Thời sự y học số 384 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ UNG THƯ TỤY TẠNG : NHỮNG TIẾN BỘ TỪNG BƯỚC NHỎ.

-10% những trường hợp ung thư tiêu hóa xảy ra ở tụy tạng.
– Hai chức năng của tụy tạng

  • 1. Tụy tạng sản xuất những kích thích tố được phóng thích vào trong máu, trong đó insuline có tác dụng điều hòa đường huyết.
  • 2. Những tế bào khác tiết dịch tụy tạng (suc pancréatique), hỗn hợp các men tiêu hóa đổ vào trong ruột non qua ống tụy (canal pancréatique). Phần lớn các ung thư tụy tạng phát sinh trong thành của ống này

Ngay cả trong căn bệnh đặc biệt đáng sợ này, những tiến bộ nhỏ cũng cho đoán thấy một tương lai ít đen tối hơn.
GASTROENTEROLOGIE. Là ung thư tiêu hóa đứng thứ hai về mặt tần số xuất hiện, ung thư tụy tạng là nguyên nhân đứng thứ tư gây tử vong bởi ung thư ở châu Âu, ngay sau ung thư vú 5 lần thường xay ra hơn. ” Mặc dầu ung thư này mang tiếng “giết người hàng loạt” (serial killer), nhưng tiên lượng của nó trong thời gian trung hạn bắt đầu được cải thiện một cách chậm chạp, kín đáo”, GS Pascal Hammel, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa (CHU Beaujon, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Thế mà những kíp chuyên gia người Pháp không xa lạ với những tiến bộ này, mặc dầu khiêm tốn, nhưng sau cùng mở ra vài triển vọng.
Với 12.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp, ung thư tụy tạng vẫn còn ít gặp. Tỷ lệ xuất hiện gia tăng của nó được giải thích bởi những tiến bộ của chẩn đoán và của chụp hình ảnh, và bởi sự lão hóa dân số bởi vì đó là một ung thư của người già, được chẩn đoán trung bình vào năm 65 tuổi.
Tiên lượng xấu của ung thư này là do ở khối u, với một tính phức tạp đáng sợ, tương tự với một vũng nước (une flaque) len lỏi khắp nơi hơn là một hòn (une boule) có giới hạn rõ. Và do ở định vị sâu của tụy tạng trong bụng, giữa dạ dày và cột sống, gần sát với gan, ruột và các mạch máu lớn. Tụy tạng có hai chức năng. Vài tế bào tập hợp thành các đảo sản xuất những hormone được phóng thích trong máu, trong đó có insuline. Những tế bào khác tiết dich tụy (suc pancréatique) vào trong một mạng các ống tụy. Dịch tụy là một hỗn hợp của các enzyme tiêu hóa được đổ vào trong ruột non qua ống tụy chính (canal pancréatique principal). Đa số các trường hợp những ung thư tụy tạng đều phát sinh trong thành của các ống tụy này.
Đôi khi sự tình cờ làm ra nhiều chuyện. ” Các nang tụy (kyste du pancréas), hay gặp sau 60 tuổi, thường được khám phá một cách tình cờ, khi chụp cắt lớp vi tính hay cộng hưởng từ vì một chuyện khác. Phần lớn đều hiền tính, nhưng vài nang là tiền ung thư : tất cả nghệ thuật là ở chỗ phát hiện những nang có nguy cơ thoái hóa, theo dõi những nang nhỏ nhất và đôi khi mổ phòng ngừa những nang gây lo ngại”, GS Hammel đã giải thích như vậy. ” Chúng tôi theo dõi chủ yếu vài u tiền ung thư (tumeur précancéreuse), những TIPMP (tumeur intracanalaire papillaire et mucineuse du pancréas). Những ung thư này phát triển trong những ống tụy và làm chúng làm giãn ra, và như thế ta phát hiện bằng chụp cắt lớp vi tính. Khi ta lấy đi những thương tổn thoái hóa này, tỷ lệ chữa lành vượt quá 80%.” Nhưng điều đó chỉ liên quan 10% những ung thư.
Thuốc lá, chứng béo phì, tình trạng nhàn rổi không hoạt động, bệnh đái đường tạo điều kiện ung thư tụy tạng. Tính chất hiếm hoi của nó loại bỏ một sự điều tra phát hiện đại trà. Do đó sự điều tra phát hiện chỉ nhằm vào những gia đình có nguy cơ, trong đó ít nhất 2 ung thư tụy tạng đã xảy ra ở những người bà con trực tiếp. Khi đó một điều tra phát hiện hằng năm bằng écho-endoscopie được đề nghị với những người thân bắt đầu từ 45 tuổi, sớm hơn ở những người hút thuốc. Sự điều tra phát hiện này phải được thực hiện trong một trung tâm bệnh viện chuyên môn. Nó cũng được đề nghị sau một ung thư tụy tạng trong một gia đình mang một gène tố bẩm (BRCA1/2).
Nhưng trong phần lớn các trường hợp, ung thư tụy tạng phát triển thầm lặng. ” Đôi khi một vàng da xuất hiện, do sự đè ép của ống mật bởi khối u, mà ta cần phải mổ nếu nó còn nhỏ. Nhưng thường nhất ung thư được phát hiện muộn, chủ yếu bởi những triệu chứng đau dai dẳng lan ra sau lưng và thể hiện một căn bệnh đã tiến triển, đôi khi với sự gầy ốm.” Chẩn đoán, bằng siêu âm hay chụp cộng hưởng từ, được xác nhận bởi nội soi và sinh thiết lúc làm siêu âm.
” Vào lúc chẩn đoán, chỉ 15% những bệnh nhân có một khối u còn có thể mổ được. Những bệnh nhân khác, những bệnh nhân mà khối u đã bắt đầu xâm chiếm những mô lân cận và ở họ phẫu thuật sẽ để lại những tế bào ung thư, hay 40% những bệnh nhân với di căn tức thì lúc chẩn đoán, sẽ được điều trị bằng hóa trị”, GS Louis Buscail, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa (CHU Toulouse) đã chỉ rõ như vậy. Trong số những bệnh nhân có thể mổ được lúc chẩn đoán, 2/3 sau đó sẽ có những di căn. Điều này giải thích tỷ lệ sống sót 5% lúc 5 năm sau chẩn đoán ung thư tụy tạng.
Tuy vậy, con số này che khuất những khác nhau và những tiến bộ, GS Hammel đã nhấn mạnh như vậy : ” Trong số những bệnh nhân được mổ, một nửa vẫn còn sống sau hai năm và 20% sau 5 năm. Trong những ung thư tụy tạng di căn, nhờ folfirinox (mà những người Pháp đã chứng minh lợi ích của nó), tỷ lệ sống sót trung bình đã tăng gấp đôi, đi từ 6 đến 7 tháng lúc một năm, với một chất lượng sống tạm được. Bằng cách làm chậm căn bệnh, đa hóa trị (polychimiothérapie) này, từ năm 2011 trở thành standard thế giới, sau cùng cho chúng ta thời gian để thiết đặt những chiến lược như thử một điều trị khác khi folfirinox không tác dụng nữa, để còn sống thêm vài tháng.”
Nhưng sự điều trị toàn bộ bệnh nhân vẫn là chủ yếu, GS Hammel đã nhấn mạnh như vậy. ” Tất cả đều quan trọng : chọn lựa điều trị tốt nhất cho mỗi bệnh nhân, xử trí rất sớm triệu chứng đau, giúp bệnh nhân đương đầu, ăn uống để không suy dinh dưỡng, tập thể dục…Mặc dầu chậm chạp, nhưng sự việc vẫn tiến triển. Bằng cớ, đó là một ung thư mà ta ngay cả bắt đầu có thể nói đến nó”.
(LE FIGARO 13/4/2015)

