Thời sự y học số 369 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ SỰ PHÁT TRIỂN TĂNG VỌT CỦA QUANG TUYẾN CAN THIỆPtsyh369Từ những năm 2000, bùng nổ những động tác điều trị (actes thérapeutiques) đi vào trường hoạt động của các thầy thuốc X quang.
Quang tuyến can thiệp (radiologie interventionnelle) hay quang tuyến điều trị (radiologie thérapeutique) cho phép đạt rất chính xác một đích điều trị (cible thérapeutique), dưới sự kiểm soat của siêu âm hay scanner hay một thăm dò chụp hình ảnh khác hay những đường tự nhiên, xuyên qua da, nhờ một ống thông rất mảnh.
“Để điều trị, các thầy thuốc X quang có thể sử dụng những kỹ thuật khác nhau : emboliser (bít) một mạch máu xuất huyết hay phải tiêu hủy nó bởi vì nó nuôi dưỡng một khối u, đưa một thiết bị nhỏ vào trong một động mạch (stent) để tránh không cho nó bị bít thêm nữa, phá hủy một nodule bằng lạnh (cryothérapie) hay bằng đốt (micro-onde, radiofréquence). Những khả năng khác : điều trị bằng hóa trị (chimiothérapie) một cách trực tiếp trong lòng khối u hay bằng những bille radioactive… Khả năng lựa chọn là rộng”, BS Audrey Fohlen, thuộc khoa chụp hình ảnh chẩn đoán và quang tuyến điều trị của CHU de Caen, đã giải thích như vậy.
Vì phần lớn các động tác rất là kỹ thuật, các thầy thuốc X quang thực hiện chúng đã chuyên môn hóa. “Trong lãnh vực mạch máu thần kinh (neuro-vasculaire), sự làm tắc nghẽn các phình mạch nội sọ (embolisation des anévrismes intracraniens), hoặc trước khi chúng bị vỡ (cấp cứu), đã gần như thay thế ngoại thần kinh trong chỉ định này, GS Alain Bonafé, coordinateur của khoa chẩn đoán thần kinh (département de neurodiagnostic) thuộc CHU de Montpellier đã ghi nhận như vậy.Ngoài việc điều trị những dị dạng huyết quản (malformation vasculaire), chúng tôi cũng ở tuyến đầu để làm phân rã cơ học (désintégration mécanique) những cục máu đông lớn bít những huyết quản của não. Một công trình mới đây xác nhận lợi ích của nó so với đường tĩnh mạch. Hy vọng là hạn chế hơn nữa những di chứng sau một tai biến mạch máu não bằng cách mở lại càng nhanh càng tốt động mạch bị bít. Tuy nhiên chúng tôi phải nhận rất nhanh những bệnh nhân liên hệ, trong những giờ đầu tiên hết sau tai biến mạch máu não. Đó không phải là trường hợp hiện nay, do đó nguy cơ phân biệt giữa những bệnh nhân sẽ có thể nhận kỹ thuật này với những bệnh nhân khác.
Can thiệp trên những xuất huyết tại chỗ ngoài não cũng thuộc vào việc thường tình : ” Trong phụ khoa, thầy thuốc X quang là trung tâm của điều trị hémorragie de la délivrance và của điều trị những fibrome, bằng cách can thiệp bằng embolisation”, GS Jena-Pierre Pelage, trưởng khoa quang tuyến của CHU de Caen, đã xác nhận như vậy. Trong lãnh vực xuất huyết dạ dày ruột, các thầy thuốc X quang thực hiện những embolisation đối với những giãn tĩnh mạch thực quản hay những động mạch của dạ dày hay của tá tràng, chịu trách nhiệm những xuất huyết tiêu hóa. Đó không phải là lãnh vực hoạt động duy nhất của họ. ” Cũng có thể điều trị những u gan, kể cả khi đó là những u thứ phát một ung thư khác (những di căn) “, BS Fohlen đã nhấn mạnh như vậy. Và nguyên tắc cũng tương tự trong phổi học : ” Những thầy thuốc X quang có thể can thiệp cấp cứu trên một động mạch phế quản hay phổi xuất huyết ở những người ho ra máu. Cũng có thể khử bỏ một u phổi bằng cách tiêu hủy nó bằng nhiệt (radiofréquence).Khi không thể mổ được bởi vì người bệnh không chịu được nó, đó là một giải pháp mang lại những cơ may thành công tốt, nhất là đối với những khối u dưới 3 cm”, GS Pelage đã nhấn mạnh như vậy.
Niệu học (urologie) và thận học (néphrologie) cũng không thua kém gì : ” Các thầy thuốc X quang có thể đốt, bằng tần số phóng xạ, những u nhỏ dưới 4 cm của thận, thường không có triệu chứng và được khám phá tình cờ nhân một thăm dò chụp hình ảnh được đòi hỏi vì một nguyên nhân khác. Thường đó là những u ung thư mà một vài nhiên hậu lớn lên và trở nên nguy hiểm. Thế mà, được điều trị ở giai đoạn này, các kết quả có được là tốt (không nhiều tái phát hơn so với một cắt bỏ thận bán phần) và đòi hỏi dưới 24 giờ nhập viện”, GS Patrice Taourel (CHU Montpellier) đã xác nhận như vậy.
Một lãnh vực khác trong đó radiologie thérapeutique rất được áp dụng là lãnh vực xương và khớp, như GS Catherine Cyteval (CHU Montpellier) đã giải thích như vậy. ” Những đau xương khớp là một triệu chúng thường gặp. Nhiều khả năng cho các thầy thuốc X quang trong trường hợp thất bại những thuốc giảm đau thông thường, từ tiêm ngấm (infiltration) các thuốc kháng viêm dưới sự kiểm soát của chụp hình ảnh để tiêm chất ciment để làm cứng một gãy đốt sống gây đau. Sự phá hủy những u xương nhỏ cũng có thể được thực hiện, bằng radiofréquence, cryothérapie hay bằng làm xơ cứng (scléroser) những mạch máu nuôi dưỡng thương tổn. Sau cùng cũng có thể can thiệp ở vài thoát vị đĩa nhỏ để lấy đi những mảnh xương đè ép dây thần kinh : đó là một giải pháp thay thế rất đáng lưu ý đối với ngoại khoa khi phẫu thuật không thể thực hiện bởi vì sự phục hồi nhanh hơn và những biến chứng lâu dài ít hơn. Những thầy thuốc X quang đang nghiên cứu một kỹ thuật mới đẩy hứa hẹn bởi vì nó tránh đi xuyên qua da nhờ một ống thông : đó là phá hủy những u xương bằng một chùm siêu âm rất hội tụ, dưới sự kiểm soát của IRM.”
(LE FIGARO 8/12/2014)

