. 5 trường hợp thuyên giảm lúc 6 tháng : không có đau và ỉa chảy nữa và những thương tổn gần như hóa sẹo.
Hỏi : Những ưu điểm của kỹ thuật này so với điều trị quy ước ?
GS Bruno Bonaz : Kỹ thuật này rất hữu ích : 1. Đối với những bệnh nhân mà những điều trị chuẩn thất bại, nhất là những bệnh nhân được điều trị bằng những thuốc làm suy giảm miễn dịch. 2. Đối với những bệnh nhân số những tác dụng phụ của thuốc. 3. Đối với những bệnh nhân không muốn chịu sự bó buộc phải dùng thuốc uống hàng ngày. 4. Thay thế cho những anti-TNF.
Hỏi : Những nghiên cứu nào khác đang dược tiến hành ?
GS Bruno Bonaz : Những công trình nghiên cứu hướng về những bệnh viêm như bệnh viêm đa khớp dạng thấp.
(PARIS MATCH 12/11-18/11/2016)

5/ XƠ GAN CÓ CÒN LÀ MỘT BỆNH XẤU HỔ ?

Professeur Bruno Falissard
Psychiatre
Professeur de santé publique
Université Paris-Sud

Anh ta chết vì xơ gan…” Những chữ được nói ra bằng một giọng thấp, với một vẻ nghiêm trọng. Mọi người tức thì tưởng tượng ngay một người đàn ông, trong phần thứ hai của cuộc đời. Nguyên nhân, đó là một tay ăn chơi vui nhộn, nhưng dần dần đã hẵng chân. Một hôm, anh ta đã không còn có khả năng đảm nhận công việc của mình. Ngày hôm sau, các bạn của anh đã không có tìm thấy anh vui nhộn như thế nữa. Chỉ còn các con và vợ, mà mọi người đều thương hại.
Xơ gan là một căn bệnh rất ăn sâu vào trong trí tưởng tượng của những người Pháp. Nó cũng quen thuộc với chúng ta như là rượu, một trong những nguyên nhân lịch sử của xơ gan và cũng như rượu, nó làm xấu hổ.
Từ hàng ngàn năm nay, rượu duy trì những mối quan hệ phức tạp, hai mặt, với các xã hội loài người. Rượu làm điều tốt. Nó sưởi ấm cơ thể và tim, nó theo kèm các hội hè, nó giúp nói những điều khó nói, nó giúp chịu đựng, không nhiều thì ít, những lúc đau đớn nhất của cuộc đời. Nhưng rượu cũng làm hại, nhiều điều hại.
Ngoài sự hôn mê của các cuộc chè chén, rượu có thể biến chúng ta thành con thú. Con thú hung dữ, đã mất mọi sự kiểm soát chính mình. Rượu phá hủy. Nó phá hủy tinh thần. Người nghiện rượu đi loạng quạng, ngây dại, mãi miết trong độc thoại, nói không khớp. Nó phá huy cơ thể. Hầu như tất cả các cơ quan đều có thể bị ảnh hưởng, nhưng gan đặc biệt nhạy cảm bởi vì chính nó chịu trách nhiệm làm thoái hóa độc chất và sau vài năm hay vài thập niên, gan chỉ còn là một khối sợi và hạt : gan xơ (foie cirrhotique)