2/ UNG THƯ TỤY TẠNG : MỘT UNG THƯ KHÔNG NHƯ NHỮNG UNG THƯ KHÁC
Cái gì làm nên ác tính đặc biệt của ung thư tụy tạng ? Trước hết là khối u, nhà nghiên cứu Juan Iovanna (CRCM và Inserm 1068, Marseille) đã giải thích như vậy. ” Khối u tụy tạng rất giàu fibrine (fibrine của mô sẹo) với rất ít những mạch máu, và chỉ chứa 10 đến 15% những tế bào ung thư. Trong mô rất ít huyết quản này, nhiều tế bào chết. Những tế bào còn sống rất đề kháng bởi vì chúng đã học cách sống sót trong những điều kiện rất bất thuận lợi như tình trạng nghèo oxy và những chất dinh dưỡng.” Do đó khối u rất ác tính và phóng thích ra sớm những tế bào về sau sinh những di căn.
” Đó cũng là những ung thư rất không đồng nhất (hétérogène), rất khác nhau từ bệnh nhân này qua bệnh nhân kia, điều này giải thích rằng vài bệnh nhân sống sót chẳng bao lâu trong khi những bệnh nhân khác sống lâu hơn, rằng vài bệnh nhân khác làm nhiều di căn, trong khi những bệnh nhân khác thì ít hơn.” Những loại tế bào cũng rất khác nhau từ khối u này đến khối u khác, và và ngay cả trong cùng một khối u bởi vì mỗi tế bào, sau khi đã trở nên không ổn định về mặt di truyền, tăng sinh đồng thời tích lũy những biến dị. ” Chính vì thế, hai bệnh nhân với cùng khối u sẽ không đáp ứng cùng cách với điều trị, bởi vì biologie của khối u của họ khác nhau. Và trong khối u này, không phải tất cả các tế bào đều nhạy cảm với cùng loại thuốc điều trị : trong khi 80% những tế bào nhạy cảm với một loại thuốc bị giết bởi điều trị này, 20% những tế bào khác đề kháng để tiếp tục phát triển và khối u bắt đầu tăng trưởng trở lại. Chính vì điều đó mà giải pháp sẽ là xác định đối với mỗi khối u bao nhiêu quần thể tế bào nhạy cảm với mỗi thuốc chống ung thư.
Vậy phải tìm những chất chỉ dấu tiên đoán (marqueur prédictif) đáp ứng với điều trị. ” Mới đây chúng tôi đã nhận diện trên các sinh thiết của 17 khối u những marqueur génétique prédictif về ác tính của khối u (agressivité tumorale), và đối với 5 thuốc chống ung thư được sử dụng nhiều nhất, một nhóm nhỏ những chất chỉ dấu tiên đoán sự đáp ứng. Bây giờ chúng tôi sẽ đánh giá phương pháp của chúng tôi lên tất cả những thuốc chống ung thư hiện có”, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy. Vậy có lẽ không có một, mà những ung thư tụy tạng, cần nhận diện tốt hơn để điều trị chúng tốt hơn.
(LE FIGARO 13/4/2015)