2/ QUANG TUYẾN CAN THIỆP : ” TÔI ĐÃ HỒI PHỤC NHANH HƠN NHIỀU”
Trước khi được đề nghị một động tác quang tuyến điều trị, Hervé Leroux, 50 tuổi (Calvados), đã có thời gian trắc nghiệm những liệu pháp khác : đã gần 10 năm ông ta phải đương đầu với những vấn đề của các khối u ung thư của ống tiêu hóa.
” Tất cả đã bắt đầu năm 2005 bởi những cơn đau bụng không chịu nỗi Sau khi đã gọi một thầy thuốc cấp cứu, ông ta đã chẩn đoán cho tôi một tắc ruột và đã cho tôi nhập viện. Sự tắc nghẽn này được gây nên bởi một ung thư của ống tiêu hóa : do đó tôi đã chịu một cuộc mổ đầu tiên để lấy đi phần bị bệnh của ruột non và đại tràng sigma. Năm 2008, chính những tế bào ung thư ở bàng quang khiến tôi phải bị cắt bỏ một phần (cystectomie partielle : cắt bỏ một phần của bàng quang bằng phẫu thuật). Tuy nhiên thời gian hưu chiến ngắn ngủi bởi vì năm 2009, lần này chính những cục u ung thư (nodule cancéreux) ở gan mà người ta đã tìm thấy. Do đó một cuộc mổ được lên chương trình và người ta đã lấy một phần gan của tôi, điều này khiến tôi phải 2 tháng nghỉ việc và ban nằm yên nghỉ.
” Than ôi, vào năm 2012, sự theo dõi gan của tôi đã cho thấy rằng những cục u mới đã xuất hiện. Tôi đã quyết định đi khám một thầy thuốc chuyên về ung thư (oncologue) khác. Với ông ta, chúng tôi đã gợi ý giải pháp quang tuyến điều trị và trong lúc chờ đợi, ông ta đã đề nghị tôi thực hiện một scanner mỗi 3 tháng để xem các cục u lớn lên hay không. Vì hai cục u ở gan có khuynh hướng lớn lên, nên năm 2014, cuối cùng người ta quyết định thực hiện cho tôi một chimio-embolisation để tiêu hủy chúng.
” Tôi nhập viện chiều hôm trước khi mổ ở CHU de Caen và buổi sáng người ta đã điều trị tôi. Tôi chỉ hơi mệt, hơi buồn nôn, nhưng không đau và không sốt. Chỉ sau 5 ngày, tôi đã có thể trở về nhà. Tôi chỉ chịu một tình trạng mệt nhẹ dai dẳng trong 3 tuần. So với cuộc mổ trước đây của tôi có sự khác nhau : lần này, tôi không phải chịu những ống thông xuất ra từ khắp bụng của tôi, tôi không mang sẹo và một cách dễ dàng hơn, với một kết quả tốt vì lẽ hai cục u tạo vấn đề đã tan biến đi ! Đối với tôi, kỹ thuật này (do tính chất nhắm đích của nó) cũng có ưu điểm là tránh một số những tác dụng không được mong muốn và đáng sợ khi đó là hóa trị cổ điển.
” Từ những can thiệp này, tôi ghi nhận rằng phải, trong chừng mực có thể được, là người chủ chốt của ” đoạn đường chiến binh” chống lại căn bệnh của mình, không do dự nêu ra những câu hỏi và đòi hỏi một ý kiến thứ hai khi ta không nhận được những thông tin mong muốn, bởi vì thường có nhiều lựa chọn. ”
(LE FIGARO 8/12/2014)

3/ NHỮNG NHẬP VIỆN NGẮN NGÀY HƠN
Mặc dầu ý tưởng emboliser (bít một mạch máu) có thể làm sợ hãi một số người, đối với GS Jean-Pierre Pelage (CHU Caen), từng trải qua những bước đầu của embolisation những u xơ tử cung vào năm 1995 trong khi ông còn là nội trú ở bệnh viện Lariboisière (Paris), kỹ thuật này ngày nay rất được nắm vững.
” Trên thực hành, thầy thuốc X quang thực hiện một thăm dò chụp hình ảnh (siêu âm vùng chậu, nếu cần được bổ sung bởi một IRM) để xác định số lượng những u xơ, kích thước và vị trí của chúng. Điều đó cần thiết để đảm bảo tính khả thi của điều trị. Một khi được quyết định, can thiệp được lên chương trình (48 giờ nhập viện). Can thiệp được diễn ra với gây tê tại chỗ và nhằm bít bằng embolisation những động mạch tử cung nuôi dưỡng các u xơ. Sau embolisation, một thuốc giảm đau được tiêm truyền để tránh đau đạt cao điểm trong 6 đến 12 giờ sau can thiệp. Nghỉ việc một tuần (so với ít nhất 3 tuần sau phẫu thuật) và vài ngày điều trị giảm đau và kháng viêm là đủ. Cuối cùng, emboliser một u xơ như thế là một giải pháp thay thế myomectomie multiple (ngoại khoa bảo tồn cổ điển của u xơ) hay cắt bỏ tử cung (hystérectomie) bởi vì nó cho phép người đàn bà bảo tồn tử cung của mình”.
Nếu các bệnh nhân được điều trị bởi quang tuyến điều trị nhận thấy một cách nhanh chóng ở đó những lợi ích khi có thể thực hiện về mặt kỹ thuật (một nhập viện ngắn ngày hơn và một thời gian dưỡng bệnh nhanh hơn, cũng có lợi ích về mặt kinh tế. ” Thật vậy, những kỹ thuật vi xâm nhập này cho phép, đối với những chỉ định rất chính xác, những thời gian nhập viện ngắn ngày hơn so với ngoại khoa, với những kết quả tương đương. Đó chính là giải pháp duy nhất đối với những bệnh nhân không mổ được vì những bệnh khác làm họ có sức khỏe quá kém “, BS Audrey Fohlen (CHU de Caen) đã giải thích như vậy.
Phải cần nhiều thập niên để các nhà làm chính trị hiểu được lợi ích kinh tế của chirurgie ambulatoire. Vẫn còn hy vọng rằng không phải chờ đợi lâu như thế để họ sau cùng quan tâm đến những khả năng của quang tuyến điều trị.
(LE FIGARO 8/12/2014)

4/ TẠI SAO ĐỀ NGHỊ GHÉP THẬN

Docteur Valérie Moal
Centre de néphrologie et de transplantation rénale
Hôpital de La Conception (Marseille)

