Khoa học ngày nay

VITAMIN : TỐ CHẤT CẦN THIẾT CHO SỰ SỐNG

Vào năm 1889, bác sĩ người Hà Lan Christiaan Eijkman nhận thấy rằng những con gà mái được nuôi dưỡng bằng gạo chà sạch cám thì bị mắc chứng bệnh, gọi là” beriberi”. Ngược lại những con gà được nuôi bằng gạo còn nguyên cám thì không mắc bệnh. BS Eijkman cho rằng gạo là một chất độc mà chất giải độc nằm ở trong lớp cám. Vào năm 1911, TS Casimir Funk đã xác định được một hoạt chất có tác dụng chữa chứng bệnh beriberi. Chất này được gọi là thiamin. Nhà nghiên cứu đề nghị đặt tên là “vitamin” (tiếng Latin, bao gồm vita (sự sống) và amin (tên của gốc hóa học).
Phải chờ đến năm 1926, các nhà nghiên cứu mới phân lập được vitamin B1 và đến năm 1936 các nhà khoa học mới tổng hợp được vitamin này. Hiện nay, chứng bệnh beriberi hầu như đã biến mất, ngoại trừ một số nước nghèo đói.

NGAY TỪ NĂM 1753, BS JAMES LIND ĐÃ KHUYÊN THỦY THỦ ĂN CAM

Trước cuộc khám phá này, những chứng bệnh do thiếu vitamin được gán cho là bị Chúa trừng phạt. Theo TS Jean Bocquet, những biểu hiện bệnh lý khác nhau do thiếu vitamin như mù lòa, bệnh phong hay còi xương hiện nay thì ngày trước đều do nguyên nhân thần bí. Thực ra, bệnh phong một phần là do thiếu vitamin B3.
Vào năm 1917, bệnh scorbut được chính thức xác định là do thiếu vitamin, đó là vitamin C. Tuy nhiên, vào năm 1753, bác sĩ người Scot-len thuộc Hải quân Hoàng gia Anh, James Lind, đã khuyến cáo các thủy thủ nên ăn nhiều cam và chanh. Vitamin C có tác dụng chống bệnh scorbut, được chiết xuất từ chanh và sau đó được nhà hóa học người Hungari định danh vào năm 1828 rồi được tổng hợp vào năm 1933. Vitamin C được sử dụng để chữa trị chứng scorbut, các bệnh nhiễm trùng, bệnh thiếu máu, bệnh thấp khớp, bệnh đái đường. Vào năm 1929, nhà sinh hóa người Đan Mạch Henrik Dam nhận thấy rằng những con gà mái được cho ăn khẩu phần nghèo chất béo và cholesterol thì có hội chứng xuất huyết. Các vitamin đã được tìm thấy không có hiệu quả, chỉ có hoạt chất được chiết xuất từ rau xanh (rau bina, cải bắp) là có tác dụng. Từ đó, các nhà nghiên cứu khám phá ra vitamin K, được chiết xuất từ năm 1934 và được tổng hợp vào năm 1939. Vitamin cuối cùng được khám phá là vitamin B12 vào năm 1948.Mỗi loại vitamin có một chức năng riêng đối với cơ thể: vitamin A cần cho thị giác; B1 cung cấp năng lượng cho cơ thể; B2 giúp cho sự biến dưỡng; B3 làm giảm cholesterol và giữ một vai trò trong sự hình thành máu; B5 giúp tái tạo tế bào; B6 tham gia vào sự đồng hóa protein; B8 tham gia vào sự đồng hóa glucid và lipid; B9 giúp phát triển chức năng của hệ thần kinh; B12 có tác dụng chống dị ứng và giải độc; C có tác dụng chống oxy-hóa và phòng ngừa các bệnh về TMH; D rất cần cho sự tăng trưởng và phát triển của xương; E cần cho sự tăng trưởng của tế bào và K cần cho sự đông máu và khoáng hóa xương.