Bởi vì tất cả là một vấn đề liều lượng (dosage). Những tổn hại xảy ra khi tiêu thụ đều đặn và quan trọng, mặc dầu ý niệm “quan trọng” không phải được xác định một cách dễ dàng như thế. Khi đó, dĩ nhiên, vấn đề thiết yếu là : tại sao người nghiện rượu tiếp tục uống trong khi anh ta tự phá hủy mình và phá hủy những người mà anh thương mến ? Câu trả lời đáng lo âu : người nghiện rượu không thể ngừng uống, người nghiện rượu không còn có tự do trong những lựa chọn của mình, anh ta không còn tự kiểm soát mình được nữa.
Chắc chắn đó là một điểm thiết yếu : xơ gan, như là tiến triển tối hậu của chứng nghiện rượu nặng, là biểu tượng của con người bị giảm sút (être humain déchu), bị tước mất vai trò người quyết đoán tự do. Thật vậy, một con người tự do quyết định sự lựa chọn của mình là cần thiết cho sự vận hành tốt của xã hội. Con người tự do chịu trách nhiệm những hành động của mình, và chính bởi trách nhiệm này mà luật pháp thực hiện quyền cấu trúc và bình định (pouvoir structurant và pacificateur). Ngoài ra, sự kiểm soát chính mình là một giá trị chủ yếu, được dạy ngay những năm đầu của cuộc sống, dầu là ở trường hay trong gia đình. Thế mà người nghiện rượu không tự do, anh ta không còn kiểm soát mình nữa. Vậy người nghiện rượu không xứng đáng. Rất mực không xứng đáng, chính vì một lựa chọn cuộc sống mà anh ta tự mình tước mất tự do. Như thế xơ gan, trên vài phương diện, xuất hiện như là sự trừng phạt gần như thần thánh một người tự buộc chính mình mất tự do. Tính chất kịch tính của nghiện rượu càng mạnh khi phần lớn chúng ta đã uống rượu và rằng nhiều người uống một cách đều đặn. Trong trí tưởng tượng của chúng ta, nhiều người trong chúng ta là những người nghiện rượu hay những người xơ gan và thường ruồng bỏ một cách đặc biệt hung bạo người mà ta sợ sẽ trở thành.
Thật vậy, vài phút nói chuyện với một bệnh nhân nghiện rượu cũng đủ để nhận thức rằng anh ta cũng chỉ là một người như một người khác. Anh ta cảm thấy yếu ớt, phạm tội, vô vọng. Thật ra anh ta cũng như bất cứ ai. Vâng rượu mạnh hơn là anh ta, nhưng đã không bao giờ làm điều gì trái ý muốn của anh ta.
Dầu xơ gan có nguồn gốc virus, rượu hay tự miễn dịch, người thầy thuốc có trước mặt mình một bệnh nhân bị một bệnh mãn tính có tiến triển xấu, không hơn và không kém.
Sự thực hành y khoa, do tính chất ít thấy của mối quen hệ được thiết lập giữa thầy thuốc và bệnh nhân, cho phép người này và người kia thoát khỏi những thành kiến đạo đức. Và chính điều này cho phép nhận thực sự hiển nhiên rằng bệnh xơ gan là một bệnh như một bệnh khác và bệnh nhân xơ gan cũng chỉ là một bệnh nhân. Vấn đề còn lại là chúng ta phải chứng tỏ và đấu tranh chống lại hai nỗi đau đớn này : xơ gan không phải là một bệnh xấu hổ.
(LE FIGARO 11/4/2016)