Ghép thận (transplantation hay greffe rénale) khi có thể thực hiện, mang lại cho bệnh nhân bị suy thận mãn tính giai đoạn tận cùng (nói một cách khác một sự ngừng hoạt động của hai quả thận) một hy vọng sống (espérance de vie) tốt hơn và một chất lượng sống tốt hơn những phương pháp thẩm tách khác nhau. Vì thế, năm 2014, ghép thận là điều trị lựa chọn của những bệnh nhân này và phải được đề nghị, bệnh nhân toàn quyền chấp nhận hay từ chối.
Năm 2012, ở Pháp, số những bệnh nhân bị một suy thận mãn tính giai đoạn tận cùng trên 70.000 : khoảng 40.000 được điều trị bằng thẩm tách máu (hémodialyse), 3000 bằng thẩm tách phúc mạc (dialyse péritonéale) và hơn 30.000 bệnh nhân đuợc ghép thận. Số những trường hợp ghép thận tùy thuộc vào số những transplant có sẵn. Để thực hiện một ghép thận, phải lấy một quả thận ở một người hiến. Sự lấy thận được thực hiện ở một người hiến tim còn đập (donneur à coeur battant) trong trạng thái chết não hay ở một người hiến tim ngừng đập (donneur à coeur arreté), đó là ghép từ người hiến chết (donneur décédé). Chết não (Mort cérébrale) chiếm dưới 2% những trường hợp tử vong. Sự hiếm hoi của biến cố này giải thích tình trạng khan hiếm thận. Những trường hợp lấy thận của những người hiến tim ngừng đập lại còn hiếm hơn bởi vì được thực hiện trong vài cơ sở được cho phép. Trong khi số những trường hợp lấy thận từ những người hiến chết vẫn bị hạn chế, số những người chờ thận gia tăng mỗi năm và trên 10.000 năm 2014.
Sự lấy thận có thể được thực hiện ở một người tình nguyện theo những điều kiện của loi de bioéthique năm 2004, đó là ghép từ người hiến còn sống. Thời gian sống của thận ghép ở người nhận khi đó tốt hơn so với khi thận phát xuất từ một người hiến chết. Ưu điểm thứ hai là sự thực hiện ghép thường có thể thực hiện trước khi bắt đầu điều trị bằng thẩm tách (greffe préemptive) bởi vì lấy và ghép được lên chương trình. Ngoài ra greffe péremptive còn cải thiện những kết quả của điều trị này.
Ở Pháp, sự hiến của người sống là không tốn tiền, tự do thỏa thuận và trong lợi ích điều trị của một người nhận được xác định. Mẹ, cha, anh chị em, con, ông nội ông ngoại, chú, cô, anh em chú bác, vợ hay chồng của một bệnh nhân, tất cả đưa ra bằng cớ có một cuộc sống chung ít nhất hai năm với người nhận, tất cả có thể đưa rằng bằng cớ một liên hệ tình cảm chặt chẽ và ổn định từ ít nhất hai năm với người nhận có thể đề nghị hiến thận.
Người hiến tự nguyện phải có sức khỏe tốt và những thăm dò khác nhau của bilan tiền phẫu nhằm chứng tỏ điều đó. Sự chọn lọc những người hiến được thực hiện nghiêm túc để cho phép người nhận và người hiến có một chức năng thận tối ưu sau khi ghép và hiến. Những thăm dò cũng phải chứng tỏ rằng người hiến và người nhận không bất tương hợp (incompatible) để tránh sự thải bỏ (rejet). Nhưng, ngay cả trong tình huống này, dự án hiến thận có thể được theo đuổi. Thật vậy, chúng ta hãy lấy thí dụ hai cặp hiến-nhận : Bà A muốn hiến cho chồng mình một trái thận nhưng chúng không tương hợp, và ông B muốn hiến cho con trai mình một trái thận nhưng chúng cũng không tương hợp, vậy một sự hiến ở mỗi cặp là không thể thực hiện được. Nếu bà A tương hợp với con trai của ông B và nếu ông B tương hợp với ông A, khi đó những hiến chéo (don croisé) này có thể xét đến. Trong tất cả các trường hợp, cặp hiến-nhận nhận một thông tin hoàn chỉnh. Người hiến sau đó được nghe bởi một ủy ban “người hiến sống” (donneur vivant). Ủy ban sẽ kiểm tra là người hiến đã hiểu rõ thông tin về những nguy cơ và hậu quả của sự lấy thận và đảm bảo người hiến toàn quyền quyết định. Sự lấy thận chỉ xảy ra sau khi đã được cho phép bởi ủy ban “người hiến sống” và sau khi người hiến đã bày tỏ sự đồng ý hiến thận của mình trước chủ tịch của tòa án thượng thẩm.
Câu chuyện của một cuộc ghép thận từ người hiến sống vừa đơn giản vừa phức tạp, phát xuất từ lòng quảng đại và tự nhiên của một người hiến thương yêu một người nhận và pha lẫn những khía cạnh khoa học và luân lý mà kíp nội-ngoại khoa hết lòng tôn trọng, để câu chuyện này là đẹp nhất.
(LE FIGARO 17/11/2014)

5/ THẨM TÍCH MỘT NGƯỜI GIÀ NHƯ THẾ NÀO ?

Professeur Philippe Brunet
Professeur Yvon Berland
Centre de néphrologie et de transplantation rénale
Université Aix-Marseille
Hôpital de la Conception

