Cấp cứu hô hấp số 33 – BS Nguyễn Văn Thịnh

TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI
(PNEUMOTHORAX)

Adam L. Friedlander, MD
Division of Pulmonary Sciences and Critical
Care Medicine. Department of Medicine.
University of Colorado at Denver and
Health Sciences Center, Denver, Colorado.

1/ MỘT TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI LÀ GÌ ? CHÚNG ĐƯỢC XẾP LOẠI NHƯ THẾ NÀO ?
Sự hiện diện của khí tự do giữa phế mạc tạng và phế mạc thành là một tràn khí màng phổi. Những tràn khí màng phổi xảy ra không có một biến cố phát khởi được xem là tự phát (spontaneous pneumothorax). Tràn khí màng phổi tự phát lại được xếp loại trên cơ sở sự hiện diện hay vắng mặt của bệnh phổi bên dưới. Một tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát xảy ra ở một bệnh nhân không có bệnh phổi lâm sàng. Những tràn khí màng phổi này thường là kết quả của một subpleural blebs không được nhận biết trước đây (thường là do thuốc lá). Một tràn khí màng phổi tự phát thứ phát xảy ra như là biến chứng của một bệnh phổi đã có trước. Tràn khí màng phối do điều trị do một biển chứng của một can thiệp chẩn đoán hay điều trị, như chọc dò màng phổi (thoracentesis). Tràn khí màng phổi do chấn thương được gây nên bởi chấn thương hở hay kín (penetrating or blunt trauma), như vỡ phế nang do đè ép ngực.

2/ TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI ĐƠN THUẦN, DƯỚI ÁP LỰC, VÀ HỞ ĐƯỢC PHÂN BIỆT NHƯ THẾ NÀO ?
Các tràn khí màng phổi cũng được mô tả theo sinh bệnh lý và những ảnh hưởng.
+ Trong một tràn khí màng phổi đơn thuần (simple pneumothorax), áp lực phế mạc trở nên hỏi dương tính hơn áp lực phế mạc trong nửa ngực phía đối diện nhưng vẫn thấp hơn áp lực không khí (Hinh 23-1).
+ Với tràn khi màng phổi dưới áp lực (tension pneumothorax), áp lực trong xoang phế mạc vượt quá áp lực không khí, đặc biệt là lúc thở ra. Cơ chế “check valve” làm gia tăng sự tụ khí khi thở vào và áp lực trong xoang phế mạc, với suy hô hấp do đè ép phổi binh thường .
+ Một khiếm khuyết thành ngực có thể gây nên tràn khí màng phổi hở (open pneumothorax), trong đó không khí môi trường đi vào nửa lồng ngực bị thương tổn lúc thở vào. Điều này tạo nên một “sucking wound”, với di lệch trung thất về phía bình thường. Trong khi thở ra, trung thất trở lại phía bị thương tổn, và không khí thở ra từ phổi bình thường đi vào phổi xẹp, thường dẫn đến suy hô hấp.

3/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG CỦA TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI ?
Hầu như mọi bệnh phổi đều có thể được liên kết với một tràn khí màng phổi tự phát thứ phát. Tuy nhiên hầu hết các tràn khí màng phổi là do bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính hay nhiễm trùng bởi Pneumocystis jiroveci ở những bệnh nhân bị SIDA (Bảng1).

4/ BỆNH CẢNH LÂM SÀNG CỦA NHỮNG BỆNH NHÂN VỚI TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI ?
Dấu hiệu xác nhận lâm sàng của một tràn khí màng phổi là pleuritic chest pain một bên và khó thở. Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (primary spontaneous pneumothorax) xảy ra ở những người nam giới cao và gầy giữa 10 đến 30 tuổi và hiếm khi xảy ra ở những người trên 40 tuổi. Khởi đầu cấp tính và thường bắt đầu lúc nghỉ ngơi, với sự biến mất triệu chứng trong 24 giờ mặc dầu tràn khí màng phổi không được điều trị. Tràn khí màng phổi tự phát thứ phát (secondary spontaneous pneumothorax) xảy ra muộn, với một tỷ lệ cao điểm 60-65 tuổi. Bởi vì các bệnh nhân với bệnh phổi có trước có ít dự trữ phổi hơn, nên những triệu chứng thường nghiêm trọng hơn và khó thở gần như luôn luôn hiện diện. Các triệu chứng không biến mất một cách ngẫu nhiên và có thể được liên kết với giảm oxy mo đe dọa tính mạng, tăng thán huyết, và/hoặc hạ huyết áp.

