Cấp cứu hô hấp số 38 – BS Nguyễn Văn Thịnh

HEN PHẾ QUAN CẤP TÍNH Ở NGƯỜI LỚN
(ASTHME AIGU DE L’ADULTE)

I. Tillie-Leblond
J. F. Bervar
Service de pneumologie et
d’immuno-allergologie
Clinique des maladies respiratoires
Hopital Albert Calmette
CHRU de Lille

PHẦN I

MOTS-CLES
Hen phế quan cấp tính- Hen phế quả nặng- Cung lượng đỉnh (DEP)- Nhập viện
POINTS FORTS
– Chẩn đoán mức độ nghiêm trọng được căn cứ trên ý niệm về những yếu tố nguy cơ, những dấu hiệu lâm sàng, những trị số của cung lượng đỉnh (DEP : débit expiratoire de pointe) và tiến triển của chúng sau khi cho thở khí dung thuốc kích thích beta 2 (aérosol de beta-2-mimétques).
– Những dấu hiệu nghiêm trọng buộc nhập viện tức thời.
– Điều trị liên kết hít khí dung thuốc kích thích beta 2, cho corticoides bằng đường tổng quát và cấp oxy trong trường hợp giảm oxy huyết.
– Thông khí cơ học được dành cho những trường hợp hen phế quan cấp tính nặng gia trọng mặc dầu một điều trị nội khoa đúng quy cách.
– Phải tránh sự tái phát bằng cách đề nghị một điều trị tối ư, một giáo dục điều trị và một suivi pneumologique đều đặn sau đợt hen phế quản cấp tính.
Sự điều trị hen phế quản nặng (AAG : asthme aigu grave) ở người lớn đã là đối tượng của nhiều hội nghị nhất trí và những khuyến nghị của những société savante. Ngoài khung cảnh phân loại bệnh (cadre nosologique) của những định nghĩa của hen phế quản nặng (AAG) hay của cơn bộc phát (exacerbation), vấn đề là ở chỗ thái độ xử trí đứng trước một bệnh nhân hen phế quản đến khám hay đến một cách ngẫu nhiên ở phòng cấp cứu. Chẩn đoán mức độ nghiêm trọng được căn cứ trên những dấu hiệu lâm sàng và những trị số của cung lượng đỉnh DEP : débit expiratoire de pointe) (chủ yếu sau khi cho thở khí dung thuốc kích thích beta 2) và xét đến profil của bệnh nhân. Chính những yếu tố này sẽ hướng định sự lựa chọn và những phương thức điều trị.
Tỷ lệ tử vong do hen phế quản được đánh giá 1.500 đến 2000 trường hợp mỗi năm ; tử vong chủ yếu xảy ra ở nhà hay lúc chuyển đến một cơ quan y tế.
Những trường hợp tử vong chủ yếu liên quan những người già, nhưng không chuyên nhất (poids des comorbidités).
Phần lớn những bệnh nhân chết có một hen phế quản măn tính mãn tính nặng.
Những dữ kiện của công trình nghiên cứu ASUR, được tiến hành ở Pháp trên 3772 bệnh nhân với hen phế quản cấp tính đến khám phòng cấp cứu, nhận diện 975 (26%) những trường hợp hen phế quản nặng ảnh hưởng tiên lượng sinh tồn. Trong số 975 bệnh nhân này, 228 (23%) rời phòng cấp cứu mà không được nhập viện. Trong cùng công trình nghiên cứu, chỉ 48% các bệnh nhân đã khám thầy thuốc gia đình vì cơn bộc phát của hen phế quản đã được kê đơn corticothérapie systémique. Công trình nghiên cứu này thể hiện tính không đồng nhất trong điều trị hen phế quan cấp tính ở Pháp.