Thẩm tách (dialyse) ở người rất già, điều đó có thể là câu chuyện của Jean, 85 tuổi. Từ vài tháng nay, Jean mệt mỏi thường trực và ăn mất ngon. Thầy thuốc gia đình thực hiện cho ông một bilan máu và đã nói với ông đó là một suy thận. Ông đi khám một néphrologue, nghĩa là một thầy thuốc chuyên về những bệnh thận.
15 ngày sau, Jean đến thầy thuốc chuyên về thận (néphrologue). Vị thầy thuốc này giải thích với Jean rằng ông bị suy thận mãn tính. Những trái thận của ông không còn lọc một cách bình thường nữa. Chúng thải nước nhưng thải độc chất kém hơn. Khả năng lọc thận được ước tính 10% bình thường, điều này muốn nói rằng đó là một suy thận mãn tính giai đoạn tận cùng. Các quả thận của Jean dần dần ngừng hoạt động từ hôm nay cho đến 6 đến 12 tháng.
3 tuần sau, Jean đã làm một bilan mới xác nhận bilan đầu tiên. Có nhiều khả năng điều trị. Khả năng đầu tiên là ghép thận. Đó là giải pháp tốt nhất. nhưng Jean đã 85 tuổi và ông cũng bị suy tim sẽ làm cho cuộc mổ ghép thận rất khó. Thầy thuốc chuyên khoa thận giải thích rằng những bệnh nhân 80 tuổi có thể dược ghép thận, nhưng các cơ quan khác của họ phải hoàn toàn lành mạnh. Giải pháp thứ hai là thẩm tách. Đó là một phương pháp cho phép lọc máu để loại bỏ những độc chất. Có hai kỹ thuật thẩm tách, thẩm tách phúc mạc (dialyse péritonéale) và thẩm tách máu (hémodialyse).
Đối với thẩm tách phúc mạc, đó là một thẩm tách qua bụng. Tuyau nhỏ (hay cathéter) được đặt trong bụng. Nó đi ra trên thành bụng. Cathéter này được che phủ bởi một pansement nhỏ và không thể thấy được dưới lớp quần áo. Cathéter được sử dụng nhiều lần mỗi ngày để tiêm 2 lít dịch vô trùng vào trong bụng. Dịch này sẽ tích chứa những độc chất và sau vài giờ, nó sẽ được lấy ra, vứt bỏ và thay thế bởi một dịch mới. Điều trị này có thể được thực hiện ở nhà. Thủ thuật nhẹ nhàng và chịu được rất tốt.
Còn thẩm tách máu (hémodialyse) là một kỹ thuật lấy một cách trực tiếp các độc chất từ máu. Máu đi qua một máy sẽ tẩy sạch nó. Jean phải thực hiện mỗi tuần 3 buổi thẩm tách máu 4 giờ mỗi buổi trong một centre de dialyse. Bất hạnh thay trung tâm này nằm cách nhà của Jean 30 km, điều này làm ông lo ngại. Khi đó thầy thuốc chuyên khoa thận nói với ông về thẩm tách máu tại nhà (hémodialyse à domicile), với những máy nhỏ rất đơn giản. Nguyên tắc dựa trên những buổi thẩm tách máu ngắn hạn, hai giờ rưỡi, mỗi ngày.
Các bệnh nhân học tự đặt lấy các ống hay cathéter. Tuy nhiên, Jean sợ bị mệt và sợ không có kiên nhẫn để thực hiện tất cả những động tác này. Ngoài ra, ông sống đơn độc, trong khi cần có một người đi kèm để thực hiện thẩm tách máu tại nhà.
Jean đã suy nghĩ kỹ. Những đề nghị điều trị cho ông quá gò bó. Thầy thuốc chuyên khoa thận khi đó đề nghị với ông một consultation mới trước sự hiện diện của các con ông, không đồng ý với quyết định của ông không chịu làm thẩm tách. Thầy thuốc chuyên khoa thận khi đó đề nghị với Jean một suivi “à la carte” dành sự thoải mái của ông làm ưu tiên. Jean sẽ được theo dõi đều đặn bởi thầy thuốc chuyên khoa thận và thầy thuốc điều trị. Những loại thuốc sẽ được thích ứng kỹ càng, ông sẽ nhận những lời khuyên về chế độ ăn uống. Nhưng ông chắc chắn rằng thời gian sống dài hơn đối với những bệnh nhân theo một chương trình thẩm tách chuẩn, đồng thời có một sự giảm quan trọng chất lượng sống.
Trường hợp của Jean phải chăng là ngoại lệ ? Không. Trong số 41.000 bệnh nhân được thẩm tách hiện nay, ở Pháp, 6000 người 85 tuổi hoặc hơn, hoặc 15%. Số những bệnh nhân được thẩm tách trên 85 tuổi đã gia tăng hơn 50% giữa năm 2008 và 2012. Hiện tượng này có lẽ sẽ được tiếp tục ; điều này được giải thích bởi sự gia tăng và lão hóa của dân số. Vậy mục tiêu hiện nay : một mặt làm cho những kỹ thuật thẩm tích uyển chuyển hơn và dễ chịu đựng hơn và mặt khác phát triển ghép thận đối với những người có sức khỏe kém hơn.
(LE FIGARO 17/11/2014)

6/ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG : NHỮNG VŨ KHÍ MỚI ĐỂ PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ.
GS David Khayat, trưởng khoa ung thư học của bệnh viện la Pitié-Salpetrière, tác giả của ” Prévenir le cancer, ça dépend aussi de vous”, édition Odile Jacob.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi tần số ung thư đại tràng ở Pháp.
GS David Khayat : Ta thống kê 43.000 trường hợp mỗi năm trong đó, bất hạnh thay 16.000 đến 17.000 trường hợp tử vong. Còn về tỷ lệ mắc bệnh, ung thư có thể tránh được này đứng thứ ba sau ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt.
Hỏi : Những nguyên nhân là gì ?
GS David Khayat : 5% có nguồn gốc di truyền, những nguyên nhân khác nói chung do một chế độ ăn uống xấu, do nghiện thuốc lá…Trong hầu hết các trường hợp, sự tạo thành một polype xảy ra trước khối u, do đó tầm quan trọng của điều trị phát hiện ở một giai đoạn sớm để lấy đi polype càng sớm càng tốt !
Hỏi : Khi ta nói chế độ ăn uống xấu, điều đó hơi mơ hồ…Có những yếu tố làm dễ hay không ?
GS David Khayat : Không có chế độ ăn uống phổ quát. Nhưng sự tiêu thụ quá mức charcuterie, nhất là công nghiệp, sự cung cấp không đủ các sợi, các chất chống oxy hóa là có hại.
Hỏi : Làm sao phát hiện những triệu chứng đầu tiên của một ung thư đại tràng ?
GS David Khayat : Chúng khá bình thường và có thể giống với một vấn đề ruột khác, như những rối loạn transit, sự hiện diện của máu trong phân, một sự rất mỏi mệt. Thường nhất đó là những hemorroides hay những rối loạn tiêu hóa. Trước sự dai dẳng của các triệu chứng, chính thầy thuốc kê đơn hay không một soi đại tràng, thăm dò chủ yếu phát hiện sự hiện diện của một polype hay ung thư. Nhưng ngay khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên, tuyệt đối phải nhờ đến một xét nghiệm điều tra phát hiện.
Hỏi : Những ưu điểm của trắc nghiệm dịch tễ học mới đối với Hemoccult ?
GS David Khayat : Trắc nghiệm chính xác hơn, nhạy cảm hơn và dễ sử dụng hơn. Nó phát hiện đến hai lần rưởi nhiều hơn các ung thư và 4 lần các polype nhiều hơn so với hemoccult. Phương thức nhằm đặt rất ít phân trên một bandelette và gởi nó cho thầy thuốc. Trắc nghiệm mới này chỉ cần một mẫu nghiệm duy nhất, thay vì ba với Hemoccult. Ở phòng xét nghiệm, mẫu nghiệm được phân tích nhờ một lecteur automatisé rất hiệu năng, đảm bảo một tính trung thực rất lớn.
Hỏi : Những điều trị quy ước tùy theo những giai đoạn nghiêm trọng ?
GS David Khayat : Khi đó chỉ là một polype đã thoái hóa, điều trị chỉ là phẫu thuật. Nếu ung thư đã phát triển nhưng vẫn còn khu trú, ta bổ sung bằng một hóa trị. Ở một giai đoạn nào đó, ung thư đã có thể xâm nhập thành ruột và, có thể những hạch lân cận. Lại nữa, sau phẫu thuật, điều trị là một hóa trị. Nếu trực tràng bị xâm nhập, ta bổ sung bằng một xạ trị. Nếu ung thư đã di căn, xâm nhập những cơ quan khác, ngày nay chúng tôi có những điều trị bổ sung khác : những điều trị nhắm đích (thérapie ciblée).
Hỏi : Những tiến bộ mới nhất của những liệu pháp nhắm đích đối với những ung thư di căn.
GS David Khayat : Những thuốc mà chúng tôi sử dụng đã có nhiều tiến bộ ! Ngoài những thuốc cổ điển của hóa trị, đã xuất hiện những thuốc phong bế những huyết quản nuôi dưỡng các khối u như bévacimuzab (Avastin) và, mới đây, đối với những bệnh nhân đề kháng với điều trị này, aflibercept. Trong trường hợp thất bại của những hóa trị cổ điển, ta nhờ đến régorafénib (không còn bằng tiêm truyền nữa nhưng bằng đường miệng). Với loại thuốc sau hết này, một công trình nghiên cứu rộng rãi đã được thực hiện trên 760 bệnh nhân đã đề kháng với những hóa trị khác. Bệnh nhân vẫn được kiểm soát rất lâu với một chất lượng sống tốt.
Hỏi : Đối với những ung thư di căn này, những tiến bộ mới nhất là gì ?
GS David Khayat : Đó là sự hiệu chính của panitumumab (Vectibix), một loại thuốc tăng cường tác dụng của hóa trị ở vài bệnh nhân (được chọn lọc bằng một trắc nghiệm lên khối u của họ), như một kháng thể mới. Trong 30% các trường hợp, một thử nghiệm lớn trên hơn 400 bệnh nhân đề kháng với tất cả các hóa trị đã chứng minh một sự ổn định của căn bệnh. Ngày nay, tính hiệu quả của những điều trị khác nhau đến độ nó cho phép một phẫu thuật các ung thư di căn ở khoảng 20% các bệnh nhân không mổ được, đặt họ trong tình trạng thuyên giảm hoàn toàn.
(PARIS MATCH 26/3/2015-1/4/2015)