5/ MÔ TẢ NHỮNG DẤU HIỆU VẬT LÝ ĐẶC TRƯNG Ở MỘT BỆNH NHÂN VỚI TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI ?
Những dấu hiệu vật lý cổ điển khi một tràn khí màng phổi lớn hiện diện là phổi giảm nở, tiếng thở giảm, và đả chẩn tăng vang âm ở phía tràn khí. Những dấu hiệu này có thể vắng mặt khi tràn khí màng phổi nhỏ (< 15% của nửa lồng ngực). Tim nhịp nhanh là dấu hiệu vật lý thông thường nhất. Một tràn khí màng phổi dưới áp lực (tension pneumothorax) phải được nghi ngờ khi tim nhịp nhanh > 135 đập mỗi phút, hạ huyết áp, hay xanh tía hiện diện. Ở những bệnh nhân với một tràn khí màng phổi thứ phát, những dấu hiệu vật lý có thể khó thấy và bị che khuất bởi bệnh phổi bên dưới.

6/ HÃY BÀN VỀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM X QUANG CỦA MỘT TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI ?
Một đường phế mạc tạng màu trắng được phân cách với phế mạc thành bởi một tụ khí không huyết quản là đặc điểm X quang cổ điển của tràn khí màng phổi. Phổi và vascular markings vắng mặt giữa thành ngực và đường phế mạc tạng.

7/NHỮNG CƠ CHẾ CỦA SỰ GIẢM TRAO ĐỔI KHÍ Ở MỘT BỆNH NHÂN VỚI TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI LỚN ?
Những phần bị xẹp và thông khí kém tiếp tục nhận tưới máu đáng kể, thường dẫn đến giảm oxy mô do một tỷ suất thông khí-thông máu (ventilation-perfusion ratio) thấp và shunting. Trong tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát, tăng thán huyết không thường gặp bởi vì chức năng phổi bình thường và sự thông khí phế bào thích đáng được duy trì ở phổi bên đối diện.

8/ NHỮNG PHUƠNG PHÁP XỬ TRÍ ĐỐI VỚI NHỮNG TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI ?
Với bất cứ tràn khí màng phổi nào, những mục tiêu là lấy đi khí từ xoang phế mạc và làm giảm khả năng tái phát. Phương pháp điều trị tốt nhất cần được tranh cãi và tùy thuộc vào bệnh cảnh, kích thước của tràn khí, và sự hiện diện của bullae. Những lựa chọn gồm có quan sát theo dõi (observation) (với điều trị oxy bổ sung) ; hút đơn thuần với một catheter ; đưa vào một ống dẫn lưu ngực (chest tube) ; gây dính màng phổi (pleurodesis) thủ thuật qua đó những tác nhân gây xơ cứng (sclerosing agent) hóa học hay cơ học được đưa vào trong xoang phế mạc dính những bề mặt của các phế mạc tạng và thành) ; nội soi ngực (thoracoscopy) (bao gồm video-assisted thoracosopic surgery) ; và mở ngực (thoracotomy). Trong những trường hợp tràn khí màng phổi đe dọa mạng sống, nên đưa ngay một kim cỡ lớn qua khoang gian sườn thứ hai ở đường giữa đòn (mid-clavicular line). Thủ thuật điều trị vĩnh viễn có thể được thực hiện sau.

9/ KHI NÀO CHỈ CẦN QUAN SÁT THEO DÕI TRONG XỬ TRÍ TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI ?
Quan sát theo dõi với liệu pháp oxy hỗ trợ chỉ thích đáng đối với những tràn khí màng phổi nguyên phát, nhỏ (dưới 15% nửa lồng ngực). Oxy cho bổ sung làm gia tăng 4 lần sự tái hấp thụ khí bởi phế mạc, xảy ra với tốc độ 2% mỗi ngày khi thở khí phòng.

Hospital Medicine. 2007
Đọc thêm : Cấp cứu hô hấp số 31

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(3/4/2015)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu hô hấp, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Cấp cứu hô hấp số 33 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Cấp cứu hô hấp số 41 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s