6/ NƯỚC NÓNG : ĐIỀU TRỊ TỐT NHẤT KHI BỊ SỨA (MEDUSE) CHÍCH
Các con sứa (méduse) chịu trách nhiệm mỗi năm 150 triệu trường hợp chích, đôi khi gây nhưng tai biến dị ứng nặng. Các thầy thuốc của đại học Hawaii đã tập hợp những kết luận của 2000 công trình nghiên cứu về những phương thuốc được sử dụng. Điều trị tốt nhất là nhúng vào trong nước nóng 45 độ C bởi vì nhiệt làm bất hoạt nọc độc.
(PARIS MATCH 19/5-25/5/2016)

7/ NHỮNG RỐI LOẠN LO ÂU : MỘT GIẢI PHÁP THAY THẾ CÁC BENZODIAZEPINES.
GS Frédéric Rouillon, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần của bệnh viện Sainte-Anne và giáo sư của đại học Paris-Descartes, giải thích tác dụng của một thuốc giải ưu có ít điều bất tiện.
Hỏi : Nhưng dạng khác nhau của lo âu (anxiété)
GS Frédéric Rouillon : Đó là : 1. Những rối loạn mà ta gọi, tùy theo những trường hợp, những cơn hoảng sợ (attaques paniques), ám ảnh (obsession), và thúc đẩy (compulsions), phobies…2. Những rối loạn phản ứng với những tình huống stress. 3. Tình trạng stress sau chấn thương, tương ứng với một lo âu thường trực, đã không thể “évacué” sau một tổn thương nặng. 4. Một cảm giác lo âu quá mức trước những vấn đề hàng ngày và những người lo âu không thể nào thích nghi được.
Hỏi : Nói chung, trong những trường hợp nào ta kê đơn một benzodiazépine ?
GS Frédéric Rouillon : Có hai loại : những benzodiazépines điều trị chứng lo âu và những benzodiazépines chống mất ngủ. Ta kê đơn chúng để làm giảm những triệu chứng của tất cả các dạng lo âu, nhưng trong một thời gian giới hạn và chúng không điều trị nguyên nhân.
Hỏi : Để làm giảm lo âu, benzodiazépines tác động lên não bộ bằng những cơ chế nào ?
GS Frédéric Rouillon : Chúng tác động lên thụ thể tế bào thần kinh GABA, mà những circuits có liên hệ trong hiện tượng lo âu.
Hỏi : Với những loại thuốc này, phải chăng ta làm giảm được những triệu chứng của những dạng khác nhau này của lo âu ?
GS Frédéric Rouillon : Những kết quả đều thỏa mãn trên tất các các dạng của lo âu, nhưng với thời gian xuất hiện một sự giảm tính hiệu quả (accoutumance)
Hỏi : Những tác dụng phụ của các benzodiazépines là gì ?
GS Frédéric Rouillon : Sự ngủ gà (somnolence), những vấn đề nhận thức (problèmes cognitifs) như những rối loạn trí nhớ, rối loạn vigilance…và một nguy cơ gia trọng những tác dụng của rượu (trạng thái say). Ta đã tìm thấy một mối liên hệ giữa sự xuất hiện của bệnh Alzheimer và các benzodiazepines, nhưng ta đã không bao giờ có thể làm sáng tỏ tính chất nhân quả. Thật vậy, dùng benzodiazepines không bao giờ được quá một tháng. Trên hai hoặc ba tháng, có một nguy cơ phụ thuộc (dépendance). Phải sợ một hiện tượng dội ngược (phénomène de rebond) hay cai (phénomène de sevrage), được biểu hiện bởi một sự trầm trọng của những tác dụng phụ hay những biến chứng nghiêm trọng hơn (cơn động kinh).
Hỏi : Những người Pháp phải chăng là những người tiêu thụ benzodiazépines nhiều nhất ở châu Âu ?
GS Frédéric Rouillon : Vâng, đúng như vậy. Những người Pháp tiêu thụ hai đến ba lần nhiều hơn dân của những nước châu Âu khác. Ở chúng ta, các thầy thuốc có khuynh hướng kê đơn nhiều thuốc hơn… và những người Pháp quen dùng chúng. Người ta cũng nói rằng những người Pháp lo âu hơn nơi khác, nhưng cho đến nay, không có một công trình nghiên cứu nào chứng tỏ điều đó.
Hỏi : Có những phương pháp khác không dùng thuốc, cho phép hoãn hay tránh sử dụng thuốc giải âu ?
GS Frédéric Rouillon : Vâng, có những phương pháp tâm lý liệu pháp, nhất là nhận thức-hành vi (psychotéhrapie cognitivo-comportementale), thí dụ rất hiệu quả chống lại phobie ; cũng có những buổi thư giãn (séances de relaxation).
Hỏi : Những công trình nghiên cứu mới đây, được thực hiện với một thuốc không phải benzodiazépine, làm giảm những triệu chứng lo âu với ít những tác dụng phụ. Đó là điều trị gì ?
GS Frédéric Rouillon : Loại thuốc này, được cho bằng đường miệng, điều trị một dạng duy nhất : lo âu phản ứng (anxiété réactionnelle) (đừng lầm lẫn với lo âu liên kết với mất ngủ). Thuốc được sử dụng, étifoxine, lần này chỉ tác động lên vài sous-type của thụ thể GABA. Mặc dầu tác dụng nhắm đích này không hoàn toàn, nhưng tính hiệu quả của nó không phải là ít hơn với giảm những tác dụng phụ và được dung nạp tốt.
Hỏi : Những kết quả công trình nghiên cứu nào đã chứng tỏ tính hiệu quả này ?
GS Frédéric Rouillon : Những kết quả của ba công trình nghiên cứu so sánh phù hợp với nhau. Công trình nghiên cứu sau cùng đã kéo dài 6 tuần và đã được thực hiện bởi GS Dan Stein. Hai trăm bệnh nhân bị lo âu phản ứng (anxiété réactionnelle) đã được phân thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất nhận étifoxine, nhóm thứ hai một benzodiazépine (Alprazolam). Sau 6 tuần, tính hiệu quả giống nhau trong cả hai nhóm, nhưng với ít tác dụng phụ hơn nhiều trong nhóm étifoxine : không một ảnh hưởng nào về mặt cognition và tác dụng dội ngược giảm đáng kể.
(PARIS MATCH 19/5-25/5/2016)