7/ CÁC THẦY THUỐC BỊ TRẦM CẢM (BLUES)
Thảm kịch xảy ra ở khoa sản Orthez đưa ra ánh sáng một hiện tượng bị quên lãng : các nhân viên điều trị, bị nghiện ngập, bị burn-out và tự tử, đã không được điều trị tốt.
PRATICIENS. ” Tôi sẽ săn sóc điều trị (…) cho bất cứ ai sẽ yêu cầu tôi điều đó (…). Bệnh nhân và các đồng nghiệp của tôi dành sự quý mến nơi tôi nếu tôi trung thành với những lời hứa của tôi ; tôi sẽ bị ô danh và khinh bỉ nếu tôi không tròn lời hứa.” Đó là lời thề Hippocrate, được đọc lên bởi những thầy thuốc trẻ.
Một lời thề không có giá trị pháp lý, nhưng khiến những thầy thuốc chịu một mệnh lệnh : nghệ thuật (art) của họ là một thiên chức (sacerdoce) không chấp nhận một khiếm khuyết (défaillance) nào. Thảm kịch Orthez, vào cuối tháng 9 năm 2014 đã chứng kiến trường hợp tử vong của một phụ nữ trẻ khi được mổ césarienne và sự hỏi cung một thầy thuốc gây mê, dọi lên một ánh sáng mới về một thực tế quá thường bị che dấu : hơn những ai khác, những người điều trị đau khổ do công việc của họ. Và hơn những ai khác họ đau khổ một cách thầm lặng.
Số các thầy thuốc tự tử 2,37 lần nhiều hơn dân thường, theo một công trình nghiên cứu được thực hiện năm 2003 bởi Caisse autonome de retraite des médecins de France (CARMF), thầy thuốc tự tử “điển hình” là một phụ nữ 48 tuổi, thầy thuốc tâm thần, đa khoa hay gây mê.
” Tỷ lệ lưu hành của chứng trầm cảm ở các thầy thuốc gần giống với dân thường, nhưng các thầy thuốc “thành công” tự tử tốt hơn bởi vì biết các loại thuốc”, BS Max-André Doppia, thầy thuốc của CHU de Caen và chủ tịch của commission Smart (Santé du médecin anesthésiste-réanimateur au travail) đã nói như vậy.
Các thầy thuốc cũng không thoát khỏi chứng nghiện ngập. Vào năm 2005 Max-André Doppia đã tiến hành một công trình nghiên cứu ở các thầy thuốc gây mê-hồi sức : 10,9% những thầy thuốc được hỏi đã lạm dụng và/hoặc phụ thuộc ít nhất một chất hướng thần (psychoactive) khác với thuốc lá, đứng đầu là rượu (đối với 59% trong số họ), tiếp theo là những thuốc an thần và thuốc ngủ (41%). ” Tuy nhiên không nên nghĩ rằng các thầy thuốc gây mê bị liên hệ hơn là những thầy thuốc khác. Một cách đơn giản, chúng ta là những người duy nhất đã dám đề cập vấn đề. Có lẽ bởi vì chúng ta có một văn hóa về nguy cơ rất sâu”.
Còn về nguy cơ burn-out, cũng được gọi là syndrome d’épuisement professionnel, theo nhiều công trình nghiên cứu, nó liên hệ 40 đến 60% những thầy thuốc của tất cả các chuyên khoa. Một công trình, được trình bày ở hội nghị mới đây của Société européenne d’oncologie médicale, cho thấy rằng 71% những thầy thuốc chuyên về ung thư trẻ có ít nhất một yếu tố épuisement professionnel. ” Các thầy thuốc chuyên ung thư, BS Susana Barjee, người lãnh đạo công trình nghiên cứu, có những quyết định phức tạp về sự quản lý ung thư, theo dõi sự sử dụng những thérapie toxique, làm việc nhiều giờ và liên tục đối diện với những bệnh nhân đau khổ và chết.”
Trò chơi buồn bã này với chết chóc và đau đớn thêm vào surcharge de travail, sự lo sợ bị sai lầm, sự quấy nhiễu của người bệnh, gánh nặng của hành chánh, sự không công nhận vai trò của thầy thuốc và ít chỗ dành cho đời sống cá nhân. Một stress, mặc dầu không phải là đặc quyền của các thầy thuốc. Nhưng họ nắm sinh mạng trong tay. ” Khi anh làm việc 54 giờ mỗi tuần, khi anh chạy khắp nơi bởi vì thiếu nhân viên, khi anh đơn độc và đương đầu với một tình huống lâm sàng phức tạp…Anh có nguy cơ bị một tai biến !”, Max-André Doppia đã tóm tắt như vậy.
Theo ông, kíp là một chỗ dựa (garde-fou) thiết yếu. ” Gây mê đã trở thành một trong những động tác an toàn nhất, nhưng với những planning mổ rất chargé, ta có thể cố đi nhanh hơn, làm nhiều hơn ; chính ở đó mà tập thể là quan trọng, để nhắc nhở chúng ta khi ta làm không tốt công việc.” Theo các chuyên gia, có 4 lần burn out nhiều hơn trong kíp mà sự gắn bó với nhau xấu. Trong thảm kịch Orthez, BS Doppia đặt câu hỏi nhất là về sự kiện chứng nghiện rượu của cô ta đã không được phát hiện bởi các đồng nghiệp.” Cô ta đã ở đó từ ba tuần, thế mà người ta không nói với chúng tôi gì hết về thời gian đó đã diễn ra như thế nào.” Điều đó không miễn trừ cô ta những trách nhiệm của mình, nhưng cơ sở tiếp nhận cô ta cũng phải có phần trách nhiệm, theo BS Doppia. ” Thật quá đơn giản khi đổ hết mọi chuyện cho sự yếu ớt của cá nhân.”
Ý thức rằng chất lượng điều trị một phần tùy thuộc vào chất lượng sống của các thầy thuốc, Bộ y tế xét đến chất lượng sống của các thầy thuốc lúc chứng nhận các cơ sở y tế.
Vào năm 2001, điều tra Sesmat cho thấy rằng chỉ 15% những thầy thuốc ứng viên burn-out ý thức điều đó. Một cách lạ kỳ, các thầy thuốc tự điều trị cho mình kém. ” Họ ưa thích tự chẩn đoán và tự cho thuốc hơn. Nhưng khi anh bắt đầu débloquer, anh không thể tiếp tục như vậy “, Max-André đã cảnh cáo như vậy.
Con về y khoa lao động, nó chỉ bắt buộc đối với những người ăn lương của bệnh viện và chỉ được lui tới bởi 40% trong số những người này. Đối với các thầy thuốc thực hiện trực gác và có khả năng bị mệt và stress, đó không phải là fantastique, BS Doppiua đã ghi nhận như vậy. Một thầy thuốc hành nghề tự do có thể đã treo bảng khám bệnh cách nay 40 năm và đã không bao giờ đo huyết áp của mình !” Cũng vậy, kíp đối đầu với một tai biến thường tự để buông trôi. Khi một cảnh sát viên dùng vũ khí công vụ của mình hay khi một nhân viên hỏa xa bị một tai nạn, cả một thủ tục được thiết đặt. Những người này được khám bởi một psychologue và không trở lại nhiệm sở tức thời, Max-André Doppia đã chứng thực như vậy. Đối với các thầy thuốc không gì được dự kiến cả. “The show must go on”
(LE FIGARO 13/10/2014)