I. NHẬN BIẾT MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG CỦA HEN PHẾ QUAN CẤP TÍNH
1. BỆNH CẢNH LÂM SÀNG
Mọi gọi cấp cứu hay thăm khám một bệnh nhân bị hen phế quản cần một sự đánh giá lâm sàng và chức năng. Mức độ nghiêm trọng của hen phế quản cấp tính được căn cứ trên những tiêu chuẩn lâm sàng và cơ năng ; những tiêu chuẩn được báo cao trong những bảng I (Société de réanimation de langue française et Société de pneumologie de langue française)và II (British Society of Medicine 2004).Hen phế quản cấp tính được tạo bởi khó thở, hạn chế hô hấp, ho khan, tiếng thở rít (sibilances), với, đôi khi, tức thở (oppression thoracique). Cung lượng đỉnh (DEP) và/ hoặc VEMS (volume maximal expiré en une seconde) bị giảm.
Tham số chức năng (DEP +++) là chỉ dấu tốt nhất của mức độ trầm trọng của hen phế quản cấp tính, nhất là so sánh với cảm giác khó thở. Sự gia tăng các triệu chứng vẫn là một dấu hiệu thường báo trước của sự sụt giảm cung lượng đỉnh. Trị số quy chiếu (valeur de référence) (hay nếu không có, trị số lý thuyết) là trị số tốt nhất được đo trong hai năm qua.
Vài bệnh nhân, nhất là nam giới, sẽ có một hen phế quan tối cấp (asthme suraigu) “ gần như gây tử vong ” (presque mortel). Những bệnh nhân này thường dùng đến phòng cấp cứu, có một sự nhận thức kém về tình trạng tắc đường khí, đôi khi không có triệu chứng báo trước. Phải nhấn mạnh việc theo dõi bằng DEP. Theo định nghĩa, hen tối cấp (asthme suraigu) xảy ra trong vòng dưới 1 đến 3 giờ, và nhanh chóng chịu trách nhiệm một tình trạng ngạt thở có thể đưa đến tử vong. Hen tối cấp thường xảy ra sau khi tiếp xúc một số lượng lớn dị ứng nguyên, một stress hay dùng các thuốc bị chống chỉ định. Các bệnh nhân được nhận vào phòng hồi sức chịu những thời gian thông khí nhân tạo thường ngắn hơn.
Dạng lâm sàng thường gặp nhất là hen phế quản ” không ổn định “, (asthme mal contrôlé, instable), khiến bệnh nhân đến khám cấp cứu. Bệnh được thể hiện bằng một sự gia tăng dần dần các triệu chứng, sử dụng thường xuyên hơn các thuốc kích thích beta 2 có tác dụng nhanh với một đáp ứng ít tốt hơn với điều trị. Khoảng 80% những bệnh nhân bị hen phế quản đến phòng cấp cứu có một sự gia tăng các triệu chứng, tiến triển từ hơn 48 giờ. Viêm phế quản thường mạnh và éosinophilie bronchique đi trước sự xuất hiện của cơn bộc phát. Một bối cảnh nhiễm khuẩn (chủ yếu là virus), một sự tiếp xúc với dị ứng nguyên hay những chất kích thích thường được nhận diện. Một sự không tuân thủ những điều trị nền (traitement de fond), một điều trị không thích ứng với mức độ nghiêm trọng của hen phế quản, một sự nhiễm độc thuốc lá hay những hành vi có nguy cơ khác cũng tham dự vào sự xuất hiện của hen phế quản cấp tính.
Profil của bệnh nhân và những tiền sử được liên kết với sự xuất hiện của một hen phế quản nặng (AAG), mặc dầu nó có thể xuất hiện ở mỗi bệnh nhân hen phế quản.2. NHỮNG THĂM KHÁM PHỤ
Những thăm khám phụ có một vị trí thứ yếu.
– Khí huyết động mạch được dành cho hen phế quản nặng (AAG) và/hoặc khi SpO2 dưới 92%. Normocapnie, rồi hypercapnie, đôi khi liên kết với acidose lactique, là những dấu hiệu nghiêm trọng. Nó bảo hiệu sự xuất hiện của một suy kiệt thông khí (épuisement ventilatoire).
– Kali huyết và đường huyết phải được theo dõi, nhất là khi kê
đơn corticoides và beta-2 mimétiques với liều mạnh.
– Nồng độ théophylline trong máu được thực hiện và nếu cần
– Chụp X quang ngực có thể cho thấy những dấu hiệu căng lồng ngực (distension thoracique), những biến chứng (tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất) hay những động đặc phổi (bối cảnh nhiễm trùng)
– Numération formule sanguine và điện tâm đồ là cần thiết.
– Xét nghiệm tế bào-vi khuẩn đờm, sérologie aspergillaire, thăm dò ORL, pH-métrie, chụp cắt lớp vi tính ngực cần được bàn bạc tùy theo bối cảnh lâm sàng.

Reference : Urgences respiratoires

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(12/7/2015)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu hô hấp, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Cấp cứu hô hấp số 38 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Cấp cứu hô hấp số 39 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s