Thời sự y học số 376 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/MÙA HÈ : MÙA CỦA TẤT CẢ NHỮNG NGUY HIỂM.
Trên đường hay ở nơi tận cùng của thế giới, dưới ánh nắng mặt trời hay đi cùng với sâu bọ vacances có thể nhanh chóng bị hỏng nếu ta không dè chừng..
PREVENTION. Từ trúng nắng (coup de soleil) đến maladie exotique, qua tai nạn đường xá và những tấn công bởi méduses, vacances có thể dành những mauvaises souvenirs. Y sĩ đoàn khuyến khích những du khách tìm hiểu những nguy cơ gặp phải tùy theo nơi đến của mình, để bảo vệ hay để đương đầu tốt hơn.
CẢNH GIÁC TRÊN ĐƯỜNG
” Những tai nạn đường xá là một nguyên nhân quan trọng của tỷ lệ tử vong và những vết thương lúc du lịch ; tuy vậy, nguy cơ này quá thường bị lãng quên “, GS Eric Caumes, phụ trách những khuyến nghị y tế, được công bố bởi Bộ y tế, đã lấy làm tiếc như vậy. Vậy khuyên nên tìm hiểu về những quy tắc lái xe, mức độ an toàn và tình trạng đường xá của nước được thăm viếng. GS Caumes nói thêm : ” Mặc dầu rất là thèm muốn, tốt hơn là tránh scooter, nhất là không đội casque, và lái xe vào ban đêm.”
COI CHỪNG NHỮNG BỆNH NHIỄM TRÙNG.
” Trước khi xuất hành, điều đầu tiên cần làm là cập nhật những tiêm chủng được khuyến nghị ở Pháp : thí dụ dự phòng chống bệnh sởi bởi vì bệnh này thường gặp hơn ở nước ngoài “, GS Jean -Louis Koeck, chuyên gia về phòng ngừa những bệnh nhiễm trùng ở bệnh viện quân y Robert-Piqué (Bordeaux) đã nhấn mạnh như vậy. Tùy theo vùng thăm viếng, buộc phải chủng những vaccin khác.” Sự tiêm chủng chống viêm gan A được quy định đối với mọi du lịch trong một vùng có trình độ vệ sinh thấp, sốt vàng (fièvre jaune) được đòi hỏi trong vài nước nhiệt đới “, GS Koeck đã nói như vậy. Một bảo vệ chống lại bệnh dại, bệnh thương hàn hay những não cầu trùng cũng có thể được đề nghị. Trên médecinesvoyages.net mọi người có thể xác định couverture vaccinale tối ưu tùy theo nước được thăm viếng, tuổi tác, tình trạng sức khỏe, mùa và những điều kiện tiện nghi của du lịch.
CHỜ NHỮNG CÔN TRÙNG CHÍCH
Những chiếc mùng được tẩm với thuốc trừ sâu vào ban đêm, quần áo che kín người và những thuốc đuổi côn trùng (produits répulsifs) ban ngày : một bảo vệ hiệu quả chống lại muỗi chích, truyền các ký sinh trùng và virus, là thiết yếu để dự phòng chống những bệnh nhiễm trùng, rồi một cách gián tiếp phòng ngừa sự phát tán của chúng ở Pháp. ” Không những bệnh chikungunya và dengue có thể cho những thể nặng, mà hôm nay chúng con đe dọa nước Pháp, là nơi moustique tigre, vecteur truyền bệnh của chúng, hiện diện”, GS Caumes đã nhắc lại như vậy. Về phòng ngừa bệnh sốt rét, cần khám chuyên môn. Sau cùng một infestation bởi punaise de lit (rệp) thường khó trừ tiệt và mệt nhọc về mặt tâm lý. Rệp hiện diện diện trong khách sạn, ngay cả xa hoa, những bateau de croisière, xe hỏa, tàu bay..Trong trường hợp nghi ngờ hãy cách ly tất cả những hành l trong những túi bằng plastique trên một bề mặt lát gạch vuông xa mọi nơi mà các con rệp có thể xâm thực (khu vực ngủ), rồi rửa tất cả và sấy khô ở 60 độ.
DÈ CHỪNG CÁC CON SỨA (MEDUSE)
Được tạo điều kiện bởi sự sưởi ấm khí hậu và sự hiếm hoi của các vật ăn mồi (prédateurs), sự tăng sinh của các con sứa có thể làm hỏng một ngày ở bãi biển. Mặc dầu hiền tính, những vết bỏng do chúng gây nên là đau đớn và đôi khi khó lành sẹo. ” Trong trường hợp bị tấn công, phải đi ra khỏi nước ngay để tránh một tình trạng khó ở (malaise) “, BS Magali Labadie, urgentiste toxicologue thuộc CHU de Bordeaux đã nói như vậy Hãy đặt mousse à raser (xà phòng cạo râu) hay cát khô lên vết thương, rồi tưới rửa bằng nước biển, để tách những mảng xúc tu còn dính chặt mà không làm trầm trọng sự trúng nọc (envenimation). Trên vùng duyên hải đại tây dương, một đe dọa mới phát khởi được quan sát từ năm 2010 bởi Viện theo dõi y tế. Physalie có thân bồng bềnh trên mặt nước kéo lê những xúc tu (tentacule) kích thích có thể đạt đến 30 m chiều dài. Theo BS Labadie, venin của nó có thể gây nên những thương tổn cơ, hô hấp và thần kinh. Sự gặp gỡ với animal marin này tỏ ra nghiêm trọng trong 7% những trường hợp”. Gần 900 nạn nhân do loài này gây nên đã được ghi nhận năm 2011, một năm kỷ lục.
TRÁNH ỈA CHẢY KHÁCH DU LỊCH
Ỉa chảy vẫn là vấn đề y tế thường gặp nhất lúc du lịch. Đợt cấp tính này, thường là hiền, kéo dài từ 1 đến 3 ngày. Theo Bulletin épidémiologique hebdomadaire (BEH), ” ỉa chảy thường do sự tiêu thụ những thức ăn rắn hơn là nước uống”. Những quy tắc vệ sinh nghiêm túc cho phép tránh điều đó : rửa tay thường xuyên, tránh thức ăn ngoài đường, kem, những đồ ăn sống, ăn chín và chỉ tiêu thụ nước trong chai (được mở ra trước mặt mình).
NGHĨ DỰ PHÒNG CHỐNG ÁNH NẮNG MẶT TRỜI.
Không khí nghỉ hè có thể làm quên những nguy hiểm của ánh nắng mặt trời, nhưng những quy tắc căn bản (không đi ra ngoài giữa 12 và 16 giờ, mang tee-shirt và đội mũ, crème solaire, hydratation tốt…) bắt buộc để tránh coup de soleil và tăng thân nhiệt, nhất là ở các nhũ nhi và các trẻ em nhỏ.
HƠN 1000 TRƯỜNG HỢP CHẾT ĐUỐI MỖI NĂM
Chết đuối, nhất là các em nhỏ, là một trong những nguyên nhân chính của tử vong do tai nạn. Giữa tháng sáu và tháng chín năm 2012, Viện theo dõi y tế quốc gia đã thống kê ở Pháp 1238 trường hợp chết đuối. Trong khoảng 40% các trường hợp, chúng đưa đến chết. Đại đa số những tai nạn này xảy ra ở biển. ” Nguy cơ chết đuối do luồng nước mạnh trầm trọng trong các nước đang phát triển, do không có giám thị bãi biển và những phương tiện cứu “, BEH đã cảnh cáo như vậy. Những trẻ dưới 6 tuổi, phần nhiều không biết bơi và thường trả giá cho một sự theo dõi thiếu sót, chiếm 14% những người chết đuối. Những tai nạn ở sông hay trên những plan d’eau chủ yếu xảy đến ở những người trên 45 tuổi và thường xuất hiện sau một té ngã, một sự uống rượu quá mức hay lúc hoạt động đơn độc.
(LE FIGARO 7/7/2014)

