Thời sự y học số 383 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ BỆNH PARKINSON : NHỮNG HỨA HẸN TIẾN BỘ
150.000 người bị bệnh Parkinson ở Pháp, với 9000 trường hợp mới mỗi năm.

Một sự thoái hóa của những neurone sản xuất dopamine
1. Những neurone sản xuất dopamine…
Não chứa 800.000 neurone à dopamine nằm trong chất đen (substance
noire) (phần trên của thân não).
2. ..Những nạn nhân của thoái hóa
Sự thoái hóa của các neurone à dopamine được biểu hiện bởi một thiếu
hụt dopamine, phân tử có nhiệm vụ messager giữa hai neurone.
Chính khi sự sản xuất dopamine sụt giảm 50-70% mà những triệu chứng
đầu tiên xuất hiện.
3…Gây nhiều triệu chứng

  • Nháy mắt
  • Rối loạn ngôn ngữ
  • Những vấn đề hô hấp
  • Bón
    • Những rối loạn vận động
    • run
    • tăng trương lực cơ
    • chậm chạp
  • Trầm cảm
  • Biến đổi khứu giác
  • Hạ huyết áp
  • Vã mồ hôi gia tăng
  • Những vấn đề tình dục
  • Bước thân gấp ra trước
  • Phù các bàn chân

Tính đặc thù của bệnh Parkinson trong số những bệnh thoái hóa thần kinh (maladie neurodégénérative) phải được nhận biết tốt hơn.
NEUROLOGIE. Là căn bệnh thoái hóa thần kinh đứng thứ hai về tần số, bệnh Parkinson gây bệnh cho gần 150.000 người ở Pháp, với 9000 trường hợp mới mỗi năm. Bệnh thường được phát hiện vào khoảng năm 60 tuổi, đôi khi sớm hơn. Mặc dầu những dấu hiệu đầu tiên hết của bệnh có thể kín đáo (một sự vướng víu nhỏ khi viết, khi bước, khi thực hiện những động tác hàng ngày như cạo râu), khám lâm sàng đủ để chẩn đoán vì những triệu chứng của nó gợi ý : run lúc nghỉ (tremblement au repos), cứng khớp và chậm chạp, khó khởi động những cử động khiến ít nghi ngờ đó là bệnh Parkinson. Sau đó những dấu hiệu không phải vận động khác, chứng trầm cảm, đau, những rối loạn tiêu hóa, những rối loạn nhận thức (trouble cognitif) có thể xuất hiện. Trong quá trình tiến triển của bệnh, những rối loạn vận động sẽ nặng dần, sự thăng bằng và bước trở nên không chắc chắn. Khó nói, khó nuốt cũng có thể xảy ra.
Tất cả những triệu chứng này có nguồn gốc là sự mất dần trong chất đen (substance noire) (một vùng nhỏ của não bộ) những neurone đặc biệt có nhiệm vụ chế tạo một chất trung gian thần kinh (neureomédiateur), dopamine. Khi những dấu hiệu đầu tiên của bệnh xuất hiện, một nửa những neurone dopaminergique đã biến mất. Những nguyên nhân của sự thoái hóa này vẫn không được biết rõ. Những biến dị di truyền giải thích 10% những trường hợp, và một tính mẫn cảm gia đình (susceptibilité familiale) hiện diện đối với 30% những bệnh nhân. Nhưng môi trường cũng can thiệp vào : tính hữu trách của các thuốc trừ sâu (pesticide) đã được chứng minh một cách rõ ràng ở vài bệnh nhân làm nghề nông.
Những thuốc có thể chữa tạm một thời gian sự vắng mặt dopamine. Chủ yếu đó là L-dopa, một tiền chất (précurseur) của dopamine, đó là những chất chủ vận (agoniste) bắt chước những tác dụng của dopamine, và đó là những chất ức chế (inhibiteur) làm chậm lại sự thoái hóa của dopamine bởi cơ thể. Điều trị bù sự thiếu hụt dopamine và làm giảm những triệu chứng, nhưng sau vài năm “trăng mật”, tính hiệu quả của nó trở nên dao động. Nó cũng là nguồn gốc của những cử động bất thường, được thêm vào những triệu chứng của bệnh. Ngoài việc sử dụng thuốc phải rất đúng giờ, kinésithérapie, orthophonie là một thành phần của điều trị, cũng như sự hỗ trợ tâm lý, không luôn luôn đủ…
Ta chưa biết chữa lành bệnh Parkinson, cũng như ngay cả kềm hãm tiến triển của nó. Nhưng vài công trình nghiên cứu mới đây cho thấy rằng bắt đầu có chuyển biến, mặc dầu phải vẫn thận trọng. Vào tháng giêng 2014, GS Stéphane Palfi (CHU Henri-Mondor, Créteil) đã loan báo những kết quả của một thử nghiệm sơ bộ của liệu pháp gène (thérapie génique), được tiến hành ở 15 bệnh nhân. Một vecteur viral, vận chuyển 3 gène cho phép tổng hợp dopamine, đã được tiêm vào trong một vùng nhỏ của não, striatum. Do lồng vào trong génome của những neurone này, vecteur viral dường như đã trao cho chúng khả năng sản xuất dopamine, mà sự tiết đã có thể được phát hiện nhờ chụp hình ảnh. “Vì lượng dopamine được tiết gia tăng với liều của vecteur được tiêm vào, nên ta có thể nghĩ rằng đó không phải là tác dụng placebo”, nhà chuyên khoa ngoại thần kinh đã xác nhận như vậy.” Nhưng ta chỉ có thể loại bỏ giả thuyết này bằng một công trình nghiên cứu sâu hơn.” Vecteur viral đang được cải thiện để tăng liều của transgène. ” Sau đó, một thử nghiệm nhiều trung tâm trên 60 bệnh nhân sẽ được bắt đầu để đánh giá một cách chính xác tính hiệu quả của liệu pháp này” Với mục tiêu chuyển qua điều trị vào khoảng năm 2020.
