Thời sự y học số 368 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHUYÊN ĐỀ UNG THƯ

1/ HƯỚNG VỀ TÌNH TRẠNG CÀNG NGÀY CÀNG NHIỀU UNG THƯ ?
“Theo kết luận của công trình nghiên cứu này, phải chờ đợi 22 triệu trường hợp ung thư mới được liệt kê mỗi năm vào năm 2030, so với 14 triệu năm 2012”
Ung thư là một căn bệnh làm sợ hãi, thật là đúng như vậy. Ung thư được đặc trưng bởi một sự tăng sinh tế bào, gây nên những khối u ác tính lớn một cách bất thường trong các mô lành mạnh của cơ thể. Mặc dầu phòng ngừa và các điều trị chống ung thư không ngừng tiến triển, nhưng nhiều yếu tố nguy cơ, nhất là môi trường, vẫn chưa được xét đến đầy đủ. Và những chuyên gia đánh giá rằng số những trường hợp ung thư, ở Pháp và trên thế giới, sẽ không ngừng leo thang trong những thập niên đến.
TÌNH HÌNH UNG THƯ Ở PHÁP VÀ TRÊN THẾ GIỚI.
Ung thư là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong ở Pháp, đứng trước những bệnh tim mạch. Năm 2012, số những trường hợp ung thư mới xảy ra ở Pháp được ước tính là 350.000, trong đó 200.000 ở đàn ông và 155.000 ở phụ nữ. Ở đàn ông, hai ung thư thường gặp nhất là ung thư tiền liệt tuyến, ung thư phổi và ung thư đại trực tràng : ở phụ nữ, đó là ung thư vú, đại trực tràng và phổi. Số những trường hợp tử vong bởi ung thư năm 2012 được ước tính 148.000 tử vong (85.000 ở đàn ông và 63.000 ở phụ nữ), ung thư phổi là ung thư gây chết người nhất, trước ung thư đại trực tràng và ung thư tiền liệt tuyến. Ở phụ nữ, chính ung thư vú, trước ung thư phổi và ung thư đại trực tràng, gây nhiều trường hợp tử vong nhất. Ngoài ra báo cáo vừa rồi của Viện quốc gia ung thư (Inca), được công bố hôm 11/2/2014, cung cấp cho chúng ta những dữ kiện số khác về ung thư ở Pháp, nhất là về dịch tễ học, phòng ngừa, phát hiện, điều trị, những điều kiện sống và nghiên cứu. Qua báo cáo ta cũng biết rằng những chi phí bệnh viện và thuốc men để điều trị ung thư ở Pháp đã lên đến 7,25 tỷ euros năm 2011-2012. Phần chi phí liên quan đến nằm viện và những buổi điều trị ở cơ sở y tế chiếm khoảng 64% những chi phí toàn bộ, tiếp theo là những chi phí thuốc chống ung thư (30%). Gần 749.000 người (trong đó 52,1% đàn ông) được điều trị một cách đặc hiệu trong bệnh viện và trong thời gian ngắn đối với một ung thư năm 2012, con số này gia tăng hằng định từ năm 2019.