2/ ĐI HÈ VỀ : COI CHỪNG NHỮNG KỶ NIỆM XẤU VỀ NHIỄM TRÙNG.
INFECTIOLOGIE. Tất nhiên ta không ý thức là bị phơi bày khi ta đi dưới các cây dừa trong một khách sạn 5 sao, nhưng một palace, dầu xa hoa như thế nào đi nữa, đã không bao giờ ngăn cản một côn trùng chích ! ” Những khách sạn này sử dụng những thuốc diệt côn trùng, nhưng vì họ tưới dồi dào các bãi cỏ và rằng các ấu trùng (larves d’insecte) cần nước để phát triển, nên nguy cơ zéro không hiện hữu. Dĩ nhiên lý tưởng là đi khám bệnh trước khi xuất hành để kiểm điểm những nguy cơ gặp phải, tùy theo nơi đến của mình, những nơi được lui tới, cách du lịch và tình trạng sức khỏe, nhưng vào lúc trở về dĩ nhiên là quá muộn. Vì vậy điều quan trọng là chú ý sự xuất hiện của vài triệu chứng có thể báo hiệu một nhiễm trùng bị mắc phải trong thời gian lưu trú : chủ yếu là sốt, ngứa hay nổi ban, những dấu hiệu tiết niệu như sự hiện diện của máu trong nước tiểu, đau khớp và, dĩ nhiên, ỉa cháy”, GS Eric Pichard, trưởng khoa các bệnh nhiễm trùng ở Angers và chuyên khoa về bệnh nhiệt đới, đã nhắc lại như vậy.
NHỮNG HÀNH VI NGUY CƠ
” Phần lớn những nhiễm trùng mắc phải lúc đi nghỉ hè phát khởi trong thời gian lưu trú hay trong những ngày sau khi trở về : vậy chính trong thời kỳ này cần phải cảnh giác”, BS Cédric Arvieux, thầy thuốc chuyên khoa truyền nhiễm thuộc CHU đe Rennes đã nhấn mạnh như vậy.
” Vài hành vi làm gia tăng nguy cơ này : đặc biệt liên hệ là những du khách không có kinh nghiệm, lợi dụng một promotion vào phút cuối, đi đến một nước ngoại lai mà không chuẩn bị trước. Cũng liên hệ là những du khách không ý thức tắm trong vùng nước ngọt và tù hãm. Những du khách không theo những điều thận trọng thường lệ đối với các bữa ăn : tối thiểu ăn những thức ăn nấu chín, chính mình mở nắp những chai nước uống, trong khi họ lưu trú ở một nơi có trình độ vệ sinh đáng ngờ. Những người có những giao hợp không được bảo vệ. Và sau cùng, những homme d’affaire buộc phải gi tăng những a đợt lưu trú ngắn ngày trong những vùng có nguy cơ sốt rét, mode de voyage này làm phức tạp sự phòng ngừa chống lại nhiễm trùng này bởi vì nó phải được tiếp tục sau khi trở về “, GS Pichard nói tiếp.
Chỉ cần một chút tín hiệu báo động, du khách, huống hồ là du khách có nguy cơ, phải báo cáo với thầy thuốc của mình ông ta từ đâu trở về và những triệu chứng mà ông ta có, để được thực hiện một bilan de base : ” Điều đó bao gồm đếm hồng bạch cầu và công thức máu để tìm kiếm một sự gia tăng các bạch cầu éosinophile có thể báo hiệu một parasitose, nhưng cũng một xét nghiệm phân, nước tiểu (nhất là trong trường hợp lưu trú ở châu Phi), thậm chí những phản ứng huyết thanh được định rõ nếu thầy thuốc nghi ngờ viêm gan hay một nhiễm trùng HIV do một hành vi có nguy cơ”, GS Jean-Paul Stahl, trưởng khoa bệnh truyền nhiễm (Grenoble) đã xác nhận như vậy.
Trong 10 ngày sau khi đi du lịch trở về, sốt với ia chảy thường báo hiệu một nhiễm trùng tiêu hóa do salmonelles (được biết nhất là sốt thương hàn) hay do shigelles (những vi khuẩn khác mắc phải bằng đường tiêu hóa). ” Từ tháng sáu, có một sự gián đoạn tiếp tế vaccin chống bệnh thương hàn cho thành phố (nhưng không cho các trung tâm chủng ngừa của CHU và những bệnh viện quân sự), vì vậy vài du khách có thể ra đi không được bảo vệ chống nhiễm trùng này. Một lý do để gia tăng cảnh giác lúc trở về, nhất là đối với những du khách về từ Ấn Độ. Trong trường hợp dương tính, các kháng sinh cần thiết để giải quyết vấn đề “, GS Pichard đã nhận xét như vậy.
INSECTES PIQUEURS
Những nhiễm trùng khác khả dĩ phát khởi trong những ngày hay tuần sau khi đi du lịch về : những nhiễm trùng được truyền bởi những insecte piqueur. ” Duoc biết nhất là sốt rét, nhưng chikungunya cũng làm lo ngại những người Pháp từ khi xay ra những trận dịch năm 2006 ở hải ngoại. Nhiễm trùng virus này gây sốt cao với đau khớp và, đôi khi một viêm gan. Mặc dầu không có điều trị triệt để, nhưng cuối cùng lành bệnh, GS Stahl đã trấn an như vậy. Nếu không, một sốt cao với mệt quan trọng và cảm giác đau khắp nơi, thậm chí một ban nhỏ, là bấy nhiêu những triệu chứng gợi ý bệnh dengue. Lại nữa thủ phạm là một virus được muỗi truyền. Không có một điều trị nào ngoài sự nhẫn nại và nghỉ ngơi. Chỉ nhập viện những người bị một dạng hiếm nhưng nặng dengue hémorragique, nhất là ở châu Á, dạng duy nhất có thể gây tử vong nếu không điều trị,
Đối với BS Mercedes Tatay, thầy thuốc chuyên môn bệnh nhiễm trùng thuộc bệnh viện Avicenne, ” Dengue rất phổ biến ở Antilles, ở châu Mỹ latin và ở châu Phi subsaharien. Những nơi đến nay rất được ưa chuộng bởi các du khách và những người hưu trí đi tìm ánh nắng mặt trời. Thế mà ở những lão niên, nguy cơ chính là làm mất bù một bệnh mãn tính có trước như một bệnh tim “. Một vaccin chống dengue được dự kiến cho năm 2015, nhưng nó chỉ có hiệu quả đối với 3 trong số 4 souches du virus.
(LE FIGARO 2/9/2013)