VỀ BẢN CHẤT, VITAMIN ĐƯỢC XEM NHƯ LÀ THUỐC

Vì sao lại không có vitamin B4 hay B7? Lổ hỗng này tương ứng với các yếu tố dinh dưỡng mà các nhà nghiên cứu cho rằng đó là các vitamin mới nhưng cuối cùng thì không phải. Như vậy, chính xác vitamin là gì?
Thực sự vitamin là những chất hữu cơ cần thiết cho sự biến dưỡng nhưng với một lượng rất nhỏ, có nghĩa là chúng là những chất xúc tác, những phân tử can thiệp vào tiến trình của chuỗi phản ứng hóa học mà không bị tiêu thụ, tức là chúng vẫn còn tồn tại đến cuối phản ứng.
Các nhà khoa học chia vitamin làm 2 loại: loại tan trong nước, không được giữ lại trong cơ thể mà lượng dư thừa được thải ra theo nước tiểu (các vitamin B và C); loại tan trong mỡ thì được dữ trự lại.
Về cơ bản, vitamin được xem như là thuốc và có thể được kê đơn. Giữa những năm 1987 và 1991, có khoảng 141 biệt dược chống mệt mõi như vitamin C đã không được Bảo hiểm xã hội thanh toán bởi vì họ cho là không cần thiết cho điều trị. Hiện nay, ở Pháp chỉ còn một số đươc thanh toán Bảo hiểm như vitamin D vì cần cho trẻ em hay vitamin B9 (acid folic) cần cho thai phụ. Còn những vitamin khác được xem như thực phẩm chức năng.

NHỮNG CỘT MỐC LỊCH SỬ CỦA VITAMIN

-Năm 1536: Jacques Cartier phát hiện các dấu hiệu như kiệt sức, chảy máu răng, da có nhiều vết bầm… đó là dấu hiệu của chứng bệnh scorbut. Chứng bệnh đã giết chết hàng loạt thủy thủ trên tàu viễn dương cho đến cuối thế kỷ XVII.
-Năm 1912: Nhà sinh hóa người Mỹ Elmer McCollum đã khám phá ra vitamin A (còn gọi là retinol). Năm 1931, Paul Karrer tìm ra cấu trúc của vitamin A và phát hiện trong dầu gan cá thu có chứa một lượng rất lớn vitamin này.
-Năm 1926: George R.Minot và William P.Murphy, 2 bác sĩ của Viện đại học Harvard, Hoa Kỳ, đã chữa lành cho những bệnh nhân bị chứng thiếu máu trầm trọng bằng cách tiêm một chất chiết xuất từ gan động vật. Năm 1948, các nhà khoa học đã chiết xuất thành công vitamin B12 và tổng hợp được vào năm 1973.
-Năm 1928: Thuốc đầu tiên chứa vitamin D, có tên gọi Sterogyl được tung ra thị trường. Chỉ cần giọt vài giọt từ chai thuốc này vào trong bình sữa là có thể phòng ngừa được chứng bệnh còi xương và giúp trẻ tăng trưởng.
-Năm 1933: BS Alfred Gilman, trưởng khoa sinh hóa của Trường đại học Chicago, Hoa Kỳ, cùng với cộng sự Julius Kowalsky đã ăn điểm tâm bằng những viên nang vitamin, protein và chất béo với ý định thay cho thực ăn.
-Năm 1940: Mussolini đã gởi biếu cô giáo Clara Petacci, biệt dược Nestrovit chứa 4 loại vitamin A,B1,C và D, rất phổ biến vào thời đó.
-Năm 1963: Chỉ thị của Bộ Y tế Pháp về việc phổ quát hóa việc sử dụng vitamin D cho trẻ em, từ sơ sinh đến 5 tuổi, để phòng ngừa chứng còi xương.
-Năm 1968: Linus Pauling, nhà vật lý-hóa học người Mỹ, lần đầu tiên đề xuất “Y học phân tử chính thống” trong tạp chí Science với mục đich đem lại cho cơ thể sự quân bình hoàn hảo. Ong gọi đó là “liệu pháp dinh dưỡng” đã truyền bá rộng rải ở Hoa Kỳ, Canada và Pháp.
(Theo Çà M’Intéresse)
BS NGUYỄN VĂN THÔNG
DrThong007@gmail.com

