Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam – Trần Văn Thọ

Trong tiếng Việt, tiếng Nhật, và cả tiếng Anh đều có câu “Thời gian không chờ đợi chúng ta”. Câu này có xuất xứ từ câu “tuế nguyệt bất đãi nhân” trong một bài thơ của Đào Uyên Minh, tức Đào Tiềm, một thi nhân đời Đông Tấn bên Trung Quốc, mặc dù nguyên ý trong bài thơ đó thì khác với ý nghĩa thường dùng thời nay. Thời nay người ta thường cảnh giác nhau hoặc khuyên giới trẻ là thời gian rất quý, đã đi qua thì không bao giờ trở lại nên phải nỗ lực tận dụng thời gian để học tập, làm việc, để không bỏ lỡ cơ hội và đạt mục đích như mong muốn.
Nhưng đó là ý nghĩa trong đời thường. Ở cấp quốc gia, yếu tố thời gian còn quan trọng hơn nữa. Lãnh đạo đất nước nếu quyết tâm tiến hành cải cách nhanh chóng để phá bỏ rào cản phát triển, tận dụng cơ hội của thời đại thì trong một thời gian ngắn có thể đưa đất nước lên hàng một quốc gia tầm cỡ, được thế giới nể trọng.
Ngược lại, nếu lãnh đạo bị giáo điều ràng buộc, bị lợi ích nhóm thao túng hoặc thiếu khát vọng nhìn thấy tương lai huy hoàng của dân tộc và bỏ lỡ thời cơ thì đất nước tụt hậu trên vũ đài quốc tế. Trong rất nhiều trường hợp, người lãnh đạo khi đang cầm quyền ít khi ý thức được sự nghiệt ngã của thời gian, họ chỉ lo giải quyết những vấn đề trước mắt, kể cả việc dồn nỗ lực vào việc duy trì địa vị hiện tại. Người dân dĩ nhiên cũng chỉ lo cuộc sống hàng ngày và cho tương lai của riêng gia đình mình. Nhưng với những quốc gia ấy, sau vài mươi năm nhìn lại sẽ thấy choáng váng với cú sốc của thời gian.
Chỉ nhìn lịch sử ở châu Á cũng thấy nhiều trường hợp tương phản mà yếu tố thời gian biểu hiện rõ nét. Vào năm 1952, Nhật là nước có thu nhập trung bình thấp, nhưng chỉ 15 năm sau tiến lên nước thu nhập trung bình cao và thêm 13 năm nữa trở thành cường quốc kinh tế. Dĩ nhiên Nhật đã có tích lũy về vốn thể chế, về nguồn nhân lực từ thời Minh Trị nên khi có điều kiện thì phát huy rất nhanh. Nhưng cái điều kiện để các nguồn lực đó phát huy nhanh là nhờ năng lực và khát vọng của lãnh đạo trong giai đoạn mới. Không thiếu trường hợp nhiều nước đã phát triển đến giai đoạn thu nhập trung bình nhưng sau đó trì trệ lâu dài (và do đó đã xuất hiện khái niệm “bẫy thu nhập trung bình”). Không phải chỉ có Nhật mà Hàn Quốc và Đài Loan cũng thắng lợi trong cuộc chạy đua với thời gian. Hàn Quốc chỉ mất 16 năm (từ 1971-1987) để chuyển từ nước thu nhập trung bình thấp lên trung bình cao và chỉ mất thêm 10 năm nữa để tiến lên hàng các nước tiên tiến. Đài Loan trở thành nền kinh tế tiên tiến vào năm 1995, chỉ tốn 12 năm kể từ giai đoạn thu nhập trung bình cao.
Ngược lại, người Philippines chắc chắn phải choáng váng với cú sốc thời gian. Giữa thập niên 1950 thu nhập đầu người của họ cao hơn cả Hàn Quốc nhưng đến năm 1976 mới trở thành nước thu nhập trung bình thấp và từ đó đến nay đã gần 40 năm vẫn ở vị trí đó! Năm 1960 thu nhập đầu người của Philippines cao gấp đôi Thái Lan nhưng 15 năm sau đó Thái Lan theo kịp Philippines và bây giờ thì Philippines chỉ bằng nửa của Thái Lan.