Thí dụ khác, một thử nghiệm điều trị tiền phong mới đây, được tiến hành bởi BS David Devos (CHRU Lille) gợi ý rằng, ở những bệnh nhân Parkinson đang được điều trị, thêm vào một traitement chélateur để làm giảm một ít nồng độ sắt, do đó làm giảm stress oxydatif tế bào, làm chậm lại sự tiến triển của các triệu chứng, nhất là nếu được đưa vào sớm. Một thử nghiệm lâm sàng nhiều trung tâm châu Âu sẽ xác nhận lợi ích của phương pháp mới này.
Ngoài ra, mặc dầu đến nay ta không biết một dấu hiệu báo trước nào của bệnh Parkinson, nhưng những công trình nghiên cứu đều khiến nghĩ rằng sự xuất hiện những rồi loạn khứu giác, hay trong giấc ngủ sự xuất hiện của những giấc mơ có thể đi trước vài năm sự xuất hiện của những triệu chứng đầu tiên. Đối với GS Marie Vidailhet (CHU Pitié-Salpêtrière, Paris), ” giữa nghiên cứu rất cơ bản về những cơ chế phân tử của bệnh Parkinson và nghiên cứu áp dụng lên các loại thuốc, tuyệt đối phải gìn giữ nghiên cứu lâm sàng về sinh lý bệnh của bệnh, thường được thực hiện trong các khoa bệnh viện “.
(LE FIGARO 22/6/2014)

2/ BỆNH PARKINSON : MỘT CĂN BỆNH PHỨC TẠP HƠN ĐIỀU MÀ TA HẰNG TƯỞNG.
” Cách nay một chục năm, ta hằng nghĩ rằng bệnh Parkinson được xác định duy nhất bởi sự chết của những neurone sản xuất dopamine “, neurobiologiste Etienne Hirsch (CNRS-CHU Pitié-Salpetrière, Paris) đã nhắc lại như vậy. Một trong những dấu hiệu của bệnh Parkinson là sự tạo thành trong những neurone này những kết tụ (agrégats) bất thường, những corps de Lewy, có thể thấy trên những lát cắt não. ” Sự khảo sát những biến dị hiếm của những thể gia đình đã cho phép nhận diện một protéine, alpha-synucléine, tích tụ dưới một dạng độc trong những neurone dopaminergique của những người bị bệnh Parkinson”, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy. Đó là thành phần chính của corps de Lewy. ” Nhiều kíp nghiên cứu bây giờ tìm cách hiểu những giai đoạn tích lũy đầu tiên hết của dạng độc của alpha-synucléine để cố ngăn cản sự tạo thành nó hay phế thải nó. Sự tích tụ alpha-synucléine, được nhận biết như bất thường bởi những tế bào miễn dịch, về lâu dài phát khởi một phản ứng viêm có tác dụng duy trì, làm lan truyền sự chết neurone. Ngoài ra vài thuốc kháng viêm có một tác dụng bảo vệ.
Bắt đầu từ cùng những dạng di truyền này cũng đã được nhận diện sự biến dị của gène của parkine. ” Sự biến dị này hiện diện trong 50% những dạng có khởi đầu sớm của bệnh. Bởi vì nó liên quan đến một protéine rất có liên quan trong các cơ chế thải bỏ các chất phế thải của tế bào, nên bây giờ ta nghĩ rằng sự thoái hóa tế bào thần kinh đúng hơn tương ứng với một khiếm khuyết phế thải các protéine bất thường, các cấu trúc tế bào bị biến thái, trở nên độc đối với những neurone.”
Do đó những kết quả này đã khiến phải xét lại quan niệm về bệnh Parkinson. ” Bây giờ ta biết rằng là sai khi nghĩ rằng chỉ có những neurone dopaminergique bị thương tổn và rằng những neurone khác thoái hóa khi bệnh tiến triển, như các neurone cholinergique, điều này giải thích những rối loạn bước, thăng bằng…Và căn bệnh không chỉ giới hạn vào não bộ mà còn, thí dụ, cũng ảnh hưởng ở ngoại biên, sự phân bố thần kinh dạ dày-ruột, do đó gây những triệu chứng tiêu hóa.” Hiểu những neurone khác này thoái hóa như thế nào cho phép hướng về những điều trị đặc hiệu của những triệu chứng không nhạy cảm với những thuốc dopaminergique này.