THẤY BẰNG ÂM THANH

Những người mù bẩm sinh có thể “thấy” được cơ thể mình trong không gian dưới hình dạng của những âm thanh đã kích hoạt vùng vỏ não thị giác.
Thu được tín hiệu thị giác bằng cách nghe âm thanh ? Đó là điều khả thi, một công trình nghiên cứu được công bố trên tạp chí “Current Biology”, do các nhà khoa học Ix-ra-en thực hiện trên người mù bẩm sinh.
Trong quá trình thử nghiệm, TS Ella Striem-Amit và Amir Amedi thuộc Viện đại học Hê-brơ Jerusalem, đã thành công trong việc truyền tín hiệu thị giác cho những người bị mù bẩm sinh, bằng cách cho họ nghe những âm thanh rất đặc biệt, tập trung “mô tả” những gì đang diễn ra chung quanh họ. Những âm thanh đó bao gồm những điều mà các nhà khoa học gọi là “khung cảnh âm thanh” chung quanh người mù, sẽ cung cấp cho người bệnh những tín hiệu thính giác trong khoảng không gian bao quanh người bệnh.
Sau khoảng 10 giờ tập luyện, những người mù tham gia thử nghiệm này có khả năng nhận biết sự hiện diện của một hình dạng con người, định vị được hình dạng đó trong không gian cũng như mô phỏng được tư thế đứng. Nói cách khác… họ thấy được âm thanh!

Điều này có nghĩa là, bất chấp bị mù bẩm sinh, những người bệnh này vẫn có khả năng hình dung ra được cơ thể của họ trong không gian. Các nhà nghiên cứu đã minh chứng điều này bằng cách đặt những người tình nguyện này vào trong máy cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) : kết quả cho thấy ở những người mù cũng như người sáng mắt, một vùng của trung khu thị giác đã được kích hoạt dưới tác động của kích thích thính giác.
Vùng não bộ này, có chức năng về cảm thụ thị giác, đã hoạt động độc lập đối với trải nghiệm thị giác trong suốt cuộc đời.Để thực hiện kỳ công này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một phần mềm, được gọi là “VOICE”, có chức năng “phiên dịch” các tín hiệu thị giác thành âm thanh để tạo ra một “khung cảnh âm thanh”. Phần mềm này hoạt động như thế nào? Chảng hạn như để “phiên dịch” một đường thảng chéo đi từ trái sang phải, từ cao xuống thấp thành âm thanh bằng cách đệm đàn piano những nốt nhạc thấp dần dần!
(Theo Sciences &Vie, 4/2014)
BS NGUYỄN VĂN THÔNG

VŨ KHÍ MỚI TẤN CÔNG VI KHUẨN BẤT HOẠT

Trong khi sử dụng liệu pháp kháng sinh, một số vi khuẩn vẫn có thể tồn tại trong cơ thể bằng cách làm chậm lại sự biến dưỡng của chúng và ngưng việc nhân bản. Tuy nhiên, không phải như vậy là chúng mất đi khả năng gây bệnh. Chỉ cần chúng thức giấc là có thể gây bệnh: khả năng làm tái phát bệnh lao hay gây nhiễm khuẩn do tụ cầu vàng. Vậy làm sao để chống lại các loại vi khuẩn gây bệnh này?Một nhóm nghiên cứu người Mỹ đã tìm ra một liệu pháp mới: họ sử dụng một phân tử có khả năng gây ra hiện tượng tự tiêu diệt của các vi khuẩn này. Theo TS Antoine Andremont thuộc Bệnh viện Bichat-Claude-Bernard, Paris, cho biết phần lớn các kháng sinh chỉ ức chế giai đoạn biến dưỡng của các vi khuẩn đang hoạt động, có khả năng phát triển và nhân bản nhanh chóng trong cơ thể. Đó là lý do vì sao kháng sinh không có hiệu quả đối với vi khuẩn bất hoạt. Nhóm nghiên cứu của TS Kim Lewis thuộc Viện đại học Northeastern, Boston, Hoa Kỳ, đã tìm ra một yếu tố thiết yếu cho sự tồn tại của vi khuẩn, kể cả trong trường hợp chúng ở trạng thái bất hoạt. Đó là một loại men có tên gọi ClpP, hiện diện trong tất cả các loại vi khuẩn và có chức năng điều hòa sự thoái biến protein của chúng.Một số công trình nghiên cứu trước đây cũng đã cho thấy một phân nhóm của ClpP là Acyldepsipeptid (ADEP), có thể làm tăng hoạt men này cũng như có thể tiêu diệt vi khuẩn đang hoạt động. Vì vậy, nhóm nghiên cứu Boston đã có ý định thử nghiệm hiệu ứng của một phân nhóm của phân tử này là ADEP4, đối với loại vi khuẩn gây bệnh mạnh như tụ cầu vàng. Họ cho ADEP4 vào trong một môi trường nuôi cấy tụ cầu vàng ở trạng thái bất hoạt. Sau 24 giờ, họ phân tích thành phần cấu tạo protein của các vi khuẩn này. Kết quả cho thấy hơn 400 protein khác nhau đã bị thoái biến. Theo TS Antoine Andremont, điều này cho thấy ADEP4 đã buộc các tụ cầu vàng tự hủy diệt.
(Theo LaRecherche)
BS NGUYỄN VĂN THÔNG