3/ UNG THƯ TỤY TẠNG : NHỮNG THỬ NGHIỆM TRÊN TẤT CẢ MỌI HƯỚNG
Để điều trị hiệu quả hơn, phải có những công cụ chẩn đoán và theo dõi sự tiến triển khối u hiệu năng hơn. ” Chỉ dấu máu duy nhất được biết của ung thư tụy tạng, CA 19-9, không nhạy cảm cũng không đặc hiệu lắm, và dường như chủ yếu hữu ích để theo dõi điều trị “, GS Hammel đã giải thích như vậy. Những sinh thiết truyền thống là tế nhị bởi vì khối u nghèo những tế bào ung thư và khó lập lại sinh thiết trên cơ quan nằm sâu này. ” Do đó sự quan tâm đối với những kỹ thuật “biopsie liquide” nhằm tìm kiếm trong máu những tế bào hay ADN tumoral, và những chỉ dấu của sự tiến triển khối u hay của sự đáp ứng với điều trị.” Đó chỉ mới là một hướng nghiên cứu. “Hướng nghiên cứu này là tốt nhưng còn ít kết quả”, GS Buscail đã giải thích như vậy. Ông quan tâm đến những chỉ dấu khác của ung thư, những micro ARN, những phân tử nhỏ điều hòa các gène mà ta có thể định lượng trong máu và trong nước miếng.
SỰ NHỜ ĐẾN CÁC MEN
Về mặt điều trị, những liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée) ít có hiệu quả trong ung thư tụy tạng bởi vì, trái với những ung thư khác, không có một voie de signalisation tumorale độc nhất (được hoạt hóa và ta có thể phong bế) mà có lẽ có 10 hay 15 đường cùng một lúc. Và bởi vì do là một ung thư rất ít được phân bố mạch (vascularisé), nên những điều trị chống sinh mạch máu (traitement anti-angiogénique) được sử dụng trong những ung thư khác cũng không có hiệu quả.
Sự phân bố mạch (vascularisation) kém này hạn chế các thuốc chống ung thư đến tận khối u, do đó những thử nghiệm nhắm đích trong khối u (essais de ciblage intratumoral) bằng những điều trị với những vecteur, virus hay không. Vì những tế bào ung thư bị dính vào trong một matrice de fibrine có tác dụng kềm hãm sự đi vào của các thuốc điều trị, nên các kíp nghiên cứu cũng tìm cách làm tan rã matrice này bằng những enzyme như hyaluronidase.
Đường hướng khác, sử dụng chuyển hóa đặc biệt của khối u này để chống lại nó. Như GS Hammel đã giải thích điều đó, ” ung thư tụy tạng nhận ít chất dinh dưỡng qua máu và lấy trong vi môi trường của nó những gì cần phải có để chế tạo những chất dinh dưỡng thay thế, như asparagine. Chúng tôi đang thử nghiệm để mang đến khối u enzyme có tác dụng phá hủy asparagine, được đóng nang trong những hồng cầu. Những công trình nghiên cứu khác, như công trình được tiến hành trong đơn vị của Juan Iovanna ở Marseille, nhằm phong bế sự sử dụng cholestérol bởi những tế bào khối u.
” Chúng tôi cũng bắt đầu một công trình nghiên cứu với 200 bệnh nhân về lợi ích của tập thể dục, có lợi trong những ung thư khác “, GS Hammel đã giải thích như vậy. ” Trong ung thư tụy tạng, có những bất thường chuyển hóa, hơi giống với chứng béo phì. Ý tưởng, đó là sự tập thể dục, do làm giảm sự tổng hợp những hormone liên hệ, cũng có khuynh hướng làm dễ ung thư, có lẽ sẽ cho phép làm giảm những bất thường này, duy trì tốt hơn khối cơ, cải thiện chất lượng sống và có lẽ ổn định lâu hơn khối u không cần hóa trị.”
(LE FIGARO 13/4/2015)

4/ VIÊM GAN C : SỰ CÁO CHUNG CỦA MỘT CĂN BỆNH ?

Professeur Victor de Lédinghen
Chef du service d’hépato-gastro-entérologie et
d’oncologie digestive
CHU de Bordeaux

Bệnh đâu mùa, bệnh bạch hầu (diphtérie), bệnh uốn ván, sốt vàng, bệnh bại liệt và biết bao nhiêu những bệnh khác…Bấy nhiêu căn bệnh đã có thể kiểm soát được, thậm chí biến mất trong vài nước, nhờ tiêm chủng. Nhưng một căn bệnh mãn tính, biến mất không cần vaccin, chỉ bằng một điều trị vài tuần nhưng không có tác dụng phụ quan trọng, phải chăng có thể thực hiện được ? Đó là một cuộc cách mạng trong lịch sử y khoa ! Và tuy vậy, chúng ta đang ở buổi bình minh của bước tiến quan trọng này. Thật vậy, đó là mục tiêu mà nước Pháp có thể đạt được vào năm 2025 đối với viêm gan C.
Viêm gan C là một nhiễm trùng mãn tính, mắc phải qua đường máu, thường không có triệu chứng, do virus của viêm gan C (virus de l’hépatite C), tăng sinh trong gan để dần dần dẫn đến một xơ gan rồi ung thư. Không có một vaccin nào chống lại viêm gan C. Ở Pháp, khoảng 100.000 đến 150.000 người chờ đợi từ nhiều năm nay điều trị cho phép họ chữa lành nhiễm trùng này. Bởi vì mục tiêu đúng là : chữa lành một căn bệnh mãn tính có khả năng gây chết người nhưng cũng chữa lành một căn bệnh thường được biểu hiện bởi một fatigue invalidante chịu trách nhiệm một sự biến đổi chất lượng của cuộc sống.
Năm 2014 đã là một năm bản lề trong điều trị viên gan C : sự xuất hiện những thuốc điều trị mới rất có hiệu quả (bệnh được chữa lành trong hơn 95% các trường hợp, nghĩa là sự biến mất hoàn toàn và vĩnh viễn của virus) mà không gây những tác dụng phụ quan trọng. Những thuốc mới này, được gọi là những tác nhân chống virus, tác động lên 3 điểm khác nhau trên những enzyme de réplication của virus của viêm gan C (inhibiteurs de protéase, inhibiteur de NSSA hay NSSB). Những loại thuốc này thường nhất được kê đơn phối hợp, dưới dạng một hay hai viên mỗi ngày, nói chung trong 12 tuần (đôi khi 24 tuần).
CHIẾN LƯỢC ĐIỀU TRỊ.
Bất hạnh thay, điều trị cách mạng này có một phí tổn khoảng 50.000 euro đối với mỗi bệnh nhân. Phí tổn này đã được giảm nhiều so với năm 2014 nhưng cần phải tiếp tục thương thuyết giá cả để còn có thể điều trị nhiều bệnh nhân hơn. Những người phụ trách việc cho sử dụng những loại thuốc này (bộ xã hội, bộ y tế và cac xí nghiệp dược phẩm) phải tiếp tục làm việc để đi đến giá thành thấp nhất, giá cho phép đạt mục tiêu được ấn định : một nước không có dịch bệnh viêm gan C.
Hôm nay, đã có để sử dụng 7 loại thuốc và, vào năm 2016, sẽ có 9 đến 11 loại thuốc có thể được kê đơn. Khi đó, số lượng lớn những thuốc này có sẽ cho phép giảm phí tổn của điều trị hay không ? Giá thuốc càng được hạ thấp, số bệnh nhân được điều trị càng quan trọng. Vào năm 2014, đã có khoảng 14.000 bệnh nhân có thể nhận được những điều trị cách mạng này và có lẽ 15.000 đến 20.000 bệnh nhân sẽ có thể được điều trị và chữa lành vào năm 2015. Cuộc chiến đấu để chấm dứt dịch bệnh viêm gan C đã được bắt đầu ; nó không được dừng lại.
Afef, société française d’hépatologie, quy tụ toàn thể những thầy thuốc và các nhà nghiên cứu về hépatologie, công bố vào tháng sáu 2015 những khuyến nghị để điều trị viêm gan C. Mục tiêu của những khuyến nghị này là thiết đặt một chiến lược điều trị để đánh bại viêm gan C : từ viêm gan cấp tính đến xơ gan, từ người sử dụng ma túy đến bệnh nhân được thẩm tách, từ thiếu niên đến bệnh nhân được ghép gan, điều trị nào cho kết quả nào ?
Nhưng, đứng trước một bệnh nhân, trong phòng khám bệnh, vượt lên trên những tính toán về kinh tế hay tài chánh, có phải là có đạo đức khi điều trị bệnh nhân nào đó theo tiêu chuẩn nào đó hay không ? Căn bệnh có khác nhau ở một người bị nhiễm do truyền máu so với một người bị nhiễm do sử dụng ma túy ? Có chăng một sự khác nhau giữa một người bị xơ gan, do viêm gan C bởi vì đã lạm dụng rượu trong quá khứ và một người, nhờ một vệ sinh đời sống mẫu mực, đã gìn giữ lá gan của mình ? Phải chăng ta có thể từ chối điều trị cho một người 80 tuổi trong khi điều trị này có thể được đề nghị cho một phụ nữ muốn có thai ? Phải chăng ta phải ưu tiên điều trị một người bị tù bởi vì anh ta là một “ổ chứa” virus trong khi phó mặc một vận động viên thể thao có trình độ cao ? Đó là cả một suy nghĩ éthique, sociologique, sociétale, kinh tế, chính trị, phải được thực hiện.
TRUNG THÀNH VỚI LỜI THỀ HIPPOCRATE
Vì lẽ những câu thúc kinh tế rất dễ hiểu, thầy thuốc điều trị bệnh nhân mà ông ta không thể đề nghị một điều trị của viêm gan C, mặc dầu có sẵn, phải chăng vị thầy thuốc này trung thành với lời thề của Hippocrate mà ông ta đã tuyên đọc lúc hành nghề y khoa ? ” Mối ưu tư đầu tiên của tôi sẽ là phục hồi, gìn giữ hay thăng tiến sức khỏe trong tất cả những yếu tố, vật lý và tâm thần, cá nhân và xã hội.” Phải chăng ta có thể nói rằng ta ” phục hồi” sức khỏe của một người bệnh khi ta không thể cho bệnh nhân này một điều trị có thể chữa lành ông ta ?
Nếu 15.000 bệnh nhân sẽ được điều trị mỗi năm ở Pháp, mục tiêu kiểm soát dịch bệnh viêm gan C sẽ đạt được. Và nước Pháp có tham vọng là nước đầu tiên trên thế giới đã thắng được căn bệnh này không ? Điều trị có một phí tổn, sự chữa lành thì không có giá.
(LE FIGARO 1/6/2015)