Một công trình nghiên cứu rất hoàn chỉnh tháng ba 2014 bởi The Guardian cho phép lập một bilan toàn bộ tương đối đầy đủ về 14 triệu trường hợp ung thư được thống kê trên thế giới. Infographie ấn định theo thứ bậc những ung thư gây chết người nhất trong 19 vùng trên thế giới, được phân chia trên 5 lục địa. Như thế một xếp loại được xác lập tùy theo tỷ lệ tử vong được tính đối với 100.000 dân. Đứng đầu của xếp hạng, vùng Đông Âu, là hạng có tỷ lệ tử vong cao nhất (123/100.000), trong khi hạng thứ 19 và hạng cuối là vùng Trung Á và Nam Á (từ Ấn Độ cho đến một phần lớn của nước Nga) với tỷ lệ tử vong thấp nhất (69/100.000). Qua đó ta cũng biết rằng ung thư phổi đứng đầu những ung thư gây chết người nhất ở châu Âu, ung thư thứ hai gây chết người nhất là ung thư ruột. Tiếp theo sau đó là những ung thư vú, tiền liệt tuyến và dạ dày. Ngoài ra đối với công trình nghiên cứu, ta chứng thực những chênh lệch lớn trong các loại ung thư tùy theo môi trường địa lý trực tiếp. Như thế, Trung Mỹ bị ung thư gan nhiều hơn so với phần còn lại của thế giới, trong khi ung thư cổ tử cung rất phổ biến ở châu Phi. Ta có thể thêm vào những con số này những con số cung cấp bởi Tổ chức y tế thế giới vào tháng 12 năm 2013 : theo OMS, sự gia tăng số những trường hợp tử vong vì ung thư trên thế giới giữa năm 2008 và 2012 là 8%, và 30% những trường hợp tử vong vì ung thư là do 5 yếu tố nguy cơ chính do hành vi và ăn uống : một chỉ dấu khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle) tăng cao (béo phì), một sự tiêu thụ thấp trái cây và rau xanh, thiếu hoạt động vật lý, chứng nghiện thuốc lá và sự tiêu thụ rượu. Nhưng ta có thể lấy làm tiếc rằng sự tiếp xúc với những chất gây ung thư của môi trường bị đánh giá thấp và không được xét đến trong những yếu tố nguy cơ. Tuy vậy, những liên hệ nhân quả đã được xác lập một cách rõ ràng giữa ung thư phổi và sự ô nhiễm không khí bởi những hạt nhỏ được phát ra bởi lưu thông xe cộ, chauffage và kỹ nghệ.
(Collection Science & Espace : Maladies du XXIè siècle)

2/ MỘT SỰ GIA TĂNG MẠNH NHỮNG TRƯỜNG HỢP UNG THƯ TRONG NHỮNG THẬP NIÊN ĐẾN ?
Tuy nhiên một điều là chắc chắn là : có một sự gia tăng rõ rệt số lượng vài loại ung thư trong xã hội hiện đại của chúng ta. Những ung thư phổi, u trung biểu mô (mésothéliome), những bệnh máu ác tính (hémopathies malignes), những u não và các ung thư vú, buồng trứng, tinh hoàn, tiền liệt tuyến và giáp trạng cũng đang gia tăng rất đáng kể từ những năm 1980. Điều này hẳn là một phần do sự lão hóa và sự gia tăng dân số. Nhưng không chỉ có thế. Một bản báo cáo, được công bố vào tháng hai 2014 bởi Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư (CIRC : Centre international de recherche sur le cancer), World Cancer Report 2014, được thực hiện với sự tham dự của 250 chuyên viên phát xuất từ 40 nước, cho thấy rằng căn bệnh lan tràn một cách không cưỡng được trên thế giới và điều này vì nhiều lý do. Như thế những quốc gia đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng nhất trong những thập niên đến, bởi vì không được trang bị tốt để có thể đương đầu với sự gia tăng lũy tiến của số những bệnh nhân bị những thể ung thư ít nhiều phức tạp. Trên 14 triệu bệnh nhân mới được chẩn đoán năm 2012, hơn 60% những trường hợp và 70% những trường hợp tử vong đã xảy ra ở châu Phi, châu Á và Mỹ Latin, và khuynh hướng này chỉ được xác nhận trong những năm đến. ” Xét vì sự gia tăng và sự lão hóa của dân số, cũng như sự phát triển những yếu tố nguy cơ như chứng nghiện thuốc lá, tình hình sẽ trầm trọng thêm trong những thập niên đến, đặt ra một thách thức quan trọng đối với những hệ y tế trong những nước có lợi tức thấp và trung bình “, giám đốc của CIRC, Christophe Wild, trong bài mở đầu của báo cáo đã báo động như vậy. Châu Âu chiếm 1/4 những trường hợp mới, Hoa Kỳ 1/5 và châu Phi và Trung Đông chỉ 8%. Theo những kết luận của công trình nghiên cứu này phải dự kiến rằng 22 triệu trường hợp mới được liệt kê mỗi năm vào năm 2030. Mặc dầu những tiến bộ quan trọng trong những điều trị được đề nghị, những trường hợp tử vong cũng cứ gia tăng, chuyển từ 8,2 triệu năm 2012 lên 13 triệu năm 2030. Không những là một thách thức y khoa thật sự mà còn cả tài chánh nữa. Bởi vì nếu năm 2010, phí tổn kinh tế hàng năm của ung thư được ước tính 858 tỷ euro (17 tỷ euro đối với Pháp), chiến dịch phòng ngừa quy mô lớn, sự nghiên cứu những điều trị mới và phí tổn điều trị hẳn càng làm gia tăng hóa đơn theo năm tháng.
