Cấp cứu Nội Tiết và Chuyển Hoá số 26 – BS Nguyễn Văn Thịnh

NHIỄM TOAN XETON ĐÁI ĐƯỜNG
(DIABETIC KETOACIDOSIS)

Adam J.Rosh, MD
Assistant Professor
Department of Emergency Medicine
Wayne State University School of Medicine
Detroit, MI

TEST 2

Một người đàn ông 30 tuổi với bệnh đái đường loại I đến khoa cấp cứu. HA của bệnh nhân là 100/70 mmHg và tần số tim là 140 đập/phút. Đường huyết là 750 mg/dL, nồng độ potassium là 5,9 mEq/L, bicarbonate là 5 mEq/L và pH động mạch là 7,1. Nước tiểu của bệnh nhân dương tính đối với ketones.
Điều trị ban đầu nào sau đây là điều trị tốt nhất đối với bệnh nhân này ?
a. Cho chuyền 2 lít normal saline, sau đó tiêm dưới da 20 đơn vị regular insulin.
b. Tiêm tĩnh mạch trực tiếp 2 ampoule bicarbonate và tiêm tĩnh mạch 10 đơn vị insulin
c. Cho bệnh nhân 5 mg metoprolol để làm chậm tần số tim, bắt đầu bù nước bằng đường tĩnh mạch, và sau đó cho 10 đơn vị regular insulin bằng đường tĩnh mạch.
d. Cho chuyền 2 lít normal saline và sau đó cho bằng đường tĩnh mạch 10 đơn vị insulin, tiếp theo bởi một tiêm truyền tĩnh mạch insulin và tiếp tục bù nước.
e. Cho chuyền 2 lít normal saline với 20 mEq/L KCL mỗi lít.
Câu trả lời đúng là d
Trụ cột của điều trị đối với nhiễm toan xeton đái đường (DKA) là hồi sức dịch tích cực và điều trị bằng insulin. Bệnh nhân phải nhận 2Lnormal saline trong vòng 2 giờ hồi sức, tiếp theo sau bởi 4 đến 6 L trong 8 đến 12 giờ tiếp theo tùy thuộc vào tình trạng dịch của bệnh nhân. Trong nhiễm toan xeton đái đường, người trưởng thành trung bình có một thiếu hụt nước từ 5-10L. Sau khi đã cho dịch, regular insulin thường được cho, đầu tiên như là một bolus 10 U và sau đó với một tốc độ 0,1 U/kg/giờ. Insulin phải được cho để làm biến mất tích xeton (ketosis) và nhiễm toan (acidosis).
(a) Trong nhiễm toan xeton đái đường nên tránh tiêm mông và dưới da insulin vì sự hấp thụ có thể thất thường do giảm thể tích và tưới máu kém.
(b) Hiện nay, không có công trình nghiên cứu nào cho thấy lợi ích khi sử dụng bicarbonate trong nhiễm toan xeton đái đường. Cho bicarbonate có thể làm tình trạng giảm kali huyết nặng thêm, gây nhiễm toan nghịch lý hệ thần kinh trung ương, làm giảm phân ly oxyhemoglobin, tình trạng ưu trương (hypertonicity), và tăng gánh sodium
(c) Metoprolol, một chất chẹn beta giao cảm, không được chỉ định đối với nhiễm toan xeton đái đường. Tim nhịp nhanh trong nhiễm toan xeton đái đường là thứ phát giảm thể tích và nhiễm toan. Điều chỉnh nguyên nhân sẽ điều trị tim nhịp nhanh.
(e) Sự thay thế potassium có thể cần thiết ở giai đoạn sau của điều trị bởi vì một sự mất toàn thể của potassium, nhưng không nên cho trong những dịch tiêm truyền ban đầu. Sự cho nhanh potassium có khả năng thúc đẩy loạn nhịp gây tử vong.

Reference : Emergency Medicine. PreTest.
Đọc thêm : Cấp cứu nội tiết và chuyển hóa số 1516

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(27/7/2016)
.

This entry was posted in Cấp cứu nội tiết và chuyễn hóa, Chuyên đề Y Khoa. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s