5/ CÓ ĐIỀU MỚI TRONG BỆNH CROHN ?

Professeur Bruno Bonaz
Professeur de gastroentérologie
CHU de Grenoble
Unité Inserm 836
Grenoble Institut des neurosciences

Bệnh Crohn tiến triển một cách đáng kể trong những nước công nghiệp hóa của chúng ta và luôn luôn là một thách thức thật sự đối với cộng đồng khoa học. Thật vậy, mặc dầu hiện hữu những điều trị (corticoides, immunosuppresseurs, thérapie biologique) nhằm làm giảm phản ứng viêm của các thành phần của hệ tiêu hóa bị thương tổn (ruột non và/hoặc ruột già), nhưng chúng hiếm khi đủ và không phải là không có những tác dụng phụ. Lấy đi những phần bị thương tổn bằng phẫu thuật, trong 30% những trường hợp, là giải pháp cuối cùng để làm thuyên giảm bệnh nhân.
Chính vì vậy kíp của chúng tôi trong đơn vị Inserm 836 (Grenoble Institut des neurosciences) đã quyết định xử lý bệnh lý một cách khác và sử dụng neurostimulation (kích thích thần kinh) của dây thần kinh sọ số X. Ý tưởng có thể gây sửng sốt : kỹ thuật hiện đại này, nhằm gởi lên hệ thần kinh những xung động điện nhẹ và được kiểm soát một cách chính xác, đặc biệt được ưa chuộng trong điều trị những bệnh lý liên quan đến hệ thần kinh (động kinh, trầm cảm) và trong việc làm thuyên giảm đau. Tuy vậy chúng tôi đã nghĩ rằng nó cũng có lợi đối với điều trị bệnh Crohn.
Câu chuyện bắt đầu với sự liên lụy của “yếu tố TNF-alpha” (tumor necrosis factor) trong bệnh Crohn. Chất trung gian này, rất sớm đã được xác nhận là có một vai trò quan trọng trong sự hoạt hóa của quá trình viêm và từ đó là cái đích của nhiều điều trị thường được sử dụng, những anti-TNF-alpha. Mặt khác, vào năm 2000, một kíp của Hoa Kỳ thực hiện một khám phá gây ngạc nhiên : ở chuột, lúc kích thích dây thần kinh phế vị (nối não với hệ tiêu hóa), có thể tránh được những trường hợp choáng nhiễm khuẩn, thể nặng nhất của những phản ứng viêm, được phát khởi trong trường hợp nhiễm trùng quan trọng. Sự kiểm soát này phát xuất từ một chất dẫn truyền thần kinh (acétylcholine), chất này khi được phóng thích bởi dây thần kinh phế vị, ức chế sự phóng thích TNF-alpha bởi những tế bào viêm. Chính tác dụng chống TNF-alpha gây nên bởi kích thích điện mà chúng tôi đang nghiên cứu. Sau khi đã chứng minh, trên một mô hình chuột thí nghiệm, tính hiệu quả của sự sử dụng những luồng điện tần số thấp, thí nghiệm đã được trắc nghiệm, lần đầu tiên vào tháng tư năm 2012, trên một bệnh nhân 49 tuổi, trong khung cảnh của một công trình nghiên cứu tiền phong. Chúng tôi đã cấy vào bệnh nhân, ở cổ, một điện cực quanh dây thần kinh phế vị, được nối với một hộp kích thích (boitier de stimulation) phát ra một xung động điện mỗi năm phút. Trắc nghiệm này là một thành công : những triệu chứng đã giảm đến độ từ nay bệnh nhân không còn cần phải theo đuổi một điều trị thuốc kinh điển. Đó là trường hợp đầu tiên được báo cáo trong y liệu quốc tế. Từ đó bệnh nhân luôn luôn thuyên giảm đồng thời về mặt triệu chứng cũng như mô (sự hóa sẹo của những thương tổn).
Mới đây, 7 bệnh nhân khác đã được điều trị cùng cách. Neurostimulation đã không có cùng kết quả ở những bệnh nhân có căn bệnh nghiêm trọng vào lúc implantation nhưng đã cho thấy lợi ích ở những thể với mức độ vừa phải hơn. Điều chứng thực này dẫu sao cũng có một lợi ích : từ nay chúng ta có khả năng loại bỏ những người đối với họ điều trị sẽ không có hiệu quả. Vậy liệu pháp bằng neurostimulation không thể chữa lành tất cả những người bị bệnh Crohn, nhưng đối với những người mà bệnh Crohn ở mức độ vừa phải, nó vẫn là một giải pháp thay thế đáng quan tâm.
(LE FIGARO 16/3/2015)

6/ NHỮNG BỆNH VIÊM CỦA RUỘT : CÓ GÌ MỚI ?