8/ CHOLESTEROL : ĐỊNH LƯỢNG LÚC ĐÓI ?
Nhiều nước yêu cầu bệnh nhân nhịn đói trước khi phân tích nồng độ của cholestérol, ngoại trừ Đan Mạch. Một công trình nghiên cứu của đại học Copenhague đã so sánh nồng độ này ở 300.000 người (ở Hoa Kỳ, Canada, Đan mạch) lúc nhịn đói và sau một bữa ăn. Đã không có sự khác nhau đáng kể. Theo một thông cáo phát xuất từ 21 chuyên gia quốc tế, sự nhịn đói không còn cần thiết nữa. Các nhà nghiên cứu hy vọng rằng khám phá này sẻ cải thiện sự tuân thủ điều trị của những bệnh nhân chịu một liệu pháp phòng ngừa.
(PARIS MATCH 19/5-25/5/2016)

9/ RUN KHÔNG RÕ NGUYÊN NHÂN HAY RUN CỦA BỆNH PARKINSON. PHÂN BIỆT CHÚNG ĐỂ HÀNH ĐỘNG.
BS Michel Dib, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc bệnh viện La Pitié-Salpetrière, giải thích làm sao để không lầm lẩn hai bệnh có thể dẫn đến một sai lầm.
Hỏi : Bắt đầu từ lứa tuổi nào ta có thể bị triệu chứng run tay mà ta gọi là ” không rõ nguyên nhân” (tremblement essentiel) ?
BS Michel Dib. Những triệu chứng này, trong khoảng 1/3 các trường hợp, cũng xảy ra ở đầu, thường nhất xuất hiện sau 40 tuổi. Nhưng cũng có những trường hợp ít gặp, trong đó những rối loạn này được biểu hiện sớm hơn, ngay ở thời niên thiếu, được làm dễ bởi một yếu tố gia đình. Những triệu chứng này trung bình xảy ra ở một người trên 200 và ảnh hưởng đàn ông cũng như đàn bà.
Hỏi : Ta có biết những nguyên nhân của những run này, không thuộc về một bệnh thoái hóa không ?
BS Michel Dib. Ta gọi chúng là “essentiel” bởi vì nguyên nhân không được biết. Nhưng chúng ta có một giả thuyết : một bất thường trong sự liên lạc giữa những neurone của tiểu não và những neurone của thân não và đồi thị.
Hỏi : Phải chăng vài loại thuốc cũng có thể gây run ?
BS Michel Dib. Vâng, nhất là acide valproique (Dépakine), lithium và vài thuốc chống hen phế quản..Một tuyến giáp tăng hoạt cũng có thể gây những triệu chứng này.
Hỏi : Những người bị bệnh run này sống như thế nào ?
BS Michel Dib. Những bệnh nhân này vô cùng lo lắng. Việc sợ bị bệnh Parkinson làm họ không ổn định. Sự trở ngại trong những động tác hàng ngày gây ở họ một sự hoảng loạn. Họ chịu một sự xuống cấp về hình ảnh của họ khi họ cầm một cái ly hay một cái nĩa. Do đó họ rút mình ra khỏi xã hội, một cảm giác thất vọng khiến họ đi khám bệnh.
Hỏi : Thế thì chẩn đoán được thực hiện như thế nào ? Những dấu hiệu lắm sàng nào phân biệt những trường hợp run này với run của bệnh Parkinson ?
BS Michel Dib. Hai loại rối loạn này hoàn toàn khác nhau. Trong khi run không rõ nguyên nhân (tremblement essentiel) xảy ra khi làm một động tác (viết, cầm một cái ly, một cái nĩa), thì run gây nên bởi bệnh Parkinson được biểu hiện lúc nghỉ ngơi và biến mất khi làm một cử động. Chẩn đoán được thực hiện trong 5 phút. Những thăm dò khác là cần thiết khi ta nghi ngờ một bệnh khác, như một u não, một thiếu sót vận động hay một yếu cơ…Trong trường hợp nghi ngờ quan trọng, một máy rất hiệu năng, Dat-Scan, cho phép xác nhận 100% sự vắng mặt hay hiện diện của một bệnh Parkinson.