(Collection Science & Espace : Maladies du XXIè siècle)

3/ UNG THƯ : KHÔNG CHỈ LÀ DO TÌNH CỜ.
Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, 2/3 những khối u ác tính phát sinh một cách tình cờ và không thể tránh được.
ONCOLOGIE. Bạn đi xuyên qua một con đường yên tĩnh và bị đụng phải một chiếc xe hơi điên rồ : sự không may mắn đă giáng vào bạn. Bạn làm việc trên xa lộ giữa thanh thiên bạch nhật, mặc một chiếc gilet màu vàng và được báo bởi nhiều bảng tín hiệu : nguy cơ hiện hữu, nhưng những biện pháp thận trọng được thực hiện. Bạn bước trên xa lộ này, say xỉn và đôi mắt bị bịt lại : bạn thử thời vận với quỷ dữ…
Với ung thư cũng vậy. Đôi khi nó xảy ra không giải thích được, đôi khi nó được làm dễ bởi di truyền hay vệ sinh đời sống. ” Với những yếu tố nguy cơ được biết ta có thể giải thích 35% những trường hợp ung thư, nhưng còn lại 65% những trường hợp ung thư không giải thích được “, theo Catherine Hill, chuyên gia dịch tễ học về ung thư thuộc Viện Gustave-Roussy (Ville-juif). Vì vậy bà ta vui mừng về “mắc xích thiếu” được phát hiện bởi hai nhà nghiên cứu của trung tâm ung thư học Johns Hopkins ở Baltimore.
” Vài loại mô gây nên một ung thư một triệu lần thường hơn những loại mô khác”, nhà di truyền học Bert Vogelstein và nhà sinh toán học (biomathéticien) Christian Tomasetti đã chứng thực như thế. Đặt tương quan số những tế bào gốc phân chia trong nhiều loại mô khác nhau, và tỷ lệ những ung thư xảy ra ở cùng những mô này, các nhà nghiên cứu đã tính toán rằng một cơ quan càng là nơi diễn ra nhiều phân chia tế bào, thì nguy cơ biến hóa thành ung thư càng lớn. Bert Vogelstein muốn lấy đại tràng làm bằng cớ : ở người, số lượng những tế bào gốc ở đó hai lần nhiều hơn và tăng sinh hai lần mạnh hơn so với ruột non, thế mà tỷ lệ mắc phải ung thư đại tràng quan trọng hơn nhiều. ” Anh có thể nói rằng đại tràng tiếp xúc với những yếu tố môi trường nhiều hơn ruột non, điều này làm gia tăng nguy cơ những biến dị “, Bert Vogelstein đã nói như thế, nhưng quá trình này lại ngược lại ở chuột : ruột non của chuột, vì chứa nhiều tế bào gốc hơn nên bị ung thư nhiều nhất.
Kết luận : 2/3 các loại ung thư là do những biến dị bất ngờ, 1/3 còn lại là do “một phối hợp của sự không may mắn, môi trường và di truyền “.
Kết quả này không làm ngạc nhiên bao nhiêu những nhà ung thư học. Những biến dị di truyền là trung tâm của cuộc sống : ADN của một sinh vật không ngừng được điều biến, vài biến dị mang lại những lợi ích, những biến dị còn lại thầm lặng, sau cùng những biến dị khác thúc đẩy vài tế bào tăng sinh. Ung thư là một sự tích lũy những biến đổi di truyền trước hết do tình cờ.
” Điều đó không loại bỏ chút nào yếu tố môi trường và di truyền, GS Dominique Stoppa-Lyonnet, trưởng khoa di truyền học thuộc viện Curie và giáo sư trường đại học Paris-Descartes đã xác nhận như vậy, bởi vì tỷ lệ những biến dị gia tăng nếu ta cho một người tiếp xúc với những chất gây biến dị (mutagène), hay nếu người này có những gène ngăn cản sự sửa chữa những biến dị của ADN.