8/ KHI NHỮNG NGƯỜI CHẾT THỨC DẬY
Sự “hồi sinh” (résurrection) của những bệnh nhân được tuyên bố là đã chết là do sai lầm chẩn đoán hơn là do phép nhiệm màu
REANIMATION. Ta nghĩ đến Roméo, vô cùng đau đớn trước thân xác bất động của Juliette. Mặc dầu được tuyên bố là đã chết, nhưng vài bệnh nhân tỉnh dậy trong khi chẳng ai còn ngờ nữa…Một hiện tượng ngoại lệ, nhưng không có gì là nhiệm màu.
Cách nay vài tuần, tim của một sản phụ người Mỹ 40 tuổi ngừng đập sau khi sinh. Bà ta bị một embolie amniotique : dịch ối (liquide amniotique) mà thai nhi nằm trong đó đã đi qua máu mẹ, các tế bào thai nhi di chuyển về những động mạch phổi và làm tắc nghẽn chúng. Sau 45 phút cố gắng hồi sinh vô ích, các thầy thuốc chuẩn bị tuyên bố khai tử. Nhưng, trái với mọi chờ đợi, tim của người mẹ trẻ đập lại một cách ngẫu nhiên. Vài ngày sau, báo chí Ba lan kinh ngạc thán phục về bà già 91 tuổi đã tỉnh dậy…ở nhà xác ! Hai câu chuyện này đặt ra một câu hỏi : làm sao người ta có thể “tỉnh dậy” trong khi đã bi khai tử trên phương diện lâm sàng ?
” Vài trường hợp “nhiệm màu” được kể trong những năm gần đây được giải thích bởi những sai lầm chẩn đoán liên quan đến những khám lâm sàng được thực hiện không điện tâm đồ”, GS Pierre-François Laterre, chủ tịch Société de réanimation de langue française. ” Trong trường hợp bà người Ba lan, ta có thể nghĩ hoặc là một ngộ độc thuốc, khiến bệnh nhân đi vào hôn mê sâu, hoặc một tình trạng hạ thân nhiệt (hypothermie). Khi đó người bệnh trong tình trạng đông miên (en hibernation), gần như không thở, mạch không còn có thể phát hiện nữa, thân thể giảm quá trình chuyển hóa.”
TÍNH CHẤT NHANH CHÓNG VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA XOA BÓP TIM
Đó là điều có thể xảy đến ở những người bị té vào một vùng nước rất lạnh hay bị chôn vùi dưới tuyết ; lạnh sẽ bảo vệ các tế bào. Vào năm 2000, tạp chí y khoa The Lancet báo cáo trường hợp Anna Bagenholm, một thầy thuốc Thụy Điển đã làm hồi sinh không để lại di chứng, sau khi nạn nhân nằm dưới băng giá 45 phút sau khi bị té trong một cuộc đi dạo. Trường hợp này khá ngoại lệ nên được vinh dự công bố trên tạp chí khoa học uy tín. Bất hạnh thay, trong phần lớn các trường hợp nạn nhân đều bị chết : khi cơ thể được sưởi ấm trở lại, máu tưới các mô thiếu oxy. Các mô sẽ tiếp tục bị thiếu oxy và điều đó sẽ gây nên những tổn hại, đó là điều mà ta gọi là ischémie de reperfusion. Kết quả : những người được làm hồi sinh này sẽ chết một hay hai ngày sau vì những suy cơ quan (défaillance cardiaque).
Trường hợp của bà mẹ gia đình trẻ người Mỹ có hơi khác. Đó là một ngừng tim ở bệnh viện, được xử trí tức thời và trong những điều kiện tốt nhất. ” Có khi, nhưng là trường hợp ngoại lệ, tim đập trở lại trong khi chúng ta đã xuôi tay. Điều đó đã xảy đến một lần. Tôi nói rằng đó là một sai lầm của tuổi trẻ “, GS Benoit Misset, thầy thuốc chuyên khoa hồi sức, giảng viên ở Paris-V đã xác nhận như vậy. Trong số những chuyên gia được hỏi, ông ta là người duy nhất đã trải qua kinh nghiệm này.
Nhưng một điều chắc chắn, sự nhanh chóng mà một xoa bóp tim được thực hiện và chất lượng của xoa bóp làm gia tăng những khả năng sống còn. ” Với một xoa bóp tim, anh thay đổi dòng thời gian. Anh làm máu lưu thông, anh kéo dài thời gian sống còn của các tế bào và nhất là những tế bào của não. Mỗi phút trôi qua không xoa bóp tim, đó là 10% cơ may sống sót bớt đi “, GS Xavier Jouven, trưởng kíp ” Epidémiologie cardio-vasculaire et mort subite” trong unité Inserm 970, đã nói như vậy.
Vấn đề là đa số những trường hợp ngừng tim xảy ra ngoài bệnh viện, trong đường xá hay tại nhà. ” Ở Pháp, thường nhất những nhân chứng gọi cấp cứu nhưng không làm gì hết, trong khi ở các nước Bắc Âu, một xoa bóp tim được thực hiện một cách hệ thống trong 3 phút. Thế mà nếu không xoa bóp tim trong vòng dưới 5 phút những tổn hại ở não bộ là đáng kể “, BS Bruno Levy, thầy thuốc chuyên khoa hồi sức của Nancy đã xác nhận như vậy. Kết quả : chỉ 5% trong số 40.000 người Pháp bị quật ngã trên đường là sống sót không di chứng. Ở Seattle (Hoa Kỳ), tỷ lệ này đạt 20%. Nếu tỷ lệ sống sót ở Paris và vùng ngoại ô đã gia tăng nhẹ để đạt 7%, đó là nhờ một thực hiện xoa bóp tim thường hơn đối với những người hiện diện gần nạn nhân.
” HIẾN CƠ QUAN”
Song song, sự xử trí bởi các thầy thuốc cấp cứu càng ngày càng tích cực hơn, nhất là ở những người trẻ tuổi nhất. ” Hôm nay, chúng tôi xử trí tích cực hơn nhiều cho những người trẻ tuổi. Chúng tôi tiếp tục xoa bóp tim trên 40 phút. Nhưng tỷ lệ sống còn không vì thế mà tiến triển. Và nếu chúng tôi tiếp tục quá lâu một hồi sinh sẽ không cứu được nạn nhân, chúng tôi mất khả năng có được một hiến cơ quan”, GS Xavier Jouven đã chứng thực như vậy. Các chuyên gia đang xác định những tiêu chuẩn cho phép các kíp Samu xác định một cách rất nhanh chóng ai ” có thể cứu được” và ai không.
(LE FIGARO 31/12/2014)