Professeur Yves Panis
Chef du service chirurgie colo-rectale
Hopital Beaujon, Paris
Membre de la Société française de chirurgie.

Những bệnh viêm của ruột (maladies inflammatoires de l’intestin) (còn được gọi là “Mici”) gồm bệnh Crohn và bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu (RCH : Recto-colite hémorragique). Trong hai căn bệnh này, ngoại khoa được chỉ định chủ yếu trong trường hợp điều trị nội khoa không hiệu quả hay trong trường hợp những thể biến chứng của bệnh. Hôm nay ta cho rằng khoảng 40 đến 50% những bệnh nhân bị bệnh Crohn và 15-20% những bệnh nhân bị bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu một ngày nào đó phải được mổ. Trong bệnh Crohn, vì bệnh này có thể gây thương tổn toàn bộ ống tiêu hóa (từ miệng đến hậu môn) nên quy tắc là lấy đi càng ít càng tốt ruột vì nguy cơ tái phát sau mổ trên ruột còn lại. Ngược lại với RCH, thương tổn chỉ liên quan đến ruột già và trực tràng và do đó philosophie là lấy đi tức thời toàn bộ đại tràng và trực tràng.
Trong một thời gian lâu, phẫu thuật này đã được thực hiện bằng một đường xẻ bụng rộng (được gọi là laparotomie), cho phép thực hiện một can thiệp, mặc dầu hiệu quả, nhưng được liên kết với điều mà ta gọi là một morbidité postopératoire đáng kể : thời gian nhập viện dài, đau hậu phẫu quan trọng, nhu động ruột hoạt động trở lại chậm trễ, chỉ cho phép ăn uống lại bình thường sau vài ngày, tất cả điều đó là “bình thường” nhưng cũng có thể trong 15 đến 20% các trường hợp liên kết với những biến chứng hậu phẫu thật sự, như một áp xe hậu phẫu, những biến chứng này cần phải mổ lại cấp cứu và làm bệnh nhân chịu một nguy cơ tử vong mặc dầu thấp nhưng không phải là không đáng kể (khoảng 2-3%).
Vào giữa những năm 1980, nhất là dưới sự thúc đẩy của BS François Dubois ở Paris, đã xuất hiện coelioscopie mà mục tiêu là thay thế laparotomie bằng một đường xẻ thành bụng ít hung bạo hơn, bằng cách sử dụng những đường xẻ nhỏ từ 0,5 đến 1cm, xuyên qua đó được đưa vào những dụng cụ cho phép thực hiện cùng can thiệp nhưng không có những bất tiện và sự nặng nề của laparotomie. Cải tiến này, được các thầy thuốc ngoại khoa Hoa Kỳ gọi là ” cuộc Cách mạng Pháp thứ hai”, đã làm đảo lộn, trong vòng ít năm, tất cả ngoại khoa, dầu đó là tiêu hóa, phụ khoa, ngực hay những chuyên khoa khác.
30 năm sau, và sau nhiều công trình nghiên cứu khoa học, những lợi ích của nội soi ổ bụng (coelioscopie hay laparoscopie) được chứng minh : giảm đau hậu phẫu, giảm thời gian nhập viện, tỷ lệ bệnh tật và tử vong hậu phẫu ít hơn, kết quả thẩm mỹ tốt hơn, sự chấp thuận tốt hơn bởi bệnh nhân. Vậy, thật bình thường là sau khi được sử dụng trong những chỉ định khác, như ung thư đại trực tràng, coelioscopie một ngày nào đó được đề nghị trong ngoại khoa của Mici.
Trong phẫu thuật của bệnh Crohn, toàn bộ lợi ích của coelioscopie cũng được chứng minh và cho phép quan sát, thí dụ sau khi cắt bỏ hồi-manh tràng (là can thiệp được thực hiện nhiều nhất trong bệnh Crohn và lấy đi một đoạn cuối ruột non thường bị thương tổn bởi bệnh), một nhập viện dưới 7 ngày, tỷ lệ biến chứng hậu phẫu dưới 15% và một tỷ lệ tử vong gần như số không.
Nhưng trong bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu mà coelioscopie có lẽ mang lại lợi ích đáng kể nhất. Nối hội tràng-hậu môn (AIA : anastomose iléo-anale) là điều trị ngoại khoa quy chiếu của bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu. Nó cho phép không những lấy đi toàn bộ đại tràng và trực tràng, và như thế lấy đi vùng có tiềm năng bị bệnh, điều này chữa lành bệnh (trái với bệnh Crohn, trong đó sự tái phát luôn luôn có thể xảy ra), nhưng cũng bảo tồn chức năng đại tiện do thực hiện một anastomose giữa ruột non và hậu môn, để tránh phải nhờ đến một stomie (hay “hậu môn nhân tạo”) vĩnh viễn.
Can thiệp phức tạp này cũng có lợi khi thực hiện với coelioscopie vì làm giảm tỷ lệ bệnh sau mổ và sự mang lại của toàn bộ những lợi ích đã được quan sát trong bệnh Crohn.
Nhưng vẫn còn tồn tại một biến chứng hậu phẫu nghiêm trọng được quan sát sau AIA, được thực hiện bằng laparotomie, mà ta không biết, cho mãi đến gần đây, là nó có thể được làm giảm bớt hay hủy bỏ bằng coelioscopie hay không : đó là sự vô sinh (stérilité) ở phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ. Biến chứng vô sinh này, được quan sát trong 40 đến 60% những trường hợp AIA sau khi laparotomie là do những dính (adhérences) chung quanh các vòi trứng sau khi mở bụng. Nhờ hai công trình nghiên cứu mới đây, ngày nay ta đã chứng minh rõ ràng rằng coelioscopie không những làm giảm tỷ lệ bệnh hậu phẫu, mà còn, và nhất là, nó không gây nên sự gia tăng quan trọng của tình trạng vô sinh. Tỷ lệ sinh sản (taux de fertilité) (nghĩa là tỷ lệ mang thai 3 năm sau khi ngừng mọi biện pháp ngừa thai) đạt khoảng 80 đến 90% (so với 90% trong quần thể những phụ nữ không bị mổ). Vậy tiến bộ quan trọng này cho phép thực hiện một AIA ngay cả ở phụ nữ trẻ ở tuổi sinh đẻ nếu, dĩ nhiên, điều trị nội khoa không kiểm soát được nữa căn bệnh. Nó cũng nhấn mạnh sự cần thiết tuyệt đối thực hiện một cách hệ thống AIA bằng coelioscopie.
Kết luận, coelioscopie, vì những lợi ích đã được chứng minh một cách rõ ràng trong chirurgie des Micis, không còn là một sự tình cờ nữa, mà là một sự cần thiết. Ngoài ra, nó cho phép một sự chấp nhận can thiệp tốt hơn đối với những bệnh nhân, thường còn trẻ, đang hoạt động nghề nghiệp và cũng có mối ưu tư thẩm mỹ rất dễ hiểu.
(LE FIGARO 6/7/2015)