Còn về những yếu tố môi trường bị quy kết, như các thuốc trừ sâu, những chất độc đối với vài cấu trúc tế bào, những ty lạp thể (mitochondrie), có một vai trò quan trọng trong sự sản xuất năng lượng cần thiết cho các tế bào và những quá trình oxydation tế bào. ” Thế mà, những neurone dopaminergique sản xuất nhiều radical libre hơn những tế bào khác do sự oxy hóa của dopamine và cũng ít được bảo vệ hơn những neurone khác đứng trước những radical libre, nguồn của stress oxydatif.” Thương tổn của các ty lạp thể do đó lại còn làm gia tăng tình trạng mong manh này.
(LE FIGARO 22/6/2014)

3/ BỆNH PARKINSON : ĐIỀU TRỊ CẢI THIỆN TRÊN CÁC TRIỆU CHỨNG.
Chịu trách nhiệm các triệu chứng chính của bệnh, sự thiếu hụt dopamine có thể được bù hay kềm hãm bởi những loại thuốc, trong số đó L-dopa là hiệu quả nhất. Chất précurseur này được biến hóa thành dopamine trong não. Nhưng sau 4-5 năm sử dụng, những tác dụng phụ xuất hiện. Bệnh nhân, đột ngột bị bloqué, chỉ tìm lại vận động với một liều mới. Tác dụng phụ khác, sự xuất hiện những cử động ký sinh, những loạn vận động (dyskinésie).
” Để giảm những tác dụng phụ của nó, ta giảm liều của L-dopa bằng cách phối hợp chúng với những thuốc chống bệnh Parkinson khác “, GS Olivier Rascol (CHU Toulouse) đã giải thích như vậy. Những thuốc có cùng tác dụng (agoniste) với dopamine gây nên ít dao động và ít loạn vận động (dyskinésie) hơn so với L-dopa. ” Nhưng chúng ít mạnh hơn và có thể gây nên những comportement impulsif (cờ bạc, mua sắm vô độ…trong 10% những trường hợp”. Ngoài những tác dụng vận động, dopamine có một vai trò quan trọng trong những circuit cérébral de la récompense, do đó tác động tâm thần của những rối loạn này. Nếu loạn vận động và những hành vi thôi thúc (impulsions) thể hiện hơn một tác dụng quá mức, hyperdopaminergique của điều trị, những blocage, apathie (vô cảm), lo âu, trầm cảm, ngủ gà là những dấu hiệu của một trạng thái ngược lại.
” Lúc đầu, những triệu chứng của bệnh ít nặng nề hơn và điều trị nhờ đến những agonistes dopaminergiques khác nhau đồng thời cố gắng đưa vào L-dopa muộn hơn, khi những rối loạn trở nên trầm trọng. Thật vậy, những bệnh nhân trẻ, đáp ứng tốt hơn những thuốc dopaminergique, cũng có nguy cơ nhất bị những tác dụng vận động không mong muốn. L-dopa được cho tức thời sau 65-70 tuổi, những bệnh nhân già có ít những biến chứng vận động hơn”.
450 BỆNH NHÂN ĐƯỢC MỔ MỖI NĂM Ở PHÁP
Những loạn vận động (dyskinésie), đôi khi rất handicapant với tiến triển của bệnh, có thể được làm giảm bằng kích thích vùng sâu não (stimulation cérébrale profonde) qua những điện cực được cấy vào bằng ngoại thần kinh. ” Sự kích thích không làm chậm lại tiến triển của bệnh. Nó chỉ làm giảm những triệu chứng được cải thiện bởi L-dopa và chỉ được đề nghị cho những bệnh nhân đáp ứng tốt với L-dopa nhưng bị những fluctuation quan trọng”, GS Emmanuel Broussolle, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh (CHU Lyon) đã xác nhận như vậy. ” Những bệnh nhân được mổ phải dưới 70 tuổi, không bị trầm cảm nặng, không bị những trouble cognitif hay rối loạn bước vì những chứng này sẽ bị trầm trọng thêm bởi phẫu thuật, hay những bệnh trầm trọng khác như đái đường hay bệnh tim mạch. Sau đó sự duy trì thuốc ở liều thấp nhất là cần thiết để duy trì những tác dụng dương tính của dopamine lên psychisme.”
Khoảng 450 bệnh nhân được mổ mỗi năm ở Pháp, con số dần dần gia tăng. Một công trình nghiên cứu mới đây của Pháp và Đức đã cho thấy rằng nếu mổ các bệnh nhân sớm hơn, chất lượng sống của họ sau đó được bảo tồn tốt hơn. Cũng vậy, can thiệp cũng có thể được mở rộng cho những bệnh nhân lớn tuổi hơn. Nhưng ngay cả như thế nhiều bệnh nhân từ chối vì những lý do y khoa.