Ngoài ra, ý niệm những tế bào gốc ” không luôn luôn được xác định rõ “, BS Christophe Le Tourneau, oncologue médical và là người phụ trách những thử nghiệm sớm ở Viện Curie đã nói như vậy. Ý niệm tế bào gốc được xác định trong huyết học, ít hơn đối với những loại mô khác.” Hạn chế khác, những ung thư vú và tiền liệt tuyến, trong số những ung thư thường gặp nhất, đã không được xét đến vì thiếu câu trả lời rõ ràng của y liệu về tỷ lệ phân chia tế bào của chúng.
Ta cũng lấy làm tiếc rằng công trình nghiên cứu gán cho sự tình cờ (hasard) điều thuộc về sự không may (malchance) và… những lỗ hổng trong kiến thức y khoa. ” Đã không nhận diện nguyên nhân không có nghĩa là nó không hiện hữu, BS Le Tourneau đã giải thích như vậy. Cách nay vài năm, ta không hiểu tại sao vài bệnh nhân, mặc dầu không hút thuốc không uống rượu, nhưng lại bị ung thư họng, rồi ta đã khám phá rằng papillomavirus cũng có thể gây nên loại ung thư này. Vậy nghiên cứu phải tiếp tục nhận diện những yếu tố nguy cơ và các gène nguyên nhân gây bệnh.
Cũng đừng quên ” 1/3 những ung thư mà ta có thể tránh “, Catherine Hill đã nhắc lại như vậy. ” Thuốc lá gây hơn 50.000 trường hợp ung thư mỗi năm ở Pháp ; rượu 20.000 ; chứng béo phì và sự tăng thể trọng, tình trạng không hoạt động vật lý và các tia tử ngoại mỗi thứ gây 6000 ung thư. Cũng cần tiêm chủng tốt hơn chống vài bệnh nhiễm trùng (HPV, viêm gan B…), giảm những điều trị chứng mãn kinh và những tiếp xúc nghề nghiệp.”
Vogelstein và Tomasetti nhấn mạnh một vũ khí khác : phát hiện sớm những ung thư, ” khi chúng còn có thể chữa lành nhờ phẫu thuật”. Tóm lại, hãy theo dõi và làm ngừng lại những chiếc xe điên trước khi chúng đụng vào bạn.
(LE FIGARO 4/1/2015)
Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 362 bài số 6,8 và 10

4/ CHẲNG BAO LÂU MỘT XÉT NGHIỆM MÁU ĐỂ PHÁT HIỆN UNG THƯ
Trong số những tiến bộ khoa học đáng kể năm 2014, chúng ta hãy ghi nhận những công trình được thực hiện bởi một kíp nghiên cứu người Pháp ở Inserm thuộc Viện nghiên cứu ung thư học Montpellier. Kíp nghiên cứu này đã hiệu chính một trắc nghiệm với mẫu nghiệm máu, cho phép nhận diện những biến dị di truyền trên những tế bào ung thư. Được mệnh danh Intplex, phương pháp chẩn đoán mới này dựa trên sự kiện rằng những tế bào của khối u phóng thích ADN với số lượng rất nhỏ trong tuần hoàn máu. Trong khi, cho mãi đến nay, các chuyên gia trắc nghiệm những biến dị bằng cách can thiệp trực tiếp lên các mô của khối u (một quá trình dài lâu và tốn kém), kỹ thuật chưa từng có này cho phép biết được kết quả chỉ trong vòng hai ngày, so với khoảng 20 ngày như trước đây. Phương pháp này đã được hợp thức hóa bởi một công trình nghiên cứu trên 106 người bị ung thư đại trực tràng di căn, một trong những ung thư thường gặp và gây chết người nhất ở Pháp và trên thế giới. Nhưng, theo Alain Thierry, người phụ trách công trình nghiên cứu này, kỹ thuật sẽ có giá trị đối với tất cả các ung thư. Tiến bộ quan trọng này trong sự phát hiện ung thư có thể có một ảnh hưởng chắc chắn trong những trường hợp ung thư được điều trị sớm và kíp nghiên cứu dự kiến phổ biến phương pháp mới của mình trên toàn lãnh thổ quốc gia. ” Sắp đến kíp của tôi và tôi sẽ tiến hành những thảo luận với Bộ Y tế. Có một lợi ích thực tiễn, không những giảm những phí tổn đối với hệ y tế mà còn về chất lượng nữa, bởi vì chẩn đoán càng nhanh thì điều trị càng có hiệu quả ” Alain Thierry đã giải thích như vậy.