3/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG PHÁT RA MUỘN
Trong số những nhiễm trừng phát muộn, vài làm sợ nhiều hơn. ” Đôi khi Chúng tôi nhận những du khách lo lắng bởi vì họ bị một loại mụn di động. Như là một furoncle (đinh nhọt) nhưng đó là một trứng ruồi nở dưới ta, sinh ra một ấu trùng ! Thế mà có những kỷ thuật đơn giản và không gây chấn thương để lấy ra ấu trùng và sau đó khử trùng da, để chấm dứt câu chuyện này “, BS Cédric Arvieux, thầy thuốc chuyên khoa bệnh truyền nhiễm (CHU Rennes) đã mô tả như vậy.
” Lại còn đôi khi động cơ thăm khám là sự hiện diện của một rãnh (sillon) di động dưới da và ngứa vô cùng. Nói là rãnh nhưng đó là một con sâu đến trên người do lầm lẩn ; thật vậy, những Larva migrans thường ký sinh các động vật. Khi ruồi xuất hiện, chỉ cần khử trùng hay áp dụng một điều trị đặc hiệu tại chỗ chống ký sinh trùng. Điều đó không nguy hiểm “, GS Jean-Paul Stahl, trưởng khoa benh nhiễm trùng thuộc CHU de Grenoble, đã nói tiếp như vậy.
Những nhiễm trùng khác biểu hiện trong thời gian ngắn hạn tạo nhiều vấn đề hơn. ” Thí dụ, sự xuất hiện ỉa chảy với đau bụng và đôi khi máu trong nước tiểu, điều này gợi lên bilharziose, do sự hiện diện của một ký sinh trùng trong ruột hay trong đường tiểu. Chính lúc tắm trong nước ngọt bị nhiễm ký sinh trùng , thường ở châu Phi mà du khách bất cẩn bị lây nhiễm. Một điều trị bằng một liều duy nhất cho phép dứt điểm, nhưng điều chủ yếu là phải điều trị, nếu không sẽ bị xơ hóa đường tiểu nhiên hậu có thể dẫn đến són tiểu “, GS Stahl đã ghi nhận như vậy.
Bệnh cảnh gây lo ngại khác, thường gặp hơn ở các trẻ em, nhưng ngoại lệ : xanh tái, mệt, gan to và lách to, vài tháng sau khi lưu trú ở Trung đông, trong vài vùng Ân độ hay Đông phi. Lần này đó có thể là leishmaniose viscérale, được truyền bởi những côn trùng chích (phlébotomes) và cần một điều trị chống ký sinh trùng. ” Leishmaniose cutanée, thường xảy đến ở du khách đi Bắc Phi và nhiệt đới, Trung đông, Ấn độ hay châu Mỹ latin, ít nghiêm trọng hơn và thường gặp hơn : những mảng ở da không lành lúc trở về từ những nơi đến này khiến báo động. Một điều trị chống ký sinh trùng đặc hiệu cuối cùng thanh toán được nó, với điều kiện chẩn đoán được thiết đặt “, BS Mercedès Tatay, thầy thuốc chuyên khoa bệnh truyền nhiễm thuộc bệnh viện Avicenne đã giải thích như vậy.
Ngay cả không cần phải đi xa như vậy mới mắc phải một brucellose hiếm gặp : ” Tiêu thụ sữa không tiệt trùng trong vài nước châu Âu có thể gây nên nhiễm trùng này, được biểu hiện bởi một sốt lượn sóng (fièvre ondulante), đau khớp và đôi khi thương tổn những cơ quan khác như tim, khớp hoặc gan. Một điều trị kháng sinh kéo dài sẽ chấm dứt nó, tuy nhiên phải nghĩ đến điều đó”, GS Pichard đã ghi nhận như vậy.
” Bên cạnh những nhiễm trùng ngoại lệ này, những nhiễm trùng khác được khách du lịch biết rõ hơn có thể khiến nói về chúng : đó là những viêm gan siêu vi trùng, gây rối loạn tiêu hóa và vàng da. Thế mà một viêm gan A, bị mắc phải qua đường ăn uống, có thể rất nặng nếu nó xảy đến ở một người trên 60 tuổi. Còn về viêm gan B, khi nó trở nên mãn tính, đặt vấn đề xơ gan và ung thư gan trong thời gian dài hạn. Bấy nhiêu nguyên nhân khiến ta phải chủng ngừa chống lại hai nhiễm trùng này khi ta thích du lịch trong những nước nhiệt đới có trình độ vệ sinh thấp “, GS Stahl đã nhấn mạnh như vậy.
Sau cùng chú ý sơ nhiễm bởi HIV, có thể cho sốt nhẹ và một nổi ban kín đáo, với nguy cơ hoàn toàn không được nhận thấy. ” Các công trình nghiên cứu cho thấy rằng những du lịch quốc tế tạo điều kiện cho việc nhận lấy nguy cơ sinh dục”, BS Arvieux đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 2/9/2013)

4/ SỐT RÉT : CHẨN ĐOÁN NHANH
Sốt rét là do một ký sinh trùng được truyền bởi muỗi. Trong thể điển hình của nó, nhiễm trùng được biểu hiện bởi một sốt cao với vã mồ hôi và run lạnh, nhưng trong thực tế, nó có thể có dạng một hội chứng cúm và do đó hoàn toàn không được nhận biết, thí dụ nếu nó xuất hiện vào giữa trận dịch cúm.
Các thuốc cho phép chữa lành không để lại di chứng, và có cả một điều trị chỉ 3 ngày đối với những thể không phức tạp, nhưng còn phải xác lập chẩn đoán. Thế mà đó mới chính là vấn đề. ” Mặc dầu có một xét nghiệm nhanh tức thời để chẩn đoán sốt rét (chỉ cần đặt một giọt máu trên một bandelette réactive để xác nhận chẩn đoán), thế nhưng khoảng một chục người Pháp còn chết mỗi năm vì nhiễm trùng này. Cũng bấy nhiêu tử vong sẽ không xảy ra nữa nếu những du khách này đã không chậm trễ đi khám bệnh, nhất là trong trường hợp sốt nguồn gốc không được xác định. Xác định với thầy thuốc của mình rằng ta đã du lịch trong một vùng sốt rét (zone à paludisme) cũng cần thiết”, GS Eric Pichard, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm ở Angers đã nhấn mạnh như vậy.
Ý kiến này được chia xẻ bởi BS Mercedes Tatay, thầy thuốc chuyên khoa bệnh truyền nhiễm (bệnh viện Avicenne ở Bobigny) : ” Chinh chủ yếu ở Afrique subsaharienne, trong mùa mưa mà những nguy cơ sốt rét chết người là quan trọng nhất. Những người còn có gia đình trong những vùng này và trở lại ở đó để nghỉ hè, không được bảo vệ bởi vì họ tin là được miễn dịch tự nhiên, trong khi đó họ sống ở Pháp từ rất lâu và do đó không thể phát triển một bảo vệ tự nhiên vì thiếu tiếp xúc liên tiếp với bệnh, là những người đầu tiên bị ảnh hưởng. Các phụ nữ có thai cũng dễ bị những con sốt rét nặng, vì những kỷ sinh trùng tăng sinh trong nhau. Vậy mọi nhiệt độ trên 38,5 độ lúc đi du lịch trở về phải khiến đi khám bệnh không để mất thời gian.
Điều đó càng quan trọng khi hiện nay không có vaccin. ” Đúng là có một thử nghiệm đang được tiến hành, nhưng thử nghiệm này chỉ liên hệ dân chúng địa phương phải đương đầu thường trực vấn đề này, BS Cédric Arvieux (CHU Rennes) đã ghi nhận như vậy. Du khách không thể hy vọng vaccin trong những năm đến. Trong lúc chờ đợi khách du lịch phải bảo vệ chống lại côn trùng cắn và tùy theo nơi đến, theo một chimioprophylaxie dựa trên, hoặc là Malarone (cần tiếp tục một tuần sau khi trở về), hoặc một cycline cần tiếp tục cho đến một tháng sau khi trở về. Điều đó biểu hiện một phí tổn nào đó đối với người thường đi du lịch : gần 100 euro mỗi tháng và mỗi người với Malarone, so với dưới 10 euro với một cycline générique.” ” Còn những nhũ nhi dưới 10 kg không th ể áp dụng biện pháp dự phòng này. Vậy phải suy nghĩ 2 lần trước khi mang theo một cháu bé nhỏ đến vài vùng : cháu có nguy cơ bị nhiễm trùng nặng. Thế mà cháu có cả cuộc đời trước mặt để đi du lịch ! “. GS Pichard đã nhấn mạnh như vậy. ” Và ta không thể phòng ngừa tất cả mọi chuyện, do đó cũng phải thực tế. Khi ta đi du lịch trong nhiều tuần, hãy khám một thầy thuốc chuyên môn trước khi xuất hành : điều đó là hữu ích. Và tỏ ra thận trọng, không tầm thường hóa những nguy cơ với cái cớ rằng đó là những vacances, đó là điều cần thiết, trong tất cả các lãnh vực. Bởi vì trong những nước có khí hậu nóng, nguy cơ đầu tiên cuối cùng không phải là nhiễm trùng…Nhưng là tai nạn lưu thông ! ” BS Arvieux đã kết luận như vậy. Một du khách sành sỏi.
(LE FIGARO 2/9/2013)