Những giải pháp khác có thể mang lại một điều trị ổn định hơn trong những thể tiến triển không thể mổ được, đặt một bơm phóng thích thuốc điều trị một cách liên tục dưới da, hay một sonde mang thuốc trực tiếp vào ống tiêu hóa. Nhưng, GS Rascol nhắc lại, ” chúng ta chưa thể tiên đoán bệnh nhân nào sẽ phát những biến chứng, cũng như không biết đó là những biến chứng nào”. Sự thành lập một cohorte nationale tập hợp từ nay tất cả những bệnh nhân Parkinson, và sự thành lập một mạng nghiên cứu lâm sàng quốc gia duy nhất sẽ cho phép tiến bước trên con đường này.
(LE FIGARO 22/6/2014)

4/ UNG THƯ TIÊU HOÁ : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA ASPIRINE.
Một công trình nghiên cứu của Hòa Lan (đại học Leyden), mới được trình bày gần đây ở Vienne nhân hội nghị châu Âu về Ung thư, vừa cho thấy rằng, sau khám phá một ung thư tiêu hóa ác tính, aspirine, với liều thấp, phối hợp với điều trị, làm giảm tỷ lệ tử vong. Các tác giả đã phân tích những dữ kiện của 13.7000 người ở họ một ung thư đại trực tràng hay thực quản đã được chẩn đoán giữa năm 1998 và 2011. Công trình nghiên cứu đã tiết lộ rằng đối với cùng một ung thư, tỷ lệ sống sót trung bình là 75% ở những bệnh nhân dùng aspirine liều thấp, so với chỉ 42% những người khác. Ngoài tính chất chống viêm, tác dụng có lợi của aspirine là do hoạt tính chống ngưng kết của nó lên các tiểu cầu, như thế ngăn cản sự tạo thành những cục máu đông trong đó các tế bào ung thư dấu mình để thoát những tế bào miễn dịch.
(PARIS MATCH 15/10/2015-21/10/2015)

5/ RUN KHÔNG RÕ NGUYÊN NHÂN (TREMBLEMENT ESSENTIEL) : KHÁM PHÁ NGUỒN GỐC CỦA CĂN BỆNH VÀ HƯỚNG ĐIỀU TRỊ.
GS Frédéric Calon, nhà nghiên cứu của Centre de recherche của CHU de Québec. Giáo sư khoa dược của đại học Laval (Québec), giải thích tầm quan trọng của việc nhận diện một nguyên nhân khả dĩ của những triệu chứng, điều này mở đường cho những điều trị mới.
Hỏi : Những triệu chứng của căn bệnh thần kinh này là gì ?
GS Frédéric Calon : Trong 90% các trường hợp, căn bệnh thần kinh này được biểu hiện bởi dấu hiệu run bàn tay, nhất là khi hoạt động. Ở 1/3 những bệnh nhân, run cũng xảy ra ở đầu. Ta ước tính rằng cứ 20 người thì có một bị chứng bệnh này sau 65 tuổi.
Hỏi : Bệnh lý này tiến triển như thế nào ?
GS Frédéric Calon : Nói chung, nó trở nên trầm trọng với thời gian và tùy theo những biến cố của cuộc sống, có thể là những yếu tố tạo thuận.
Hỏi : Ta có biết nguyên nhân của chứng bệnh này không và những yếu tố làm dễ là những yếu tố nào ?
GS Frédéric Calon : Ta biết rằng có những nguyên nhân di truyền : ta tìm thấy căn bệnh thần kinh này trong vài gia đình. Ngược lại, ta đã nhận diện những yếu tố tạo thuận làm trầm trong các triệu chứng : stress, cà phê, thuốc lá, những boissons énergisantes, vài điều trị…
Hỏi : Những loại thuốc nào có thể gây run ?
GS Frédéric Calon : Acide valproique, lithium và vài thuốc chống hen phế quản…Một tuyến giáp tăng hoạt cũng có thể gây những triệu chứng này.
Hỏi : Làm thế nào không lầm lẩn một tremblement essentiel với một bệnh Parkinson ?
GS Frédéric Calon : Những người bị bệnh Parkinson có dấu hiệu run được biểu hiện lúc nghỉ ngơi và giảm khi hành động, những cử động chậm và bệnh nhân cảm thấy khó thực hiện chúng. Vào lúc đầu của căn bệnh Parkinson, chỉ một bàn tay bắt đầu run, rồi bàn tay kia vài tháng sau.
Hỏi : Làm sao những người này sống căn bệnh của họ ?
GS Frédéric Calon : Tremblement essentiel rất là handicapant. Bệnh nhân khó khăn khi ăn uống vì bị run. Họ cảm thấy một sự trở ngại trong đời sống xã hội đến độ vài người tránh điều đó. Các phụ nữ không còn có thể trang điểm, các nhạc sĩ không thể chơi nhạc nữa…
Hỏi : Hiện nay ta điều trị tremblement essentiel như thế nào ?