Đối với các nước đi sau, cơ hội để đốt giai đoạn, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước đi trước thường có nhiều. Công nghệ, tri thức kinh doanh, vốn đầu tư, kinh nghiệm phát triển, thị trường… đã có sẵn. Nhưng thành công hay thất bại trong việc sử dụng ngoại lực tùy thuộc chất lượng thể chế và bản lĩnh, tố chất của lãnh đạo. Chuyển từ thể chế cũ sang thể chế mới thường mất nhiều thời gian nhưng những nước phát triển đã thành công trong việc tiến hành cải cách thể chế trong thời gian ngắn. Những nước thất bại trong cuộc cải cách thể chế sẽ tụt hậu và sẽ chịu một cú sốc thời gian rất mạnh.
Trên đây là trường hợp cú sốc thời gian trước hiện tượng tụt hậu so với các nước chung quanh. Một cú sốc khác ít được nhận diện, vì tiến hành âm thầm, chậm rãi nhưng khắc nghiệt vì khi đã thành hiện thực thì hầu như không thể đối phó được nữa. Đó là cú sốc trước hiện tượng chưa giàu đã già do không nỗ lực tận dụng giai đoạn thuận lợi của cơ cấu dân số để phát triển nhanh và do đó không chủ động đối phó trước sự thay đổi của cơ cấu dân số theo hướng lão hóa. Nước nào cũng trải qua giai đoạn dân số vàng (tỷ lệ của người thuộc độ tuổi lao động trong tổng dân số tiếp tục tăng) trước khi chuyển sang giai đoạn lão hóa. Nếu bỏ lỡ cơ hội phát triển trong giai đoạn dân số vàng để đất nước giàu lên trước khi cơ cấu dân số thay đổi thì chắc chắn sẽ trực diện với bi kịch chưa giàu đã già, và cú sốc thời gian ở phương diện này sẽ rất nghiệt ngã.

Bây giờ chuyển qua vấn đề của Việt Nam.
Theo tư liệu của ECAFE, tiền thân của ESCAP (Ủy ban Liên hiệp quốc về kinh tế và xã hội châu Á – Thái Bình Dương) thì vào năm 1954, thu nhập đầu người của miền Nam Việt Nam là 117 đô la Mỹ, xấp xỉ Thái Lan và cao hơn Indonesia (Thái Lan là 108 đô la Mỹ và Indonesia là 88 đô la Mỹ vào hai năm trước đó). Hiện nay (năm 2014) Việt Nam chỉ bằng một phần ba Thái Lan và một nửa Indonesia, mặc dù hai nước này không phải là những quốc gia phát triển nhanh như Nhật hay Hàn Quốc. Không kể giai đoạn chiến tranh trước 1975, thời gian 40 năm sau khi chiến tranh chấm dứt hoặc 30 năm từ khi đổi mới cũng đủ dài để chuyển Việt Nam thành một quốc gia tầm cỡ trên thế giới.
Đổi mới đã đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy nghèo và trở thành nước có thu nhập trung bình thấp từ năm 2008. Nhưng so với tiềm năng, kể cả những thời cơ thuận lợi bị bỏ lỡ và so với kinh nghiệm của các nước Đông Á thì tốc độ phát triển của Việt Nam vừa không cao vừa kém hiệu suất. Ngoài ra nền kinh tế hiện nay có những yếu kém như sức cạnh tranh của nền công nghiệp yếu, mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa còn rất xa, ngày càng dựa vào FDI và phụ thuộc nhiều vào kinh tế Trung Quốc.
Việt Nam hiện nay đang ở đâu trên bản đồ kinh tế thế giới? Về dân số Việt Nam xếp thứ 14. Vào năm 2013, thu nhập (GDP) đầu người của Việt Nam là 1.911 đô la Mỹ, xếp thứ 131 trong gần 200 nước lớn nhỏ trên thế giới. Vì dân số tương đối đông nên vị trí của GDP (năm 2013 là 171 tỉ đô la Mỹ) cao hơn nhưng cũng chỉ ở hạng 57. Quy mô của GDP như vậy không thể có một ảnh hưởng nhất định đến kinh tế thế giới. Tại vùng Đông Á hiện nay, GDP đầu người của Việt Nam chỉ cao hơn Campuchia, Lào và Myanmar.