5/ SỐT RÉT : MỘT NHIỄM TRÙNG LẮM ĂN SÂU
Những xét nghiệm chẩn đoán của bệnh sốt rét cần một phết máu (frottis sanguin) phát hiện sự hiện diện của ký sinh trùng, nhưng một phương pháp phát hiện mới bằng laser hiện đang được nghiên cứu. Với phương thức này, chỉ cần vài giây đủ để xác lập một chẩn đoán, mà không phải lấy dù chỉ một giọt máu.
Bệnh sốt rét tác động con người từ hơn 50.000 năm nay ; các chuyên gia cho rằng tác nhân sinh bệnh này hiện hữu ngay từ khi bắt đầu lịch sử của loài người. Hôm nay, 80% những trường hợp được ghi nhận ở Afrique subsaharienne, những bệnh khác nói chung phát xuất từ Đông nam châu Á. Và mặc dầu những cố gắng được thực hiện để làm giảm sự truyền bệnh và cải thiện điều trị, đã có ít tiến triển từ đầu những năm 90, mặc dầu tỷ lệ tử vong hạ một cách rõ ràng từ cuối những năm 2000. Phải nói rằng trong những vùng dịch, những điều trị thường ít thỏa mãn (sử dụng đông đảo điều trị lỗi thời, những thuốc giả, chẩn đoán sai những triệu chứng…) và tỷ lệ tử vong toàn thể đối với tất cả những trường hợp sốt rét có thể đạt đến 1 trên 10. Nhưng từ vài năm nay, công tác phòng ngửa trên những quần thể có nguy cơ bắt đầu có kết quả. Giữa năm 2000 và 2012, sự phát triển những biện pháp phòng ngừa và chống sốt rét được kèm theo một sự giảm đều đặn số những trường hợp tử vong và những trường hợp sốt rét, và điều này mặc dầu một sự gia tăng quần thể bị tiếp xúc trên thế giới. Đối với các chuyên gia, ” sự tăng cường của dấn thân chính trị và sự gia tăng các kinh phí đã góp phần làm giảm tỷ lệ bệnh sốt rét 29% ở quy mô thế giới và 30% ở châu Phi”. Trong báo cáo năm 2013, OMS đã muốn nhấn mạnh những tiến bộ quan trọng khác được thực hiện trong chống sốt rét. Năm 2013, khoảng 136 triệu mùng đã được phân phát và 200 triệu được dự kiến cho năm 2014. Ngoài ra, những trắc nghiệm chẩn đoán đã tiếp tục được mở rộng trong những năm qua ; giữa năm 2010 và 2012, tỷ lệ những trường hợp nghi ngờ nhận một trắc nghiệm chẩn đoán trong khu vực công đã chuyển từ 44 lên 64% trên quy mô thế giới và số những điều trị hoàn chỉnh được chuyển từ 75 triệu năm 2006 lên 331 triệu năm 2012. Và những trắc nghiệm chẩn đoán sẽ tiến triển nhanh chóng nhờ một thiết bị cải tiến mới : phát hiện bằng laser ! Khi ký sinh trùng của bệnh sốt rét nhiễm cơ thể, nó tiêu hóa hémoglobine và sản xuất hémozoine. Được cho tiếp xúc với những brèves pulsations lasers, phân tử này lay động và tạo quanh nó một nanobulle de vapeur, khi nổ gây nên một tiếng động có thể đo được. Sự hiện diện của ký sinh trùng cũng được phát hiện một cách gián tiếp. Khi đó chỉ vài giây cũng đủ để xác lập chẩn đoán bệnh sốt rét, mà không cần phải lấy một giọt máu nào.
(COLLECTION SCIENCE & ESPACE)