GS Frédéric Calon : Bằng hai điều trị chính. Một có cơ sở là một thuốc chống cao áp trong mục đích làm giảm triệu chứng run. Điều trị kia là một dẫn xuất barbiturique, tác dụng lên các cơ quan thụ thể của não bộ, những récepteur GABA để làm giảm tính kích thích của vài neurone.
Hỏi : Những kết quả của những điều trị này là gì ?
GS Frédéric Calon : Ta có được một tỷ lệ giảm đáng kể 50% những triệu chứng run. Nhưng một phần lớn các bệnh nhân dung nạp kém những tác dụng phụ : thuốc chống cao áp làm chậm chức năng tim, nguồn mệt mỏi đôi khi có thể dẫn đến ngất ; dẫn xuất barbiturique làm giảm trí năng và gây ngủ gà.
Hỏi : Trong những công trình của ông, ông đã khám phá gì ?
GS Frédéric Calon : Lúc quan sát não bộ của 9 người chết vì tremblement essentiel, ta đã nhận diện trên tiểu não của 5 trong số những người này những nồng độ tăng cao của peptide beta-amyloide, hiện diện với lượng quan trọng ở những bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, nhưng trong một vùng khác của não. 5 người này đã được theo dõi bởi cùng thầy thuốc thần kinh : không ai đã bị bệnh Alzheimer cả.
Hỏi : Tại sao việc đã nhận diện nguồn gốc của tremblement essentiel là quan trọng đến như vậy ?
GS Frédéric Calon : Nguyên nhân của tremblement essentiel vẫn là một bí mật. Sự khám phá peptide beta-amyloide với số lượng bất thường này trong tiểu não là dấu hiệu của một sự thoái hóa của mô não : protéine này có thể gây tổn hại vài circuit de neurone và, lúc làm rối loạn những sự giao tiếp của chúng, làm phát khởi những triệu chứng run.
Hỏi : Sau khám phá này, ông nghĩ nhờ đến những họ thuốc nào ?
GS Frédéric Calon : Trên cơ sở khám phá này, chúng tôi nghĩ đến những loại thuốc làm hạ nồng độ protéine amyloide trong tiểu não, điều này làm giảm mạnh những triệu chứng run với những tác dụng phụ tối thiểu. Thí dụ ta có thể xét kê đơn những chất ức chế những men góp phần sản xuất protéine amyloide. Ta nghĩ đến việc sử dụng tất cả những công trình đang được tiến hành nhằm tìm cách làm giảm những dépôt de protéines amyloides.
(PARIS MATCH 15/10/2015-21/10/2015)

6/ UNG THƯ : CHẨN ĐOÁN BẰNG XÉT NGHIỆM MÁU ?
Sinh thiết không phải là một động tác vô hại. Giải pháp thay thế lý tưởng là có thể nhận diện các ung thư một cách ít xâm nhập hơn chỉ bằng xét nghiệm máu. Ưu điểm cũng là thực hiện một chẩn đoán sớm, trước khi những chất chỉ dấu cổ điển có thể đo được trong máu hay trước khi những dấu hiệu bệnh xuất hiện, điều này gia tăng xác suất chữa lành. Khi các tế bào chết, chúng phóng thích ADN của chúng trong máu. Một kíp những nhà nghiên cứu của Imperial College de Londres đã hiệu chính một phương pháp có khả năng phát hiện một cách nhanh chóng những ADN lưu thông trong máu có những biến dị đối với những ung thư thường gặp nhất, như ung thư phổi và ung thư đại tràng. Trong một công trình nghiên cứu được thực hiện ở 223 bệnh nhân bị ung thư phổi, trong 70% những trường hợp trắc nghiệm đã cho cùng chẩn đoán như mô học sau sinh thiết.
(PARIS MATCH 1/10-7/10/2015)

7/ NHỮNG NGƯỜI LÀM VIỆC NHIỀU DỄ BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO HƠN.
Làm việc trên 55 giờ mỗi tuần gia tăng nguy cơ tai biến mạch máu não.
NEUROLOGIE. Làm việc nhiều thường là một dấu hiệu của một fort investissement professionnel, valorisé et valorisant. Ngoài ra có một việc làm có tác dụng chống lại chứng trầm cảm. Nhưng những ngày làm việc rất dài cũng có thể có một tác dụng có hại lên sức khỏe do làm gia tăng nguy cơ bị tai biến mạch máu não, một công trình nghiên cứu của Anh, được công bố hôm qua trong tạp chí chuyên môn The Lancet đã kết luận như vậy.
Các tác giả của phân tích đã sàng lọc một loạt các dữ kiện về 600.000 người, được theo dõi trong 7 đến 8 năm. Theo tính toán của họ, những người làm việc 55 giờ mỗi tuần hay nhiều hơn có nguy cơ bị tai biến mạch máu não gia tăng 33% so với những người làm việc 35-40 giờ mỗi tuần. ” Trong một nhóm 1000 người làm việc 35-40 giờ mỗi tuần, ta thống kê 4,5 tai biến mạch máu não. Trong một nhóm mà những người làm việc 55 giờ mỗi tuần hay nhiều hơn, ta chuyển qua 6 tai biến”, GS Mika Kivimaki (University College London) đã ghi nhận như vậy. Nguy cơ bị những bệnh động mạch vành cũng cao hơn ở những người làm việc nhiều nhưng trong một chừng mực ít hơn (+13%).