Từ năm 1993 Việt Nam hội đủ mọi điều kiện quốc tế thuận lợi. Nếu quyết tâm cải cách thể chế để củng cố nội lực và tận dụng ngoại lực thì có thể phát triển trung bình mỗi năm 10% suốt 20 năm sau đó. Trong thời gian đó, Trung Quốc phát triển trung bình 10% nhưng riêng vùng duyên hải thì hội đủ các điều kiện thuận lợi nên phát triển rất mạnh mẽ, trên dưới 15% mỗi năm. Việt Nam có bờ biển dài, bề ngang lại hẹp nên hầu như cả nước gần giống vùng duyên hải của Trung Quốc. Dĩ nhiên không phải phát triển với bất cứ giá nào mà phải chú trọng chất lượng phát triển như bảo vệ môi trường, bảo đảm tạo cơ hội bình đẳng cho mọi tầng lớp, nhưng dù chú trọng chất lượng, khả năng phát triển trên dưới 10% không phải là phi hiện thực. Nhật Bản trong giai đoạn 1955-1973 cũng vừa phát triển cao (trung bình 10%) vừa ít ảnh hưởng đến chất lượng phát triển.
Từ đầu thập niên 1990 đến nay nếu Việt Nam tăng trưởng 10%/năm thì bây giờ đã là nước có thu nhập trung bình cao, chuẩn bị cho giai đoạn trở thành nước công nghiệp phát triển trong tương lai không xa. Thêm vào đó, nếu phát triển với tốc độ đó thì Việt Nam đã sớm chấm dứt được tình trạng phải xuất khẩu lao động, một hiện tượng đang làm xấu hình ảnh của đất nước trên vũ đài thế giới.
Về cơ cấu dân số hiện nay của Việt Nam, cú sốc thời gian cũng sẽ rất mạnh. Giai đoạn dân số vàng sắp qua đi, giai đoạn lão hóa dân số sẽ đến gần kề mà thu nhập đầu người còn rất thấp. Việt Nam đang đứng trước thách thức chưa giàu đã già. Theo nhiều phân tích về cơ cấu dân số, giai đoạn cơ cấu dân số vàng của Việt Nam kéo dài từ năm 1970-2020 (hoặc 2025). Nhìn vị trí của giai đoạn dân số vàng trong tiến trình thay đổi của dân số, ta không thể không giật mình với sự tiếc nuối. Nhìn lại lịch sử Việt Nam trong giai đoạn dân số vàng (1970-2020), ta thấy Việt Nam đã đánh mất phần lớn thời cơ phát triển: Giai đoạn còn chiến tranh (1970-1975) và thời trước đổi mới (1975-1985) xem như ta đã mất hầu như tất cả trong ý nghĩa không tận dụng cơ cấu dân số vàng để phát triển. Mười năm đầu đổi mới (1986-1995), ngoài việc phục hồi sản xuất nông nghiệp, Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu xây dựng các tiền đề về thể chế kinh tế thị trường, về hội nhập với thế giới. Những năm sau đó, như đã phân tích ở trên, kinh tế tương đối phát triển nhưng chưa mạnh mẽ (trung bình mỗi năm cũng chỉ độ 7%, so với 9-10% của nhiều nước châu Á trong giai đoạn dân số vàng).
Khi chấm dứt cơ cấu dân số vàng, thu nhập đầu người của Nhật Bản (năm 1992) là 30.000 đô la Mỹ (tính theo giá năm 2005), của Hàn Quốc (năm 2010) là 20.000 đô la Mỹ. Còn thu nhập đầu người của Việt Nam vào năm 2025 là bao nhiêu? GDP đầu người hiện nay của Việt Nam độ 2.000 đô la Mỹ, nếu tính theo giá năm 2005 thì khoảng 1.000 đô la Mỹ. Nếu từ nay đến năm 2025 dù mỗi năm kinh tế phát triển 8% thì năm 2025 thu nhập đầu người (theo giá năm 2005) chỉ độ 2.000 hoặc 3.000 đô la Mỹ (tùy theo tỷ giá), chỉ bằng 1/10 của Hàn Quốc hay Nhật Bản ở thời điểm tương ứng.
Lãnh đạo của Việt Nam trong giai đoạn tới cần ý thức sâu sắc cú sốc của thời gian liên quan đến vị trí của đất nước trên vũ đài thế giới và về nguy cơ chưa giàu đã già. Thời gian không còn nhiều.

Trần Văn Thọ

Bộ trưởng Bùi Quang Vinh: Tại sao Việt Nam thua kém các nước?

bui quang vinhĐiều tôi trăn trở là tại sao VN thông minh, anh dũng trong bảo vệ Tổ quốc nhưng trong kinh tế lại thua kém các nước?.
Sáng 2/3, tại buổi giới thiệu ra mắt cuốn sách ”Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam” của Giáo sư Trần Văn Thọ, ông Bùi Quang Vinh – Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có bài phát biểu rất ấn tượng.