9/ XỬ TRÍ NGỪNG TIM : CHÚNG TA ĐÃ ĐẾN ĐÂU RỒI ?

Professeur Pierre-Yves Gueugniaud
Anesthésiste-réanimateur
Directeur du Samu de Lyon
Pôle urgences-Réanimation médicale-Anesthésie-
Réanimation-Samu
CHU de Lyon

Ngừng tim (AR : arrêt cardiaque) là cấp cứu y khoa cực kỳ nhất mà ta có thể tưởng tượng. Để xử trí nó, hồi sức tim phổi (RCP : réanimation cardio-pulmonaire) “hiện đại” đã được mô tả vào đầu những năm 1960. Ngừng tim bất ngờ hay chết đột ngột của người lớn được xem là một vấn đề quan trọng của y tế công cộng trong những nước công nghiệp. Ở Pháp nó liên quan hơn 50.000 trường hợp ngừng tim mỗi năm. Nguyên nhân y khoa của ngừng tim là thường gặp nhất (khoảng 90% những ngừng tim), và hơn một nửa những ngừng tim y khoa này có một nguyên nhân tim.
Để nhạy cảm hóa các trí óc về vấn đề liên quan đồng thời những người hành nghề y tế và công chúng, các chuyên gia quốc tế từ hai mươi năm nay nhất trí quan niệm căn bản “chuỗi sinh tồn ” (chaine de survie). Đó là một chuỗi gồm 4 mắc xích biểu hiện 4 giai đoạn khác nhau của xử trí một ngừng tim : mắc xích đầu tiên là báo động (alerte) bởi nhân chứng đầu tiên, mắc xích thứ hai thể hiện những động tác cơ bản của sự sống còn (xoa bóp tim và sự bổ sung thông khí), mắc xích thứ ba là khử rung và mắc xích cuối cùng là réanimation médicalisée của ngừng tim và những kế tiếp của hồi sức tim phổi (RCP). Sự vắng mặt của một trong những mắc xích này làm tiêu tan mọi hy vọng thành công, và sự nhanh chóng thực hiện của mỗi trong những mắc xích được thiết đặt là một yếu tố chủ yếu của thành công của hồi sức tim phổi.
NHỮNG MÁY KHỬ RUNG, YẾU TỐ CHỦ YẾU THÀNH CÔNG HỒI SINH
Về phía đại chúng, báo động cho Centre 15 (Centre de régulation du Samu) là ưu tiên để cho phép khởi động không trì hoãn secours. Sự nhận biết ngừng tim bởi một nhân chứng không được đào tạo, được thực hiện, một mặt, bởi sự mất tri giác và không phản ứng, và, mặt khác, bởi sự ngừng thở hay sự hiện diện của một hô hấp “hấp hối” (respiration agonique). Sự lấy mạch không còn được khuyến nghị nữa. Khi đó phải bắt đầu tức thời hồi sức tim phổi bởi những ép ngực, được thực hiện liên tục, không gián đoạn, bằng cách đè lên phía giữa của ngực với các lòng bàn tay đặt lên nhau và những cánh tay duỗi thẳng đứng, bằng cách đè xương ức xuống ít nhất 5 cm với một tần số 100 mỗi phút. Nếu không được đào tạo những động tác cơ bản sống còn, những ép ngực này có thể được thực hiện không cần luân phiên bởi một thông khí nhân tạo bằng hà hơi thối ngạt miệng-miệng (bouche-à-bouche) cho đến khi những secours professionnel đến. Đó là message sẽ chuyển đến cho anh bởi régulation médicale.
Ngoài tầm quan trọng của những ép ngực, sự sử dụng những máy khử rung tự động ngoài (DAE : défibrillateur automatisé externe) bởi đại chúng là yếu tố cơ bản thứ hai đối với sống còn của những ngừng tim, nhất là khi nguyên nhân là tim.
Thật vậy, rung thất thường gặp nhất trong những trường hợp này có thể tiếp cận với sốc điện, cho phép phục hồi nhanh một hoạt động tuần hoàn tự nhiên (RACS : récupération d’une activité circulatoire spontanée) trong một số lớn các trường hợp. Vào lúc này, đó là yếu tố thành công chủ yếu của hồi sức tim phổi (RCP). Theo những dữ kiện Pháp phát xuất từ Registre électronique des arrêts cardiaques (RéAC), những cơ may sống còn vào lúc một tháng của một ngừng tim chuyển từ 5% khi không có DAE lên 15% khi có một DAE lúc RCP bởi những nhân chứng, và hơn 30% khi cùng DAE phát ra một sốc điện trước khi các pompier và Samu đến.
Dầu thế nào đi nữa, ở Pháp sự thông tin đại chúng vẫn không đủ. Điều mong muốn là cần phổ biến một cách rộng rãi hơn khẩu hiệu được đề nghị bởi Fédération française de cardiologie và Samu-Urgences de France : ” Arrêt cardiaque : 3 động tác cho một cuộc đời = Gọi-Xoa bóp-Khử rung.”
Ở Pháp, secours đầu tiên được thực hiện trong đại đa số các trường hợp bởi các lính cứu hỏa (sapeur-pompier). Nó sẽ cho phép kéo dài hồi sức tim phổi cơ học (RCP mécanique) bằng cách thiết lập một thông khí nhân tạo nhờ một insufflateur manuel, cho phép một thông khí có chất lượng với oxy. Chuỗi hồi sức tim phổi cơ học khi đó là 30 compression đối với 2 insufflation. Ngoài ra, những người chuyên nghiệp về sơ cứu này có thể thực hiện những sốc điện nếu cần, tất các các kíp lính cứu hỏa ở Pháp đều có DAE.
Vai trò của thầy thuốc cấp cứu trong thiết đặt một RCP spécialisée gồm ba phần. Trước hết cải thiện chất lượng và tính hiệu quả của RCP mécanique đã được thực hiện bởi những secouriste. Như thế oxygénation mô sẽ có thể được cải thiện bởi nội thông khí quản bệnh nhân. Sau đó khi RACS (sự phục hồi một hoạt động tuần hoàn tự nhiên) không tùy thuộc vào choc điện, khi đó sự sử dụng adrénaline là phương tiện duy nhất cho phép RACS này. Mặc dầu điều trị này vẫn có tính hiệu quả hạn chế, adrénaline là thuốc duy nhất được khuyến nghị.
Sau cùng, một khi đã có được RACS, thầy thuốc của Samu vẫn còn cần thiết để đảm bảo sớm sự ổn định các chức năng sinh tồn và sự kiểm soát những suy cơ quan, nhất là tim mạch và não. Như thế, sự chống lại tăng thân nhiệt, thậm chí sự thiết đặt một giảm thân nhiệt vừa phải là điều mong muốn.
Vào năm 2015, sự cải thiện điều trị của những ngừng tim trước hết được chứng tỏ bởi sự phân tích của những thực hành của chúng ta qua những registre national. Registre français (“ReAC”) hôm nay có gần 40.000 hồ sơ cho phép nêu lên tính hiệu quả trong xử trí những ngừng tim của hệ thống Pháp kết hợp sơ cứu nhanh bởi những sapeurs-pompiers và những thuốc cấp cứu bởi Smur.
(LE FIGARO 2/3/2015)