7/ HƯỚNG VỀ MỘT ĐIỀU TRỊ CÁ THỂ HÓA NHỮNG BỆNH VIÊM MÃN TÍNH CỦA RUỘT

Professeur Franck Carbonnel
Service de gastro-entérologie
Hopital de Bicetre
Université Paris Sud.

Bệnh Crohn và bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu (RCH) là những bệnh viêm mãn tính của ruột (Mici : maladie inflammatoire chronique de l’intestin). Chúng gây nên đau bụng, ia chảy, máu trong phân, mệt, đôi khi sốt và đau khớp. Ở trẻ em, chúng có thể là nguyên nhân của một chậm phát triển. Những người sống với một Mici (khoảng 200.000 ở Pháp) có một chất lượng sống bị biến đổi bởi những triệu chứng này và phải chịu những nội soi, những nhập viện và những can thiệp ngoại khoa. Các bệnh nhân bị bệnh trong lứa tuổi thanh xuân : đỉnh cao của tần số nằm giữa 15 và 40 tuổi.
Những tiến bộ được thực hiện trong vài thập niên là đáng chú ý. Trước hết, ta có những công cụ cho phép một sự theo dõi chính xác hơn, ít gò bó hơn và không nguy hiểm. Sự định lượng calprotectine trong một mẫu nghiệm phân cho phép biết là ruột có bị viêm không và có thể tránh những colonoscopie. Capsule, chụp cộng hưởng từ hạt nhân và siêu âm là hữu ích để nhìn thấy ruột non, xác định chiều dài và mức độ nghiêm trọng của các thương tổn và theo dõi tiến triển của chúng với điều trị
PHẪU THUẬT CÒN THƯỜNG ĐƯỢC THỰC HIỆN
Những điều trị hiện nay cho phép mang lại một giải pháp thích ứng với mỗi trường hợp. Thí dụ, những bệnh nhân trẻ với bệnh Crohn lan rộng trên một chiều dài lớn của ruột, một thương tổn hậu môn, những dấu hiệu trầm trọng (gầy ốm, sốt, viêm quan trọng) sẽ được điều trị mặc nhiên bởi điều trị hiệu quả nhất hiện nay : sự phối hợp của một thuốc làm suy giảm miễn dịch và một thuốc anti-TNF. Có thể thích ứng liều của những loại thuốc này đối với mỗi bệnh nhân. Ở một người bị một bệnh ít nghiêm trọng, ta sẽ kê đơn một điều trị nhẹ hơn. Thí dụ ở một bệnh nhân có một viêm loét đại trực tràng chảy máu (rectocolite hémorragique) giới hạn ở phần dưới của ruột, ta sẽ nhờ đến những thuốc được gọi là salicylés (những dẫn xuất của aspirine) bằng đường miệng và trực tràng. Nếu căn bệnh không được kiểm soát đủ, ta sẽ tăng cường dần dần điều trị.
Điều trị ngoại khoa thường còn được thực hiện. Điều trị này cần thiết trong những thể biến chứng hay đề kháng với các thuốc điều trị. Nhưng nó không cho phép chữa lành Mici, thường tái phát sau khi mổ. Ta biết những yếu tố nguy cơ tái phát hậu phẫu của bệnh Crohn : thuốc lá, sự hiện diện của những thương tổn hậu môn, sự hiện hữu của những fistule hay abcès của ruột và những tiền sử can thiệp ngoại khoa nhiều lần. Những yếu tố này góp phần hướng dẫn chỉ định ngoại khoa và điều trị sau mổ.
Một thuốc mới, vedolizumab, có sử dụng từ mùa thu năm 2014. Thuốc này làm giảm sự kéo đến của các tế bào lympho và làm thoái triển phản ứng viêm. Một loại thuốc mới khác, Mongersen, đã cho những kết quả rất đáng lưu ý ở những người bị bệnh Crohn. Nó chưa được thương mãi hóa. Những thử nghiệm quy mô lớn đang được tiến hành. Nếu những kết quả này được xác nhận, Mongersen có thể cải thiện điều trị của bệnh này. Những loại thuốc hiện nay đã cải thiện sự điều trị những người bị Mici. Nhưng chúng có những tác dụng phụ (nhiễm trùng, những vấn đề ở da, viêm gan…) và giá thuốc đắc, nhất là những thuốc mới gần đây (anti-TNF và vedolizumab). Sau cùng, chúng không tấn công vào nguyên nhân của những bệnh này. Vì vậy căn bệnh thường tái phát sau khi ngừng thuốc.
Ta không biết một cách chính xác nguyên nhân của Mici. Nhưng ta biết những yếu tố nguy cơ và nhưng cơ chế chính. Di truyền đóng một vai trò quan trọng nhưng phức tạp. Ta biết 163 gène tố bẩm và danh sách chưa hết. Những yếu tố môi trường có một vai trò chủ yếu nhưng ít được biết đến hơn. Thuốc lá có một vai trò có lợi trong rectocolite hémorragique và có hại trong bệnh Crohn. Ta cũng nghi ngờ chế độ ăn uống Tây phương, những kháng sinh, vệ sinh, sự thiếu ánh nắng mặt trời và vài bệnh nhiễm trùng trong sự xuất hiện của Mici. Khuẩn chí ruột và hệ miễn dịch ruột, trong lúc bình thường sống cộng sinh với nhau, sẽ đối đầu nhau, và kết quả của cuộc chiến đấu này, đó sẽ là sự viêm của ruột.
Một hướng điều trị mới đang được nghiên cứu : tác động lên khuẩn chí ruột. Những thứ nghiệm ghép phân (transplantation fécale) đang được tiến hành trên thế giới. Còn quá sớm để đưa ra một kết luận về tính hiệu quả của chúng. Một thử nghiệm điều trị, được gọi là Teorem sẽ được mở ra ở Pháp năm 2015. Điều trị này nhằm vào những bệnh nhân bị bệnh Crohn và mang một vi khuẩn được gọi là AIEC, có thể đóng một vai trò quan trọng trong viêm ruột.
Tóm lại, phương pháp hiện nay nhằm kê đơn một điều trị cá thể hóa cho mỗi bệnh nhân : những bệnh nhân bị bệnh nặng nhất có điều trị mạnh nhất, ta thích ứng liều lượng thuốc cho mỗi bệnh nhân, ta xét đến nguy cơ tái phát hậu phẫu để quyết định phẫu thuật và thích ứng điều trị hậu phẫu.
(LE FIGARO 29/6/2015)