Chia sẻ những tiếc nuối, Bộ trưởng Bộ KHĐT cho biết, sự nghiệt ngã của thời gian đã được ông cũng như chính tác giả cuốn sách cảnh báo từ nhiều năm trước thì hôm nay nó thực sự đã trở thành cú sốc.
Ông cho rằng, Việt Nam đã không nhận thức được đầy đủ về yếu tố thời gian, chưa nhận thấy những tổn thất to lớn khi để lỡ cơ hội vàng trong suốt thời gian dài. Vị Bộ trưởng cũng cảnh báo về những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, trong đó nguy cơ chưa giàu đã già là đáng lo ngại nhất.
“Với những thuận lợi như ở vào thời đại dân số vàng, ở giữa dòng chảy của tư bản, công nghệ, tri thức kinh doanh tại vùng năng động nhất thế giới mà Việt Nam đã không tạo ra được kỳ tích phát triển như họ. Đó là điều mà mỗi người dân Việt Nam có lòng tự tôn dân tộc không khỏi bùi ngùi, đau xót”, Bộ trưởng Vinh chia sẻ.
Không phủ nhận những thành quả đổi mới nhưng ông Vinh nói, Việt Nam phải cần tới 30 năm để thay đổi thì quả là quá dài. Theo ông, nhiều nước ở Đông Á với chỉ trên dưới 15 năm đã chuyển hẳn vị thế của đất nước trên bình diện quốc tế. Còn Việt Nam hôm nay thì sao?
Ông Vinh tâm tư, là một người Việt Nam thì luôn mang theo những trăn trở về Đất nước, luôn trăn trở về Tổ quốc cho dù họ có ở đâu, đi đến đâu, sống ở trong nước hay sống ở nước ngoài. Nhưng rõ ràng những cơ hội đã qua đi và điều làm ông rất đau xót đó là hình ảnh về Đất nước, về dân tộc Việt Nam nhiều khi lại không được đẹp như ông mong muốn.
Theo ông, chính những hình ảnh phản cảm, xấu xí trên đã khiến ông không ít lần thấy xấu hổ khi đi ra nước ngoài nhiều hơn là tự hào. Nó khác với thời kỳ trước đây, dù Việt Nam rất nghèo nhưng vẫn có lòng tự tôn dân tộc, vẫn ngẩng cao đầu bước đi trên đất nước bạn.
“Bây giờ thì sao? Việt Nam được nước ngoài nhắc đến với đủ thói hư, tật xấu từ trộm cắp, tranh giành miếng ăn… rất nhiều chuyện. Nguyên nhân có nhiều, từ giáo dục, môi trường, văn hóa cho tới cách dạy dỗ con cái ngay tại mỗi gia đình.
Một điều tôi rất buồn, tôi cũng nói với rất nhiều cấp rằng, chúng ta xem ti vi và đã thấy nhiều cảnh quan chức, người dân đi cầu tài, cầu lộc, cầu may ở tất cả các đền, chùa, miếu mạo. Nhưng tôi cũng nói thật, ở phía Nam, chùa chiền còn giữ được thanh bạch, thanh tịnh, không mâm cao cỗ đầy. Còn ở miền Bắc thì ở đâu cũng ghi nhận cảnh hỗn loạn, tranh cướp, chen lấn. Lễ chùa thì có doanh nghiệp, cán bộ, lãnh đạo cho tới cả dân nghèo đều đi lễ.
Vậy họ đến đó để làm gì. Xin thưa: Tất cả đều thể hiện một mong muốn là “không làm mà vẫn được ăn. Họ cầu những thứ từ trên trời rơi xuống túi mình. Một dân tộc với hơn 90 triệu dân, với số lượng cán bộ, công chức đông như vậy mà ai cũng đi cầu tài, cầu lộc như thế thì họ nghĩ gì về đất nước chúng ta” – Bộ trưởng Vinh tâm tư.
Rồi ông đặt câu hỏi: “Chúng ta phải suy nghĩ thế nào với một đất nước mà cảnh chen lấn, tranh cướp lộc, cướp tài, xin lộ, cướp ấn… ngay trên bàn thờ thần thánh, trong đó có cả quan chức. Doanh nghiệp không nghiến răng vượt khó đi lên, mà chỉ mong tiền từ trên trời rơi vào túi mình thì làm sao khiến người khác phục mình. Làm sao phát triển được?”