6/ VACCIN CHỐNG SỐT RÉT : CÒN Ở GIAI ĐOẠN THÍ NGHIỆM
Từ vài thập niên nay, vài nhà nghiên cứu cũng ra sức hiệu chính một thế hệ những thuốc chống sốt rét mới, để tránh mọi thể đề kháng với các điều trị, như điều đó đã được chứng thực ở miền Tây Cambodge và Thái lan. Những nhà khoa học khác trông vào sự chế tạo một vaccin phòng ngừa. Chúng ta hãy nhắc lại rằng vaccin chống sốt rét đầu tiên đã được phát triển năm 1986 bởi Manuel Elkin Patarroyo, nhưng tính hiệu quả của nó khá thấp, thậm chí không có. Từ năm 1992, một vaccin antimérozoite đầy hứa hẹn, được đặt tên RTS,S, được phát triển ở tập đoàn dược phẩm Anh GSK (GlaxoSmithKline). Năm 2005, những công trình khảo cứu đầu tiên báo cáo những kết quả đầy phấn khởi : vaccin này tỏ ra có hiệu quả, ngay mũi tiêm đầu, trong 30% các trường hợp và tránh 1/2 những cơn nghiêm trọng gây nên bởi sốt rét. Từ năm 2009, vaccin thí nghiệm này ở giai đoạn III của những thử nghiệm lâm sàng. Những kết quả theo dõi sau cùng ở hơn 6.500 trẻ em châu Phi được tiêm chủng bởi RTS,S đã được thông báo cuối năm 2013, trong khung cảnh của hội nghị liên Phi “Multilateral Initiative on Malaria”. Lucas Orieno, một trong những người phụ trách của công trình nghiên cứu, đã chứng thực một hiệu quả vaccin 46% ở các nhũ nhi (tuổi từ 5 đến 17 tháng lúc chích mũi đầu tiên) và 27% ở những trẻ từ 6 đến 12 tuần lúc chích mũi đầu. Những con số này cùng loại với những con số được công bố năm 2012, sau 4 tháng theo dõi : lần lượt giảm 56% các cơn sốt rét đối với nhóm đầu và 30% đối với nhóm hai. Vậy hiện nay, RTS,S là vaccin thí nghiệm tiên tiến nhất trong nghiên cứu chống ký sinh trùng gây bệnh sốt rét, nhưng chưa hẳn là một panacée. Tính hiệu quả của nó vẫn còn quá khiêm tốn để có thể là một giải pháp quyết định. Ngoài ra, cũng như đối với mọi vaccin, vấn đề thời gian bảo vệ có được sau khi tiêm chủng vẫn còn bỏ ngỏ. Sự so sánh tính hiệu quả lúc 14 tháng và 18 tháng cho thấy một sự giảm khá nhanh, nhất là ở những trẻ em từ 5 đến 17 tuổi… Tuy nhiên, tập đoàn dược phẩm GSK có ý định trong năm 2014 đệ trình một đơn xin phép đưa vaccin ra thị trường ở Cơ quan quản lý dược phẩm. Nếu đơn xin phép được chấp thuận, OMS đã cho biết rằng nó có thể xét đến khuyến nghị sử dụng RTS.S ngay năm 2015.
(COLLECTION SCIENCE & ESPACE)

7/ MỤC TIÊU : DIỆT TRỪ VĨNH VIỄN BỆNH SỐT RÉT
Các nhà di truyền thì nhắm vào sự chống lại ký sinh trùng không phải ở người, mà ở vecteur của nó, muỗi. Vào năm 2000, kíp của GS Andrea Crisanti thuộc Imperial College London đã thành công tạo được con muỗi được biến đổi về mặt di truyền đầu tiên, không có khả năng truyền bệnh sốt rét. Nhưng mặc dầu gène marqueur tồn tại trong khoảng 30 thế hệ khi sự thụ tinh giữa các muỗi bị biến đổi về mặt di truyền, ngược lại chỉ tồn tại trên 4 đến 16 thế hệ khi f sự thụ tinh với một con muỗi không bị biến đổi. Để cố chọc thủng phòng vệ của kẻ thù, một consortium international được bảo trợ bởi Tropical Diesease Research (TDR) từ năm 2001 bắt tay vào séquençage hoàn toàn génome của Anopheles gambiae, muỗi vecteur của sự lây nhiễm. Mục tiêu là nhận diện những gène có liên hệ trong tính miễn dịch của muỗi đối với các ký sinh trùng với, nhiên hậu, chế tạo những thuốc lôi cuốn hay đẩy lùi đối với muỗi. Vào tháng bảy năm 2010, giáo sư entomologie Michael Riehle (Đại học Arizona) loan báo đã thành công tạo được cùng với kíp của ông một Anopheles Stephensi cái được biến đổi về mặt di truyền có khả năng tiêu diệt những kỷ sinh trùng trong thân mình và do đó không có khả năng truyền bệnh. Các nhà nghiên cứu bây giờ nghiên cứu phương tiện thay thế, trong thiên nhiên, những quần thể những con muỗi địa phương bằng những quần thể phát xuất từ phòng thí nghiệm…với hy vọng rằng những côn trùng này không trở nên xâm nhập và không truyền những bệnh khác. Vào năm 2011, những con muỗi khác đã được biến đổi về mặt di truyền để giết đàn con của chúng, một chiến lược để làm giảm những quần thể muỗi tại chỗ tương đối nhanh và không nhờ đến những thuốc trừ sâu. Những nhà nghiên cứu khác đã làm tuyệt sinh sản những con đực bằng cách đưa vào một gène làm ngừng sự sản xuất các tinh trùng. Sau khi giao cấu, những con cái sản xuất những trứng không được thụ tinh, điều này cũng dẫn đến một sự suy tàn loài và bệnh.
Tổ chức y tế thế giới ước tính rằng những cố gắng thế giới để chống lại và loại bỏ bệnh sốt rét đã cứu 3,3 triệu người từ năm 2000, làm giảm 45% những tỷ lệ tử vong do bệnh này trên thế giới và 49% ở châu Phi. Sự chống lại bệnh sốt rét mặc dầu tiến triển, nhưng nhiều tiến bộ cần phải thực hiện để hy vọng trừ khử vĩnh viễn bệnh nhiễm trùng này, vẫn là bệnh ký sinh trùng lan tràn nhất trên thế giới. Bệnh sốt rét vẫn là một ưu tiên tuyệt đối đối với OMS, do những tác hại trực tiếp của nó cũng như những hậu quả xã hội-kinh tế. ” Những tiến bộ đáng chú ý này không phải là lý do để lơi lỏng những cố gắng của chúng ta : bằng những con số tuyệt đối, số những trường hợp sốt rét và những trường hợp tử vong không hạ xuống nhanh như có thể được. Sự kiện chừng ấy người bị nhiễm ký sinh trùng và chết sau khi bị muỗi chích là một trong những thảm kịch của thế kỷ XXI “, BS Margaret Chan, tổng giám đốc OMS đã kết luận như vậy. Bà nhắc lại rằng cơ quan của bà hiện đang soạn thảo một kế hoạch thế giới để thanh toán vĩnh viễn bệnh sốt rét trong thời gian 2016-2025.
(COLLECTION SCIENCE & ESPACE)

8/ BỆNH LYME : TIQUE TẤN CÔNG

Bệnh Lyme : Những triệu chứng
3 giai đoạn của một bệnh có tiến trình dài.
Hơn 70 dấu hiệu chủ yếu da, khớp và thần kinh.
Giai đoạn nguyên phát : một ban đỏ lan rộng ở vết cắn (érythème migrant), biến mất một cách tự nhiên trong vài tuần. Đôi khi được liên kết với một sốt trung bình, mệt và đau khớp hay cơ lan tỏa.
Giai đoạn thứ phát (vài tuần đến vài tháng sau khi bị cắn ). Giai đoạn này chỉ xuất hiện nếu không điều trị kháng sinh. Giai đoạn này được biểu hiện đồng thời bởi những thể thân kinh (liệt mặt, liệt mắt, đau dây thần kinh) nhưng cũng bởi những thể thấp khớp (các khớp viêm, chủ yếu đầu gối, nhưng cũng vai, cùi chõ, mắc cá…). Hiếm hơn xuất hiện những dấu hiệu tim (hồi hộp, rối loạn nhịp, viêm cơ tim) và mắt (viêm kết mạc, viêm giác mạc), toàn thể thường tiến triển thành từng cơn bộc phát.
Giai đoạn tam phát (từ vài tháng đến vài năm sủa khi bị cắn) Nếu không được điều trị, giai đoạn 3 hay muộn của bệnh, tương ứng với tiến triển mãn tính của các triệu chứng của giai đoạn thứ phát.