” Khám phá này là quan trọng bởi vì nó nói ngược lại một ý tưởng rất phổ biến, nhưng không bao giờ được kiểm chứng, theo đó sự việc làm việc nhiều có một tác động quan trọng lên tim hơn là lên các tai biến mạch máu não. Thế mà đó là điều trái lại”, GS Mathieu Zuber, trưởng khoa thần kinh thuộc bệnh viện Saint-Joseph (Paris) đã nhận xét như vậy.
Nguy cơ tai biến mạch máu não gia tăng dần dần khi những ngày làm việc dài ra : 10% ở những người làm việc từ 41 đến 48 giờ mỗi tuần, và 27% đối với những người làm việc từ 49-54 giờ mỗi tuần. Ở Pháp, một người lao động toàn thời gian trên ba làm hơn 40 giờ mỗi tuần, theo OCDE.
Với 33.000 trường hợp tử vong mỗi năm ở Pháp, theo Institut national de veille sanitaire, tỷ lệ tử vong do tai biến mạch máu não là một enjeu de santé publique quan trọng, nhất là trong nhiều trường hợp điều này có thể tránh được. Một tai biến mạch máu não tương ứng với một sự gián đoạn đột ngột của sự tưới máu não dưới tác dụng của một cục máu đông làm nghẽn tắc một động mạch hay của một xuất huyết não. Những yếu tố nguy cơ chính được biết và thường có thể tránh được : cao huyết áp, tăng cholestérol huyết, bệnh đái đường, tuổi (trung bình 72-3 tuổi), chứng nghiện thuốc lá, sự tiêu thụ rượu và tình trạng nhàn rổi không hoạt động.
Công trình nghiên cứu của Lancet không cho phép nhận diện một cách chính xác những cơ chế liên kết thời gian lao động với tăng nguy cơ tai biến mạch máu não, nhưng các tác giả đưa ra vài giả thuyết : ” những đợt stress liên tiếp có thể ” làm tăng cao huyết áp, nhịp tim và gia tăng những loạn nhịp và sự đông máu”, tình trạng nhàn rổi không hoạt động và sự tiêu thụ rượu , thường quan trọng hơn trong những quần thể này.
GS Norbert Nighoghossian, trưởng khoa thần kinh mạch máu thuộc CHU de Lyon, cảnh cáo chống lại những kết luận hấp tấp, ” Những liên hệ giữa stress và tai biến mạch máu não là phức tạp. Phải chăng stress gây tai biến mạch máu não hay sự mất ngủ sinh ra bởi stress ? Sự mất ngủ này phải chăng không che dấu một tình trạng trầm cảm ?”, ông đã nói như vậy. Tuy vậy, những kết luận của các tác giả “có ý nghĩa”. ” Những người chuyên nghiệp làm việc nhiều nhất, những cán bộ cao cấp, những người lao động độc lập và những nông gia, có khuynh hướng được nuôi dưỡng kém hơn, có những nhịp ngủ và sự ăn uống ít được điều hòa hơn và sédentaire hơn “, ông đã giải thích như vậy. Những nhà chuyên nghiệp thường không thể hay không muốn giảm thời gian lao động của họ
Vậy đối với GS Zuber, những kết quả này phải khiến các thầy thuốc thực hành vấn chẩn nhiều hơn các bệnh nhân của họ về charge de travail và những điều kiện của lao động này, để đưa ra những message de prévention thích ứng và cảnh cáo những người làm việc trở lại sau một tai biến mạch máu não đầu tiên.
(LE FIGARO 21/8/2015)

8/ PHẪU THUẬT U NÃO TRÊN BỆNH NHÂN THỨC TỈNH : MỘT PHUƠNG PHÁP CẢI TIẾN
GS Philippe Metellus, BS chuyên khoa ngoại thần kinh của Hopital Clairval de Marseille, mô tả kỹ thuật cho phép làm giảm những di chứng thần kinh.
Hỏi : Ta xét đến một phẫu thuật đối với những khối u nào của não ?
GS Philippe Metellus : Có hai loại lớn những khối u nội sọ : những khối u nằm trong não và những khối u nằm trong lớp vỏ của não. Đối với những khối u nằm trong não, những gliome và những di căn là thường gặp nhất. Những khối u của lớp vỏ bao gồm chủ yếu những méningiome (70%), phát triển trong những màng não, và những neurinome (30%), định vị trong những gaine của các dây thần kinh. Trong 95% các trường hợp, các méningiome và những neurinome là lành tính, nhưng ta buộc phải mổ chúng bởi vì chúng lớn lên. Khi các khối u có thể tiếp cận, ngoại khoa là điều trị đầu tiên.
Hỏi : Đối với một bệnh nhân, mổ sọ gây sợ hãi. Những nguy cơ là gì ?