10/ TƯƠNG TÁC THUỐC : NHỮNG NGUY CƠ.
BS Patrick Errard, chủ tịch các Xí nghiệp dược phẩm, cảnh giác những nguy cơ do những sai lầm khi sử dụng, đặc biệt ở những người già.
Hỏi : Ông vừa tái xuất bản tác phẩm ” 100 câu hỏi về thuốc”. Bao nhiêu người bị hay là nạn nhân mỗi năm những tai biến liên quan đến sự sử dụng một loại thuốc.
BS Patrick Errard. Ở Pháp ta liệt kê khoảng 8000 đến 12.000 người, trong đó 5 đến 10% phải được nhập viện.
Hỏi : Trong số những phối hợp có hại, ông hãy kể cho chúng tôi những phối hợp thông thường nhất.
BS Patrick Errard. Thí dụ, những người ta kê đơn cho họ 3 loại thuốc phai dùng trong ngày, một để điều trị chứng lo âu, thuốc thứ hai để điều trị chứng trầm cảm và thuốc thứ ba để điều trị dị ứng, đôi khi gây sai lầm khi dùng chúng cùng lúc vào lúc đi ngủ, gây nên một nguy cơ bị malaise và té ngã khi họ đứng dậy vào ban đêm, những tai biến rất thường dẫn họ đến cấp cứu. Phải biết rằng một hỗn hợp không thích hợp của nhiều loại thuốc có thể làm gia tăng mạnh những tác dụng của một loại thuốc khác. Một trường hợp khá thường gặp là trường hợp những bệnh nhân đang được điều trị với thuốc kháng đông (anticoagulant) nhờ đến aspirine để làm giảm đau đầu. Phối hợp này có thể tạo điều kiện cho sự xuất hiện của những trường hợp xuất huyết. Thí dụ khác : trường hợp những người theo một điều trị hạ huyết áp dùng đồng thời một thuốc khác có cùng tác dụng. Những người này rất có nguy cơ bị trụt huyết áp đột ngột. Tôi trấn an các bệnh nhân : mỗi loại thuốc trên thị trường có những đảm bảo an toàn và hiệu quả được đòi hỏi.
Hỏi : Có phải tất cả đều phản ứng cùng cách với những hỗn hợp bị chống chỉ định này ?
BS Patrick Errard : Mặc dầu những hiểm nguy hiện hữu, chúng được biểu hiện một cách rất thay đổi tùy theo tính nhạy cảm của mỗi người.
Hỏi : Những trường hợp nào làm dễ những tai biến ?
BS Patrick Errard : 1. Tuổi tác : lúc ta già di, có thể thuốc thải ít tốt hơn. Thời gian sống của thuốc trong máu không luôn luôn giống nhau. 2. Số lượng : càng có nhiều thuốc được kê đơn trên một toa thuốc, càng có nhiều nguy cơ sai lầm trong sử dụng. 3. Những rối loạn trí nhớ : chúng có thể gây nhưng quên lãng.
Hỏi : Hãy chỉ cho chúng tôi những rối loạn phải khiến đặc biệt báo động ?
BS Patrick Errard : Sự xuất hiện chóng mặt khi đứng dậy hay khi thay đổi tư thế, một cảm giác không vững, lú lẫn, sự xuất hiện xuất huyết dưới da, dưới lợi răng.
Hỏi : Có phải người ta đã chứng thực rằng những tai biến gây nên bởi những phối hợp thuốc là thường gặp hơn với những générique ?
BS Patrick Errard : Những tương tác giữa các loại thuốc, dầu biệt dược (produit de marque) hay générique, đều giống nhau. Nhưng những người già có thể nhạy cảm hơn đối với sự thay đổi tên thuốc. Chúng ta hãy nhắc lại vụ, rất được phổ biến bởi giới truyền thông, về một bà già đã lầm lẩn một thuốc ngủ với một thuốc lợi tiểu…
Hỏi : Dưới dạng nào, những sai lầm liều lượng thường gặp nhất ?
BS Patrick Errard : Phải cảnh giác với những thuốc uống (thuốc giọt, sirops…) hơn là với những thuốc viên. Đó là lý do tại sao công nghiệp dược đã hiệu chính những système “unidose”.
Hỏi : Theo ý kiến của ông, việc bán thuốc theo đơn vị (vente de médicaments à l’unité) có làm giảm những nguy cơ này không ?
BS Patrick Errard : Còn quá sớm để có thể phát biểu. Mục đích trước hết là tạo điều kiện cho một sự tuân thủ các điều trị tốt hơn. Thí nghiệm đang được tiến hành.
Hỏi : Những lời khuyên của ông cho những người dùng thuốc mỗi ngày là gì ?
BS Patrick Errard : 1. Thông tin tốt thầy thuốc kê đơn chuẩn bị đơn thuốc mà người ta dùng. 2. Đừng do dự hỏi thầy thuốc của mình, thậm chí dược sĩ, có những nguy cơ tương tác giữa các thuốc được kê đơn không. 3. Trong trường hợp thay thế bởi một générique, yêu cầu dược sĩ định rõ cho mình nó tương ứng với loại thuốc nào được ghi trên đơn thuốc. 4. Hãy tôn trọng những giờ giấc dùng thuốc để không bị một sự tích tụ thuốc trong máu và do đó một nguy cơ tác dụng quá quan trọng. Hãy biết rằng tự gia tăng những liều lượng có thể gây nên một ngộ độc. 5. Chuẩn bị trong một hộp thuốc những thuốc phải dùng trong ngày hay tuần. Sử dụng đối với những người già những mốc cố định (bữa ăn, buổi truyền hình…).
(PARIS 29/1/2015-4/2/2015)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(14/4/2015)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 369 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 519 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s