Nhiễm trùng vi khuẩn này, được gây bởi vết cắn của tique, có thể gây tàn tật. Giải mã một căn bệnh đa dạng và rất được tranh cãi vào lúc những cuộc đi dạo trong rừng khiến hàng ngàn người bị tique cắn.
Căn bệnh bí ẩn Lyme…Được truyền bởi các con tique mang vi khuẩn Borrelia, nhiễm trùng này (cũng được gọi là borreliose de Lyme) lấy tên từ một thị trấn nhỏ của Connecticus (Hoa Kỳ), ở đây vào cuối những năm 1970, những trường hợp lâm sàng đầu tiên đã được mô tả. Căn bệnh này chịu trách nhiệm những vấn đề da, thần kinh, khớp và, một cách ngoại lệ những vấn đề tim và mắt. Nhưng với ít nhất 70 triệu chứng khả dĩ, chẩn đoán bệnh rất khó xác lập. Và những xét nghiệm máu, bị tranh cãi, thường được sử dụng tồi. Kết quả : những điều trị thường được cho quá muộn.
Một problématique thích hợp để duy trì những cuộc tranh luận sôi nổi. Thật vậy những hiệp hội các bệnh nhân đánh giá rằng déni médical và omerta của giới hữu trách y tế chịu trách nhiệm một sự đánh giá thấp những trường hợp và một điều trị tồi căn bệnh, nguồn của những errance médicale. Đối với giới hữu trách y tế, trái lại, số những người bị nhiễm trùng ổn định và những người này thường có thể đuoc chữa lành với kháng sinh trong 3 tuần.
HÀNG CHỤC TRIỆU CHỨNG BI PHÁT HIỆN SAI.
Tất cả thường bắt đầu bằng một cuộc dạo chơi trong rừng, ở đây phần lớn nhiều người đi dạo bị tique cắn mà không nhận thấy. Vài ngày sau xuất hiện (hay không) một ban đỏ (éruption cutanée rouge), hình tròn, vừa di chuyển vừa rộng ra (érythème migrant), dấu hiệu duy nhất đặc trưng của bệnh. Ban đỏ này, hẳn sẽ gây báo động, chỉ hiện diện trong 60% các trường hợp và có thể không được nhận thấy bởi bệnh nhân, cũng như không được thầy thuốc tìm kiếm. ..Sự thoái lui của ban đỏ trong vài ngày, tuy vậy không phải là dấu hiệu lành bệnh. Thế mà, nếu điều trị không được thực hiện ngay, căn bệnh có thể tiến triển trong 15 đến 20% những trường hợp về những thương tổn xa vết cắn, thậm chí có một tính chất mãn tính. Sau đó bệnh theo 3 giai đoạn, trải ra trong nhiều tháng hoặc năm, như bệnh giang mai được gây bởi tréponème, vi khuẩn loại xoắn khuẩn khác, rất giống với Borrelia.
Tổng cộng, hơn 70 triệu chứng đã được mô tả, không một triệu chứng nào thật sự đặc hiệu. Ngoài ra, tính mẫn cảm cá nhân (susceptibilité individuelle) có thể tác động lên tính chất nhanh chóng của tiến triển bệnh. ” Chúng ta cần nghiên cứu để hiểu tính chất nhanh cóng này có tùy thuộc bệnh nhân, souche bactérienne gây bệnh hay những yếu tố khác hay không “, GS Benoit Jaulhac, trưởng centre national de référence de la Borrelia (Starsbourg) đã nói như vậy. ” Bệnh Lyme, cuối cùng do un peu partout và bất cứ cái gì “, GS Christian Perronne, trưởng khoa bệnh truyền nhiễm thuộc bệnh viện Garches (Hautes-de-Seine) đã nói như vậy. Ông là một trong những thầy thuốc bệnh viện hiếm hoi đã tham gia cuộc đấu tranh của các hiệp hội các bệnh nhân cho một điều trị tốt nhất của căn bệnh phức tạp này.
NHƯNG XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN BI TRANH CÃI.
Hiện không có trắc nghiệm chẩn đoán đáng tin cậy nào. Bởi vi Borrelia, hiện diện với lượng qua nhỏ, không thể phát hiện trong máu. Do đó các thầy thuốc phải nhờ đến những xét nghiệm máu gián tiếp. Những phản ứng huyết thanh được gọi là Elisa hay Western Blot (WB) phát hiện, như trường hợp đối với nhiều bệnh nhiễm trùng khác, sự hiện diện của các kháng thể, chứng cớ của một sự gặp gỡ của cơ thể với tác nhân gây bệnh. Những trắc nghiệm hiện có (trên 30 !) có những hiệu năng thay đổi. Kết quả : ” Chúng không cho phép đạt điều mà ta gọi là một “gold standard” (référence)”, báo cáo mới nhất của HCSP đã nhấn mạnh như vậy. Những trắc nghiệm này vẫn đang luôn luôn được phân tích bởi Agence nationale de sécurité médicale.
Trong thực hành, thật vậy, trong trường hợp nghi ngờ chẩn đoán, sự quy định và những khuyến nghị châu Âu dự kiến trong thì đầu một trắc nghiệm Elisa. Trong trường hợp âm tính, chẩn đoán bệnh Lyme, a priori, được loại bỏ. Và chỉ trong trường hợp dương tính mà một WB, đặc hiệu hơn, được đòi hỏi để xác nhận. Thế mà Elisa thường giải thích khó bởi vì những kháng thể xuất hiện muộn trong bệnh này : chúng chỉ hiện diện một trường hợp trên hai trong ba tuần đầu sau khi bị cắn, trong khi tỷ lệ này trên 70% trong giai đoạn thứ phát và tam phát. ” Những trắc nghiệm thường được đòi hỏi quá sớm, ở giai đoạn érythème migrant là lúc chúng chẳng có lợi ích gì”, BS Jaulhac đã nhấn mạnh như vậy. Sau cùng những kháng thể tồn tại lâu trong máu, ngay cả với một điều trị hiệu quả, chúng cũng có thể là bằng cớ của một lây nhiễm cũ, không nhất thiết liên quan với những triệu chứng mới đây của bệnh nhân. Hậu quả là một lầm lẫn y khoa rất tai hại, nhất là các bệnh nhân sống một cách đau đớn vì mang tiếng là những người bệnh tưởng, vài bệnh nhân bị nhập viện lạm dụng ở khoa tâm thần.
NHỮNG ĐIỀU TRỊ LÂU ĐÀI VÀ KHÓ THEO.
Một hội nghị nhất trí, nói một cách khác một ủy ban những chuyên gia có nhiệm vụ xác lập một lập trường tập thể, vào năm 2006 đã đưa ra một ý kiến chính thức về vấn đề những điều trị. Theo ý kiến này, một sự sử dụng mỗi ngày những kháng sinh trong 3 tuần cho phép loại bỏ vi khuẩn trong 95% những trường hợp. Chắc chắn…nhưng với một điều kiện : rằng điều trị phải được cho sớm. Bởi vì đối với những giai đoạn muộn, mặc dầu có thể cho những kháng sinh khác, nhưng tính hiệu quả ít tốt hơn. Trên thực hành, nhiều bệnh nhân vẫn còn bị nhiều triệu chứng một khi đợt điều trị chấm dứt. Điều này duy trì sự nghi ngờ về tính hiệu quả của điều trị được khuyến nghị .
Ở Hoa Kỳ, một nửa các thầy thuốc thực hành chọn kê đơn một điều trị trong một thời gian dài hơn thời gian được chính thức khuyến nghị. Các thầy thuốc Pháp có làm như thế không ? Không thể biết được điều đó, vì không có một con số nào và không có một cuộc điều tra chính thức nào tại hiện trường đã được thực hiện để xác lập điều đó. Đối với GS Jaulhac, ” những điều trị thường được cho quá muộn, với những liều không đủ và không nhất thiết được theo đuổi trong 21 ngày khuyến nghị”.” Nhiều bệnh nhân gợi lên những chữa lành không hoàn toàn hay những tái phát thường xuyên”, GS Perronne đã xác nhận như vậy.
NHIỀU ĐƠN THUỐC BỊ KIỆN TỤNG.
Nhiều điều không chắc chắn về chẩn đoán và điều trị tạo điều kiện cho những đề nghị thay thế. Thường những “cocktail” hòa trộn các thuốc chống dị ủng, chống sốt rét, huiles essentielles, cây hoặc thuốc được sử dụng để điều trị…rối loạn cương. Những đơn thuốc này, làm thuyên giảm nhiều bệnh nhân, được kê bởi các thầy thuốc hay các dược sĩ, với nguy cơ bị kết án lừa đảo bảo hiểm y tế hay hành nghề bất hợp pháp. Một dược sĩ và phụ tá đã bị kết án ở Strasbourg vào tháng 11 năm 2014 là lừa đảo và hành nghề bất hợp pháp.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2015)