GS Philippe Metellus : Chúng phụ thuộc vào định vị của khối u. Nếu khối u nằm gần một vùng cơ năng (zone fonctionnelle) chỉ huy vận động, ngôn ngữ, thị giác…nguy hiểm (hiếm với những kỹ thuật hiện nay) là làm thương tổn những vùng này. Khi đó sẽ có những di chứng : liệt một phần nhưng có thể đảo ngược được, rối loạn lời nói, thị giác, thính giác…
Hỏi : Từ khi nào ông thực hiện phẫu thuật trên bệnh nhân thức tỉnh này ?
GS Philippe Metellus : Cho đến cuối những năm 1980, ta không mổ những khối u nằm gần những vùng cơ năng. Vài năm sau, những người Mỹ đã bắt đầu thực hiện điều đó trên bệnh nhân thức tỉnh nhờ một kỹ thuật mới. Ở Pháp, vào cuối những năm 1990, ta đã theo phương pháp này, có thể thực hiện chỉ ở những khối u nằm trong não, với điều kiện không có chống chỉ định.
Hỏi : Những chống chỉ định nào ?
GS Philippe Metellus : Phẫu thuật này không thể xét đến khi khối u nằm ở thân não hay khi một gliome multifocal đã xuất hiện ở nhiều vùng của não. Những di căn liên kết với những thương tổn của các màng não cũng không thể mổ được.
Hỏi : Kỹ thuật ngoại khoa mới thực hiện trên bệnh nhân thức tỉnh của ông diễn ra như thế nào ?
GS Philippe Metellus : Trong thời kỳ tiền phẫu, ta thực hiện một IRM não để định vị rõ khối u và xác định vị trí những vùng chung quanh. Phẫu thuật viên mở hộp sọ và lớp vỏ của nó. Bệnh nhân sau đó thức dậy, nhưng không hề cảm thấy đau đớn (não không được phân bố thần kinh), rồi ta thực hiện một số trắc nghiệm nào đó sẽ cho phép nhận diện những vùng của não thiết yếu cho một chức năng nhất định.
Hỏi : Những trắc nghiệm này là gì ?
GS Philippe Metellus : Những bài tập đọc nhằm kiểm tra những vùng cơ năng (ngôn ngữ, nhìn, thính giác…). Trong những thăm dò này, thầy thuốc ngoại khoa kích thích những vùng bị thương tổn để đảm bảo rằng sự cắt bỏ không gây nên một di chứng nào. Một kỹ thuật mới, électrocorticographie, là một tiến bộ lớn. Nó ghi en temps réel hoạt động điện của não, và cho phép một sự chính xác lớn hơn trong việc xác định vị trí của những vùng cần phải tránh.
Hỏi : Những bệnh nhân này phản ứng như thế nào ?
GS Philippe Metellus : Trong 90% các trường hợp, họ yên tĩnh, bởi vì họ cảm thấy người mổ đang chữa lành họ. Sau phẫu thuật, 1/3 không còn nhớ là đã bị đánh thức dậy.
Hỏi : Tóm lại, những ưu điểm của phương pháp ngoại khoa mới của ông là gì ?
GS Philippe Metellus : Có 3 ưu điểm chính. 1. Gia tăng lượng của mô u não được lấy đi khi cần thiết. 2. Làm giảm những nguy cơ di chứng thần kinh. 3. Kéo dài thời gian thuyên giảm và cải thiện chất lượng sống ở những bệnh nhân bị di căn não và gliome.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh những lợi ích này.
GS Philippe Metellus : Một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi GS Michel Berger (đại học Californie ở San Francisco), đã chứng minh rằng phương pháp này làm giảm những di chứng thần kinh (“New England Journal of Medicine”). Hai công trình nghiên cứu khác của Johns Hopkins Center de Boston đã cho thấy rằng với phương pháp này qua đó ta đánh thức bệnh nhân và ta lấy 90% gliome, ta cải thiện tỷ lệ sống còn và đôi khi ta có được một sự thuyên giảm hoàn toàn (“Journal of Clinical Oncology” và “Journal of Neurosurgery”). Mới đây hơn, kíp của tôi đã báo cáo những kết quả của chúng tôi với kỹ thuật électrocorticographie.
(PARIS MATCH 1/10-7/10/2015)

9/ MỘT THUỐC CHỐNG ĐỘNG KINH TRONG CƠN NGUY BIẾN
Một gia đình kiện công ty Sanofi vì đã không thông báo về những tác dụng phụ nghiêm trọng đối với các phụ nữ có thai
SANTE PUBLIQUE. ” Dépakine, đó là vụ tai tiếng của các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh”, một giáo sư lỗi lạc về thần kinh học trong một bệnh viện lớn ở Paris dã tâm sự như vậy.
Gia đình Martin, mà hai con, Salomé (sinh năm 1999) và Nathan (sinh năm 2002) bị những dị tật, kiện công ty Sanofi ra toà. Họ vừa đưa đơn kiện cho procureur de la République ở Paris. Những điểm chính để buộc tội quả là nghiêm trọng : cho chất có hại, gây thương tổn không cố ý lên sự toàn vẹn của con người, đánh lừa gia trọng, gây nguy hiểm cho kẻ khác, không thông báo những tác dụng phụ nghiêm trọng.