8/ CON NGỰA THÀNH TROIE CHỐNG LẠI CÁC BỆNH TỰ MIỄN DỊCH
Một protéine được sản xuất bởi một ký sinh trùng hiệu quả chống lại bệnh Crohn.
IMMUNOLOGIE. Một kíp nghiên cứu của thành phố Lille, được chỉ đạo bởi GS Monique Capron (đại học Lille, Inserm, CHR de Lille) đã thành công thực hiện ở chuột một imunisation đủ để làm giảm một bệnh viêm mãn tính của ruột (Mici : maladie inflammatoire chronique de l’intestin), với một protéine của ký sinh trùng, P28GST. Một thử nghiệm vừa bắt đầu ở người. Những triển vọng điều trị là tuyệt vời !
” Bệnh Mici, bệnh Crohn và bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu (rectocolite hémorragique) ở người, gây bệnh cho khoảng 150.000 người ở Pháp”, GS Antoine Cortot, giáo sư gastro-entérologie ở đại học y khoa thành phố Lille đã giải thích như thế, ” nói chung chúng xuất hiện giữa 18 và 30 tuổi, kéo dài suốt đời và tiến triển thành từng cơn bộc phát cách nhau bởi những thời kỳ thuyên giảm có thời gian thay đổi “, ông nói thêm như vậy.
Những bệnh viêm ruột mãn tính này kèm theo đau bụng, ỉa chảy và gầy ốm, đôi khi rất invalidant, để chống lại chúng không có một chế độ ăn uống nào đã tỏ ra có hiệu quả. ” Trái lại phải luôn luôn chú ý ăn uống một cách đúng đắn để ở trong tình trạng dinh dưỡng tốt nhất có thể được bởi vì Mici có khuynh hướng biến đổi tình trạng tổng quát”, GS Corrot đã nhấn mạnh như vậy.
NHỮNG THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG ĐẦU TIÊN.
Trong tạp chí quốc tế Mucosal Immunology 15/7 vừa qua, kíp của giáo sư Capron chứng minh, từng giai đoạn một, rằng có thể tái cân bằng hệ miễn dịch nhờ protéine P28GST. Đặc điểm của phân tử này là protéine của ký sinh trùng được biết nhất, ký sinh trùng gây bệnh bilharziose, ” một căn bệnh tương đối nghiêm trọng tùy theo loại liên hệ, gây bệnh cho nhiều trăm triệu người trên thế giới, đặc biệt ở châu Phi”, Dominique Mazier, giáo sư ký sinh trùng học của Bệnh viện Pitié-Salpetrière (Paris) đã xác nhận như vậy.
Tại sao lại là một protéine của ký sinh trùng ? ” Từ lâu ta đã nhận xét rằng những người bị nhiễm bởi ký sinh trùng ít bị những bệnh tự miễn dịch hơn, GS Monique Capron đã giải thích như vậy, tất cả khó khăn là ở chỗ nhận diện một phân tử mang lại sự cải thiện này để sau đó có thể sử dụng nó trong điều trị.” Trong quá khứ, những thử nghiệm đã được tiến hành chống lại bệnh Crohn bằng cách cho bệnh nhân nuốt trực tiếp những trứng của ký sinh trùng !
Công trình của kíp Lille từ nay thành công vì lẽ bây giờ đang ở giai đoạn thử nghiệm lâm sàng đầu tiên trên người. ” Đó là một công trình nghiên cứu được thực hiện nhờ những ngân sách nghiên cứu khác nhau.”
” Một công trình mẫu mực, đối với GS Mazier, những kíp nghiên cứu của Lille đã thực hiện nhiều thử nghiệm trên người với P28GST trong một khung cảnh khác đến độ ta đã biết rằng nó không gây nguy hiểm, vấn đề còn phải xem tính hiệu quả của nó.”
GS Cortot tin vào giai đoạn kế tiếp, nhằm trắc nghiệm phân tử ở những bệnh nhân vừa được mổ bệnh Crohn (người ta cắt bỏ ở họ một đoạn ruột bị thương tổn).
Nếu những thử nghiệm lâm sàng sau đó xác nhận những kết quả thu được ở động vật, khi đó sẽ được chứng minh rằng mảnh tinh chế của họ protéine được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu thành phố Lille đúng là một con ngựa thành Troie đáng sợ chống lại Mici và, tại sao không, những bệnh tự miễn dịch khác có thành phần viêm mạnh, như bệnh đa khớp dạng thấp, bệnh vẫy nến, bệnh đái đường loại 1 hay bệnh xơ cứng rải rác.
(LE FIGARO 6/9/2015)