9/ CÓ PHẢI SỢ MOUSTIQUE TIGRE ?

Christophe Paupy
Entomologiste médical à l’IRD (Montpellier)
Didier Fontenille
Directeur de recherche
Entomologiste médical à l’IRD (Montpellier)

Moustique tigre, Aedes albopictus, là một loài có nguồn gốc châu Á, rất xâm nhập và hiện nay có mặt trên tất cả các lục địa, trong môi trường nhiệt đới và ôn đới. Từ khi xuất hiện ở Pháp năm 2004, nó đã xâm thực 18 tinh. Từ năm này qua năm khác, khu vực phân bố không ngừng gia tăng. Sự phát tán này xảy ra theo hai cơ chế tùy theo quy mô. Một sự phân tán chủ động với khoảng cách ngắn bởi muỗi trường thành, sẽ bay để tìm kiếm những nơi mới thuận lợi cho sự đẻ trứng và sự phát triển của những ấu trùng trong nước của chúng. Ở khoảng cách xa hơn, bởi một vận chuyển thụ động những con muỗi trưởng thành không e ngại lên một chiếc xe hơi, một camion, một tàu hỏa hay một con tàu để vượt qua những km. Trứng, xuất hiện nhiều tháng sau khi được đẻ, cũng có thể được nhập cảng trong những vùng vô sự, qua vận chuyển những gite de pontes (hang trứng). Những hang này gồm những ” récipient ” có khả năng chứa nước mà sự làm đầy là do một trận mưa (pneu, seaux…) do bàn tay người (vases, soucoupe de pots de fleurs..) Một khi được đẻ và nếu những điều kiện môi trường thuận lợi, trứng sinh ra ấu trùng, rồi một con nhộng (nymphe), từ đó sinh ra một muỗi trưởng thành đực hay cái. Sau đó con muỗi này tìm kiếm một người để hút vài microlitre máu cần cho sự phát triển của trứng. Khi những điều kiện môi trường trở nên không thuận lợi (sự làm khô của hang ấu trùng, mùa đông đến), trứng không nở và vẫn yên ngủ ở trạng thái khô. Ở Pháp Aedes albopictus hoạt động từ tháng tư đến tháng 11.
NHẬP CẢNG VIRUS
Mức độ tràn ngập của moustique tigre hôm nay đến độ nó tạo nên một nguồn những yếu tố gây hại thật sự nhất là trong môi trường đô thị, mà chúng đặc biệt thích nghi và ở đó chúng chích người. Để chú giải La Fontaine Aedes albopictus là một con muỗi của thành phố chứ không phải là một con muỗi của các cánh đồng. Ở Pháp chính quốc, đó là trường hợp của các thành phố ven biển địa trung hải từ vài năm nay, nhưng những đồng hương của chúng ta ở đảo La Réunion chịu sự tấn công này từ nhiều thế kỷ. Lại còn tệ hại hơn, nó khiến dân chính quốc chịu một nguy cơ y tế vì lẽ con muỗi này có khả năng truyền những virus như dengue, chikungunya và zika (mà ta gọi là arbovirus).
Nguy cơ này là mới bởi vì cho đến nay không có một con muỗi nào truyền những virus này ở Pháp chính quốc. Không một trận dịch nào có những virus này hiện nay được ghi nhận ở Pháp chính quốc, nhưng những khả năng nhập cảng virus bởi các du khách đến từ những vùng nhiệt đới (châu Á, châu Phi, châu Mỹ), ở đây hoành hành những trận dịch rất quan trọng. Năm 2013, Viện theo dõi y tế đã báo cáo sự nhập cảng của 173 trường hợp bệnh dengue và 2 trường hợp chikungunya trong những vùng có đầy dẫy Aedes albopictus. Những sự đưa vào này có thể gây nên một sự lan truyền địa phương ở chính quốc. Hiện tượng này hiện nay vẫn hạn chế, vì lẽ chỉ 3 trường hợp dengue (ở Nice và Aix-en-Provence) và một chikungunya (Fréjus) đã được ghi nhận giữa 2010 và 2013. Năm 2013, gần 1/2 những nhập cảng virus phát xuất từ những vùng và tập thể hải ngoại. Những nhập cảng mới được dự kiến năm 2014, vì lẽ một sự lưu hành mạnh của bệnh dengue và/hay của chikungunya ở Guyane, Guadeloupe, Martinique, Saint-Barthélémy, Saint-Martin và Mayotte. Ngoài ra virus zika lưu hành ở Polynésie française và ở Nouvelle-Calédonie cũng có thể được đưa vào chính quốc. Aedes albopictus càng tiến triển không cản được trên lãnh thổ chính quốc, số những nhập cảng có thể cho một lan truyền địa phương càng gia tăng, như thế làm tăng những khả năng của một phát khởi dịch bệnh. Những mô hình tiên đoán về sự lan tỏa gợi ý rằng một nửa miền nam của nước Pháp chính quốc sẽ bị liên hệ ngay năm 2015, và vùng Paris trong một tương lai gần.
Mặc dầu nguy cơ xuất hiện arbovirose được truyền bởi moustique tigre ở Pháp chính quốc có vẻ rất thật, tuy nhiên có thể hạn chế nó. Hai chiến lược bổ sung nhau phải được xét đến.Một nhằm phát hiện rồi hạn chế sự tiến triển và mật độ của moustique tigre. Chiến lược kia có mục tiêu theo dõi và phát hiện sớm những nhập cảng virus bởi các du khách, đặc biệt từ những vùng nhiệt đới, kể cả của Pháp (Antilles, Guyane, Ấn độ dương, Thái bình dương) hoặc những trường hợp thứ phát phát xuất từ đó, nhằm thiết đặt một can thiệp chống lại vecteur truyền bệnh như thế cho phép phòng ngừa hay đập vỡ dây chuyền truyền bệnh.
(LE FIGARO 7/4/2014)

10/ NHỮNG PHƯƠNG TIỆN CHỐNG LẠI NHỮNG VECTEUR TRUYỀN BỆNH ?