GIẤC NGỦ “TẨY SẠCH” NÃO

Vì sao chúng ta phải bỏ ra 1/3 cuộc sống để ngủ? Mặc dầu từ lâu người ta đã biết giấc ngủ là rất cần thiết cho một vài chức năng nhận thức thiết yếu, thí dụ như trí nhớ. Tuy vậy, cho đến bây giờ các nhà khoa học vẫn chưa biết rõ vai trò sinh học cơ bản của giấc ngủ. Thế nhưng tất cả đã thay đổi với sự khám phá của TS Maiken Nedergaard và cộng sự thuộc Viện đại học Rochester, Hoa Kỳ. Lần đầu tiên công trình nghiên cứu cho thấy giấc ngủ có chức năng quét sạch ra khỏi não bộ, các chất cặn bả biến dưỡng do các nơ-ron thải ra.
Vào năm 2012, nhóm nghiên cứu người Mỹ cũng đã khám phá ở chuột, một hệ mà qua đó, dịch não tủy có thể đến được khoảng gian bào giữa các nơ-ron và thải các chất cặn bả độc hại do chúng tạo ra vào hệ tĩnh mạch. TS Maiken Nedergaard đã đặt tên cho hệ thống này là “glymphatique” , tương tự như hệ bạch huyết (lymphatique), đã sử dụng bạch huyết để thải trừ các chất độc biến dưỡng do các loại tế bào tạo ra, vào trong hệ tuần hoàn.
Công trình nghiên cứu mới này còn đi xa hơn nữa bằng cách cho thấy rằng điều chủ yếu của việc quét sạch não này đã xảy ra trong giấc ngủ. Để đạt được điều đó, các nhà nghiên cứu đã tiêm vào trong dịch não tủy của chuột, một chất chỉ điểm huỳnh quang màu xanh lục khi chuột ngủ và một chất chỉ điểm khác màu đỏ khi chuột thức tỉnh. Sau đó, các nhà nghiên cứu quan sát dưới kính hiển vi, nhận thấy rằng khoảng gian bào dãn ra trong giấc ngủ. Khi thức thể tích não dãn 14% trong khi ngủ lại dãn đến 23%. Sự gia tăng chủ yếu này làm tăng hiệu quả của sự quét sach não.Nhóm nghiên cứu Rochester chưa dừng lại ở đó. Họ muốn đánh giá sự tác động của hiện tượng này lên trên các protein â-amyloid, cùng với protein Tau, tích tụ trong não bộ của những bệnh nhân bị chứng bệnh Alzheimer. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng đã biết các bệnh nhân này thường có biểu hiện rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng. Sau khi tiêm protein â-amyloid vào trong não của chuột lúc ngủ và khi thức dậy, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng các protein này đã được thải trừ nhanh gấp đôi khi ngủ so với lúc thức dậy. Khám phá mới này đã mở ra triễn vọng về liệu pháp điều trị các bệnh thoái hóa thần kinh do tích tụ chất bả độc hại. Theo TS Christophe Bernard, bây giờ cần phải nghiên cứu xem sự quét sạch não bộ này xảy ra đặc biệt ở giai đoạn nào của giấc ngủ, thí dụ như giai đoạn liên quan đến trí nhớ. Tuy nhiên, đây mới chỉ thử nghiệm trên chuột. Cần phải chứng minh sự quét sạch não bộ này cũng hoạt động tương tự như ở con người.
(Theo LaRecherche)
BS NGUYỄN VĂN THÔNG
DrThong007@gmail.com

 

Bài này đã được đăng trong Khoa học ngày nay. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s