Hỏi : Một khi chẩn đoán run không rõ nguyên nhân được xác lập, ta có thể chữa lành không ?
BS Michel Dib. Không có điều trị chữa lành, nhưng với vài thuốc chẹn beta giáo cảm hay chống động kinh, được sử dụng đôi khi, ta có được những kết quả thỏa mãn đối với sự kiểm soát những triệu chứng và tiến triển của bệnh.
Hỏi : Trong những trường hợp mà thăm dò phát hiện sự hiện hữu của một bệnh Parkinson, ta đã tiến tới đâu trong xử trí bệnh này và những kết quả của nó ?
BS Michel Dib. Trong đa số các trường hợp, căn bệnh này thuộc về một thể hiền tính mà tiến triển sẽ chậm, trải ra trong nhiều năm, với ít ảnh hưởng lên chất lượng sống, và, điều quan trọng, một đáp ứng tốt với điều trị. Trong những thể khác, tiến triển có thể dẫn đến những biến chứng vận động với đáp ứng không tối ưu đối với những thuốc cổ điển ngay những giai đoạn đầu của bệnh.
Hỏi : Những thuốc này là gì ?
BS Michel Dib. Có nhiều loại : 1. Loại những chất bảo vệ thần kinh như rasagiline (Azilect), làm chậm tiến triển của bệnh. 2. Loại những agoniste dopaminergique giống tác dụng của dopamine, chất bị thiếu trong não bộ của các bệnh nhân. 3. Những loại khác thay thế dopamine này, L-Dopa. Ngoài thuốc, sự điều trị còn bao gồm một phục hồi chức năng, nhằm thực hiện những bài tập vật lý để tăng cường các cơ bị yếu vì bệnh và cải thiện chất lượng giấc ngủ.
Hỏi : Những hy vọng chữa lành nằm ở đâu ?
BS Michel Dib. Người ta vừa khám phá một nguồn gốc khả dĩ của bệnh Parkinson : một protéine bất thường, alphanucléine tích tụ trong não. Khám phá này mở ra một trường vô giới hạn những khả năng nghiên cứu để hiệu chính một điều trị chữa lành và sau cùng chữa lành được căn bệnh này.
(PARIS MATCH 13/7-20/7/2016)
Đọc thêm : Thời sự y học số 268, 278 (bài số 4) và 383 (bài số 5)

10/ MỘT TÚI DƯƠNG VẬT AN TOÀN HƠN
Theo Cơ quân y tế công cộng quốc gia, những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục đang gia tăng mạnh. Một yếu tố tạo thuận quan trọng là sự bỏ những túi dương vật hiện nay, nguồn thiếu tiện nghi, giảm khoái lạc, nguy cơ thủng. Một cuộc điều tra Pháp đã tiết lộ rằng 30% các sinh viên không bao giờ sử dụng phương tiện bảo vệ. Một công ty Đan mạch đã hiệu chính túi dương vật lý tưởng bảo vệ một cách hiệu quả mà không biến đổi khoái lạc, dựa trên những cấu trúc nhẹ và rất đề kháng, thành phần của các tổ ong và da rắn. Nó làm giảm nguy cơ bị tuột và thủng, thích ứng với cơ thể học của người sử dụng, đồng thời rất mảnh, điều này bảo tồn các cảm giác.
(PARIS MATCH 13/7-20/7/2016)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(22/8/2016)

This entry was posted in Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s