Fabrice Chandre
Entomologiste médical à l’IRD
Frédéric Simard
Directeur de recherche
Entomologiste médical à l’IRD

Phòng bệnh hơn là chữa bệnh ” : ngạn ngữ xưa này áp dụng đặc biệt đúng cho sự chống những bệnh được truyền bởi các côn trùng và tique, những vecteur của các tác nhân gây bệnh. Sự phòng ngừa nhiễm trùng có thể nhờ đến tiêm chủng, các loại thuốc và những biện pháp chống vecteur truyền bệnh (lutte antivectorielle).
Hiện nay ở người, chỉ những vaccin chống sốt vàng, viêm não nhật bản và encéphalite à tique là có để sử dụng. Sự dùng đều đặn các thuốc trong chimioprophylaxie hay trong điều trị có thể gây nên những tác dụng phụ trong thời gian dài hạn và nhất là gây nên sự chọn lọc những hiện tượng đề kháng ở các ký sinh trùng hay vi khuẩn. Chính vì vậy sự sử dụng này chỉ có thể xét đến trong vài trường hợp đặc biệt. Thí dụ đối với sự phòng ngừa sốt rét, biện pháp này được khuyến nghị đối với những nhóm có nguy cơ nhất, như những phụ nữ có thai, hay trong một thời gian giới hạn đối với các du khách. Vậy sự chống lại các vecteur truyền bệnh trong nhiều trường hợp vẫn là phương tiện chính yếu, nếu không phải là duy nhất để chống lại những bệnh được truyền bởi những côn trùng. Sự chống lại những vecteur truyền bệnh có mục đích là làm giảm số những bệnh nhân mới và tỷ lệ tử vong bằng cách làm giảm sự truyền những tác nhân gây bệnh. Những hoạt động này dựa trên sự sử dụng những thuốc trừ sâu hóa học (insecticide chimique) hay nguồn gốc vi khuẩn, được bổ sung bởi những biện pháp quy hoạch môi trường hay kiểm soát sinh học.
NHỮNG ĐỀ KHÁNG VỚI CÁC THUỐC TRỪ SÂU.
Những phương pháp chống những vecteur truyền bệnh liên hệ trực tiếp với sinh thái sinh học (bio-écologie) và côn trùng được nhắm đến. Trong trường hợp muỗi, những vecteur truyền bệnh cho người quan trọng nhất, chu kỳ phát triển gồm hai giai đoạn. Trứng và ấu trùng sống trong môi trường nước. Sau vài ngày , những ấu trùng biến hóa thành nhộng trần (nymphe) từ đó sinh ra một muỗi đực hay cái có khả năng bay.
Sau khi giao cấu, các con cái đi kiếm một ký chủ để thực hiện một bữa ăn máu (repas de sang) cần thiết cho trứng trưởng thành. Các con đực không chích, nhưng các con cái có thể thực hiện nhiều bữa ăn máu trong suốt cuộc đời kéo dài vài tuần của chúng. Khi chúng chích một người bệnh, chúng có thể, trong những bữa ăn máu tiếp theo, truyền tác nhân gây bệnh cho một người lành mạnh.
Sự chống lại các con muỗi có thể được hướng chống các ấu trùng, để làm giảm sự sản xuất những con muỗi trưởng thành, hoặc chống lại những con muỗi trưởng thành, để làm giảm số lượng và tuổi thọ của các con cái hay làm giảm tỷ lệ chích ở người. Tùy theo loài, sự chống lại các ấu trùng được thực hiện bằng cách hủy bỏ những vùng nước tù hãm và loại bỏ những chỗ chứa (récipient) và những phế thải khác nhau có thể tạo những chỗ trú thuận lợi cho sự phát triển ấu trùng. Sự chống lại này thường được liên kết với những thuốc trừ sâu diệt ấu trùng.
O Pháp, phần lớn các thuốc trừ sâu được sử dụng chống lại những ấu trùng của muỗi phát xuất từ những vi khuẩn chỉ độc cho các con muỗi (Bacillus thuringiensis). Ta cũng có thể sử dụng những chất tương cận kích thích tố côn trùng nhằm phong bế sự phát triển của các ấu trùng thành muỗi trường thành. Sự chống lại các muỗi trưởng thành chủ yếu được thực hiện bằng phun những thuốc trừ sâu, như deltaméthrine, trên tường của nội thất hay trong môi trường, đặc biệt trong trường hợp dịch bệnh. Sự sử dụng mùng tẩm thuốc trừ sâu cũng là một phương pháp rất hiệu quả để bảo vệ dân chúng chống lại những vecteur truyền bệnh sốt rét ở vùng nhiệt đới.
Trái với nông nghiệp, có rất ít những thuốc trừ sâu có thể sử dụng trong y tế cộng đồng. Thế mà, trong nhiều vùng, muỗi đã phát triển sự đề kháng đối với những sản phẩm thường được sử dụng nhất. Các nhà khoa học tìm cách hiểu bằng những cơ chế di truyền nào các con muỗi có thể đề kháng, và những chiến lược nào kết hợp nhiều phương pháp chống vecteur truyền bệnh cho phép quản lý tốt nhất những quần thể côn trùng này, càng ngày càng ít nhạy cảm với các điều trị.
BẢO VỆ CÁ NHÂN
Ở Guyane và trong Antilles françaises, muỗi vecteur truyền bệnh dengue và chikungunya, Aedes aegypti, đã trở nên đặc biệt đề kháng với những thuốc trừ sâu. Để chống lại những hiện tượng đề kháng này, những nghiên cứu hướng về những phương pháp mới nhắm đích hơn, nhưng cũng ít gây ô nhiễm hơn đối với môi trường, mặc dầu y tế công cộng chỉ chiếm 4% những thuốc trừ sâu được tiêu thụ mỗi năm. Trong số những phương pháp này ta có thể báo sự phát triển của những piège toxique chứa những chất lôi cuốn đặc hiệu đối với muỗi hay sự phát triển những kỹ thuật được gọi là còn trùng vô sinh (TIS : technique de l’insecte stérile). Nhiều phương pháp TIS đang được nghiên cứu trong đó có một dự án tiền phong ở đảo La Réunion để thả những con muỗi đực bị làm vô sinh bằng chiếu xạ. Các con muỗi cái hoang dã sau khi giao cấu với những con đực này không thể sản xuất trứng có khả năng sinh sản. Quần thể muỗi càng giảm khi các con đực đuợc thả kế tiếp nhau.
Về phòng ngừa các bệnh đuợc truyền bởi các vecteur, sự bảo vệ cá nhân như sử dụng những répulsifs cutanés hay trên quần áo cũng đóng một vai trò quan trọng.
(LE FIGARO 7/4/2014)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(18/7/2015)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 376 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 516 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s