9/ UNG THƯ HẦU
BS Nadira Delhem, onco-immunologiste, département de biologie, Institut Pasteur de Lille, giải thích các tác dụng của một miễn dịch liệu pháp cải tiến chống lại các ung thư mũi-họng
Hỏi : Có những dạng khác nhau của ung thư họng hay không ?
BS Nadira Delhem. Có hai loại lớn.1. Những ung thư khẩu hầu (oropharynx) liên quan lãnh vực tai mũi họng. 2. Ung thư tỵ hầu (nasopharynx) đối với vùng mũi.
Hỏi : Những triệu chứng của ung thư tỵ hầu là những triệu chứng nào ?
BS Nadira Delhem. U ác tính này, nằm sau các hố mũi (fosses nasales), được biểu hiện bởi những triệu chứng khác nhau có thể bị nhầm với những triệu chứng của những bệnh khác : đau trong khu vực tai mũi học, co thắt các cơ của hàm, viêm tai, mất thính giác, bại liệt dây thần kinh sọ, nghẽn tắc mũi…Điều đặc trưng cho nó là sự tích tụ những triệu chứng ngay lúc nó xuất hiện.
Hỏi : Có những yếu tố làm dễ không ?
BS Nadira Delhem. Trong nhiều ung thư của tỵ hầu ta đã nhận diện sự hiện diện của virus Epstein-Barr, làm dễ một quá trình ung thư. Cũng có những yếu tố di truyền, môi trường, như nitrosamine (chất được thêm vào trong thức ăn công nghiệp có nguy cơ gây ung thư).
Hỏi : Thường thường, ở giai đoạn nghiêm trọng nào ta khám phá một ung thư tỵ hầu ?
BS Nadira Delhem. Thường ta khám phá ung thư này ở một giai đoạn quá muộn, ở những giai đoạn III đến IV, bởi vì ta gán những triệu chứng cho một bệnh thông thường (đau họng, tắt tiếng nói, viêm tai…), và khi ta xác lập chẩn đoán, đó gần như luôn luôn bởi vì ta đã khám phá trước đó một di căn hạch.
Hỏi : Ung thư này tiến triển như thế nào ?
BS Nadira Delhem. Những giai đoạn I và II được xếp loại theo tính chất hung dữ của những tế bào ung thư và mức độ lan rộng của khối u. Ở những giai đoạn III và IV, những tế bào ung thư đã xâm nhập những mô lân cận hay những cơ quan khác : đáy sọ, khẩu hầu, xoang miệng, vòm khẩu cái…Đó là một ung thư làm biến đổi một cách đáng kể chất lượng sống.
Hỏi : Hiện nay điều trị ung thư này như thế nào ?
BS Nadira Delhem. Ở những giai đoạn I và II ta cho thực hiện xạ trị và đôi khi ta bổ sung bằng một hóa trị. Ở những giai đoạn III và IV, xạ trị được thực hiện một cách hệ thống, tiếp theo sau bởi một hóa trị được cho với liều mạnh hơn. Bất hạnh thay, những điều trị này có một tính hiệu quả hạn chế và liên kết với những tác dụng phụ rất nặng nề. Do đó tầm quan trọng của những nghiên cứu đang được tiến hành.
Hỏi : Bà hãy trình bày cho chúng tôi những kết quả chứng tỏ một tính hiệu quả hạn chế của những điều trị
BS Nadira Delhem. Ở những giai đoạn I và II, những kết quả là thỏa mãn, nhưng ta thống kê hơn 50% tái phát, xảy ra sau một thời kỳ thay đổi với thời gian. Ở những giai đoạn III và IV, chỉ 30% những bệnh nhân đáp ứng với điều trị và lại nữa, xảy ra những tái phát. Vấn đề của tỵ hầu là khi nó tái phát, những điều trị ít hiệu quả hơn nhiều.
Hỏi : Các bệnh nhân chịu đựng những tác dụng phụ như thế nào ?
BS Nadira Delhem : Đó là những điều trị rất hủy hoại bởi vì chúng gây nên bỏng, nôn, mửa, rụng tóc, sụt bạch cầu.
Hỏi : Bà đã thực hiện ở viện Pasteur những công trình với một phương pháp mới. Chiến lược của phương pháp này là gì ?
BS Nadira Delhem : Mục đích của những nghiên cứu của chúng tôi là tái lập chức năng của những tế bào của hệ phòng vệ miễn dịch. Lần đầu tiên chúng tôi đã nhận diện một trong những cơ chế tạo điều kiện cho sự tiến triển của ung thư này ở hầu. Khối u sản xuất những vésicule (exosome) tấn công những tế bào miễn dịch và tiêu hủy chúng. Chúng tôi đã hiệu chính một điều trị nhằm tiêm một kháng thể đặc hiệu có khả năng nhận biết những exosome này và vô hiệu hóa chúng.
Hỏi : Công trình nghiên cứu nào đã chứng minh tính hiệu quả của miễn dịch liệu pháp mới này ?
BS Nadira Delhem : Kíp nghiên cứu của chúng tôi đã bắt đầu một công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mà những kết quả đã cho thấy một tính hiệu quả rõ rệt của sản phẩm nhằm kích thích mạnh hệ miễn dịch. Sau đó chúng tôi đã tiến hành những thử nghiệm của chúng tôi trên nhiều chục con chuột mà trên chúng chúng tôi đã ghép một khối u của hầu với những tế bào miễn dịch người. Kết quả : với nhiều mũi tiêm, tiến triển của ung thư đã được kiểm soát.
Hỏi : Nếu, về sau, những công trình nghiên cứu ở người xác nhận tính hiệu quả của miễn dịch liệu pháp này, nó có thể thay thế vài điều trị ?
BS Nadira Delhem : Trong vài trường hợp, ta có thể xét cho điều trị này phối hợp với những liệu pháp quy ước hôm nay được sử dụng.
(PARIS MATCH 3/9/2015-9/9/2015)

10/ CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM VÀ THAI NGHÉN : KHÔNG ẢNH HƯỞNG LÊN EM BÉ.
Một công trình nghiên cứu của Úc đã so sánh sự phát triển của 21 trẻ em bị tiếp xúc trong tử cung với thuốc mà người mẹ sử dụng với sự phát triển của 20 trẻ em chứng. Sự đánh giá đã sử dụng những trắc nghiệm hợp thức hóa vào lúc sinh, rồi lúc 1 tháng, 18 tháng, 4 tuổi và 5 tuổi. Không một khác nhau nào đã xuất hiện giữa hai nhóm.
(PARIS MATCH 3/9/2015-9/9/2015)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(5/11/2015)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thời sự y học số 384 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 498 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 517 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s