Marine, mẹ của Salomé và Nathan, bị động kinh từ năm 6 tuổi, được điều trị với valproate de sodium, được thương mãi hóa ở Pháp bởi Sanofi dưới tên Dépakine. Được phép đưa ra thị trường năm 1960. Trong hai lần mang thai, Marine đã dùng loại thuốc này, nhưng y sĩ đoàn không bao giờ nói với bà về những tác dụng phụ. Hai đứa con ra đời với một spina bifida occulta (dị dạng do một défaut để fermeture của hệ thần kinh) nhưng Nathan bị nặng nhất. Cậu ta, ngoài những vấn đề khác ra, bị những vấn đề ở dương vật, ở các dây gân, rối loạn thị giác, ngôn ngữ và điếc, cần sự hiện diện của một aide de vie scolaire 18 giờ mỗi tuần. Chỉ vào năm 2009 mà Marine Martin đã hiểu mối liên hệ giữa những phế tật của các con mình và sự sử dụng thuốc chống động kinh của bà trong thời kỳ thai nghén. Mối liên hệ đã được xác nhận bởi một nhà di truyền học 2 năm sau.
Có cảm giác ” chứng kiến một vụ hiếp dâm trong métro mà chẳng ai can thiệp”, bà quyết định thành lập một hiệp hội giúp đỡ những bố mẹ của các trẻ em bị syndrome de l’anticonvulsivant. Ra đời vào năm 2011, hôm nay hiệp hội có 300 hội viên đại diện cho 500 trẻ em bị phế tật.
Vấn đề của Dépakine, đó là tài liệu khoa học bắt đầu đề cập vấn đề về những tác dụng phụ lên thai nhi năm 1982. Tệ hại hơn, một tài liệu xuất bản năm 1994 của Developmental Medicine and Child Neurology ghi nhận rằng ” tất cả các bà mẹ động kinh được điều trị phải được cảnh báo về nguy cơ gây dị tật của valproate trong thời kỳ thai nghén, để cho điều trị có thể được xét lại “. Nhưng trong Vidal, và điều này cho mãi đến năm 2006, ta có thể đọc đoạn văn về thai nghén : ” Ở một phụ nữ có bệnh động kinh được điều trị bởi valproate, khuyên không nên có thai dường như đó là điều không chính đáng.” Chỉ vào năm 2007 mà điều ghi chú này biến mất, để được thay thế bởi ” nếu dự kiến có thai, tất cả các biện pháp sẽ được thực thi để xét đến việc nhờ đến những điều trị khác”.
SINH VỚI HAI NGÓN CÁI.
Dường như message đã không được chú ý. Cécile và Armand đã có tất cả những khó khăn để có con. Vào năm 2006, họ bắt đầu chặng đường của PMA trong những bệnh viện của vùng Paris. FIV đã xảy ra vào tháng ba 2008 và những trẻ sinh đôi sinh ra vào cuối tháng 11. Albin, suy hô hấp, được đưa vào phòng hồi sức, và Marie, vì trọng lượng thấp, được đưa vào néonatologie. Bà mẹ lên một cơn động kinh hai ngày sau và cũng được đưa vào phòng hồi sức. Chỉ một tuần sau khi sinh mà bố mẹ khám phá rằng con trai của họ có hai ngón cái ở bàn tay phải. Không một thầy thuốc nào đã nói với họ (đa khoa, thần kinh, phụ khoa) rằng valproate là một nguy cơ đối với thai nhi. Chỉ vào năm 2014 mà một thầy thuốc nhi khoa đã buông lời với họ : ” Đó là một đứa trẻ Dépakine”. Hôm nay, Albin, từ khi được mổ ở bàn tay, cần một hỗ trợ đời sống học đường 15 giờ mỗi tuần.
” Cũng như trong hồ sơ Mediator, phải cần nhiều năm tranh đấu của các hiệp hội và sự can thiệp của Cơ quan dược phẩm châu Âu để việc ngừng kê don những loại thuốc này cho những phụ nữ ở tuổi sinh để được khuyến nghị,Charles Joseph Oudin, luật sư gia đình đã phàn nàn như vậy.
(LE FIGARO 21/5/2015)

10/ UNG THƯ TỤY TẠNG / CHẨN ĐOÁN BẰNG XÉT NGHIỆM NƯỚC TIỂU
Các nhà nghiên cứu của đại học Queen Mary (Londres) đã nhận diện gần 1500 protéine trong nước tiểu của những người của hai giới tính. Những người bị ung thư tụy tạng có một sự tăng cao các nồng độ của 3 protéine (LYVE1, REG1A và TFF1), điều này đã cho phép chẩn đoán trong 90% các trường hợp mặc dầu không có các triệu chứng.
(PARIS MATCH 10/9/2015-16/9/2015)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(25/100/2015)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to Thời sự y học số 383 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 417 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 474 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  3. Pingback: Thời sự y học số 498 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s