Liên hệ tới câu chuyện động đất sóng thần xảy ra tại Nhật Bản, năm 2011, ông nói: Truyền thông quốc tế đưa tin một cháu bé 9 tuổi phải xếp hàng chờ phát bánh mì cứu trợ. Dù được ưu tiên đưa bánh mì trước, thế nhưng cháu bé đã bước lên trả lại và quay trở lại để xếp hàng. Một đất nước như vậy mới mong phát triển được.
Nỗi đau xót của ngài Bộ trưởng
Trở lại nội dung cuốn sách, ông cho rằng tác giả đã nói rất đúng, nói đúng hết những vấn đề của Việt Nam.
Ông cũng đồng tình với nhận định của tác giả rằng: “Xuất khẩu lao động là điều nhục nhã của một dân tộc”.
”Chúng ta không lấy gì làm vẻ vang, không lấy gì làm tự hào khi nói rằng bao nhiêu lao động đi làm ôsin cho nước này hay làm lao động chân tay cho nước khác. Trong tình thế này, kinh tế không phát triển, lao động không có việc làm thì buộc phải xuất khẩu lao động đi. Họ cũng khốn khổ vô cùng.
Tại sao không đặt vấn đề làm sao để tận dụng được nguồn lực trong nước, làm gì để nguồn lao động đó đóng góp, cống hiến được cho nền kinh tế trong nước. Làm được như vậy thì vẻ vang, tự hào biết bao nhiêu”, vị Bộ trưởng trăn trở.
Ấy thế nhưng cái chuyện xuất khẩu lao động cũng đâu có dễ dàng. Bộ trưởng chia sẻ, Việt Nam xin Thái Lan công nhận hơn 3.000 lao động chân tay nhưng thương lượng mãi thì họ cũng chỉ công nhận hơn 1.000 lao động.
“Là Bộ trưởng thấy cảnh đó tôi đau xót lắm. Chưa cần nói tới những thứ to lớn khác như ODA thế nào, lao động ra sao chỉ với những thứ cụ thể như vậy đã khiến tôi cảm thấy không yên” – ông Vinh nói.
Ông kể lại cách đây 2-3 năm, ông là Bộ trưởng liên kết Việt Nam – Singapore. Khi sang họp tại đây, ông chủ tịch một ngân hàng lớn nhất Singapore mời ăn uống cùng nhiều quan chức cấp cao của họ tại một tòa nhà rất cao.
Đang ăn, chủ tịch ngân hàng quay sang hỏi ông: “Thưa Bộ trưởng, nếu một đêm, nửa đêm thức giấc thì điều Bộ trưởng trăn trở, suy nghĩ gì?”
Dù bất ngờ, song Bộ trưởng Vinh đã trả lời ngay tức khắc không một phút chần chừ.
“Cảm ơn ông đã hỏi một câu hỏi rất sâu sắc: Tôi có thể trả lời ngài ngay. Nếu một đêm tôi thức giấc, thì điều tôi trăn trở là tại sao dân tộc Việt Nam thông minh là vậy, kiên trì, anh dũng trong bảo vệ tổ quốc nhưng trong kinh tế chúng tôi lại thua kém các nước. Kém hơn các nước rất nhiều. Có thể nói, các học sinh đều xuất sắc vậy mà khi về nước họ lại không xuất sắc và nước tôi không thể phát triển được và trở thành nước xuất sắc như các nước. Đó là điều tôi trăn trở nhất. Ông ấy đã không nói gì nữa”, ông Vinh kể.
Dù đã kể chuyện này một lần nhưng vị Bộ trưởng vẫn kể lại để mong tìm được câu trả lời cho câu hỏi: “Tại sao lại như vậy?”. Có phải chúng ta không thông minh không? Có phải chúng ta không cần cù, chịu khó không? Không phải như vậy.
Để đi tìm được câu trả lời, theo Bộ trưởng Vinh, phải sẵn sàng từ bỏ lợi ích cá nhân, từ bỏ danh vọng, chức quyền chỉ để được nói lên tiếng nói của mình. Chỉ với hi vọng, có thể, hôm nay không nghe nhưng ngày mai sẽ thấm dần và sẽ có người lắng nghe để đổi mới đất nước.
Cuối cùng, ông kết luận: “Tất cả ai cũng hiểu rằng cái chúng ta cần là một thể chế kinh tế đổi mới; những người lãnh đạo hiểu biết, tâm huyết và trách nhiệm”.

Bài này đã được đăng trong [-]. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s