(Collection Science & Espace : Maladies du XXIè siècle)

5/ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG : TA CÓ THỂ XÁC ĐỊNH ĐIỀU TRỊ TỐT BẰNG MỘT XÉT NGHIỆM MÁU ?

Alain Thierry
Chargé de recherche
Unité Inserm 896
(Montpellier)

Hôm nay, ung thư đại tràng đứng thứ ba về tần số xuất hiện và tỷ lệ tử vong đối với những người đàn ông và đàn bà trong các nước phương tây : một triệu trường hợp mới được thống kê mỗi năm trên thế giới và 600.000 người chết vì ung thư này. Tỷ lệ sống sót vào lúc 5 năm của những bệnh nhân bị một ung thư đại trực tràng là khoảng 65%, nhưng chỉ 10% ở những bệnh nhân bị di căn.
Hóa trị được áp dụng hiện nay đối với những giai đoạn sớm của ung thư đại tràng, như Folfiri hay Folfirinox, vẫn là những điều trị chuẩn. Nhưng từ nhiều năm nay, các thầy thuốc đề nghị những liệu pháp thay thế, ít độc hơn đối với cơ thể. Thí dụ đó là trường hợp những điều trị dựa trên những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal). Tuy nhiên phải đảm bảo rằng chúng hiệu quả bởi vì tất cả các bệnh nhân không đáp ứng cùng cách.
Để đề nghị một liệu pháp đáp ứng đối với mỗi bệnh nhân và không làm họ chịu một cách vô ích những điều trị không hiệu quả đối với họ, một phân tích các mô của khối u cho phép phát hiện những biến dị của các gène KRAS và BRAF đặc trưng của sự đáp ứng tốt đối với những điều trị bởi những kháng thể đơn dòng. Thật vậy trong khung cảnh của ung thư đại tràng, sự hiện diện của những biến dị này làm các kháng thể đơn dòng không hiệu quả. Các kháng thể này nhằm phong bế trên thượng nguồn sự phân chia vô tổ chức của những tế bào ung thư.
Chúng tôi vừa chứng minh rằng từ nay sự phát hiện những biến dị này có thể thực hiện bằng một xét nghiệm máu đơn thuần, và không còn từ mô của khối u nữa. Những công trình nghiên cứu này, được thực hiện ở đơn vị 896 của Inserm và được công bố trong tạp chí Nature Medicine tháng ba 2014 là một bước tiến trong điều trị cá thể hóa những ung thư.
Trắc nghiệm được sử dụng, được mệnh danh là Intplex, nhằm phân tích một cách đặc hiệu ADN, được phóng thích bởi những tế bào khối u và lưu thông trong máu. Thật vậy, những lượng nhỏ ADN, phát xuất trực tiếp từ khối u, hiện diện trong máu của những người bị ung thư.
MỨC ĐỘ NHANH CHÓNG.
Trên thực hành, 106 bệnh nhân bị ung thư đại trực tràng di căn và được phân bố trong nhiều trung tâm bệnh viện đại học (Montpellier/Limoges và Clermont-Ferrand) đã được theo dõi. Chúng tôi đã so sánh sự chính xác của chẩn đoán do phân tích mô ung thư mang lại với sự chính xác của phân tích máu. Những kết quả cho thấy rằng trắc nghiệm máu mới này có thể thay thế phân tích mô khối u trong việc tìm kiếm những biến dị này.
Một trong những ưu điểm không thể phủ nhận của trắc nghiệm máu là mức độ nhanh chóng của nó. Trung bình những kết quả của trắc nghiệm này có được trong 2 ngày sau khi lấy máu, trong khi đó trung bình phải chờ đợi 11 hay 24 ngày, tùy theo trung tâm mà những phân tích mô ung thư được thực hiện. Nó cũng ít xâm nhập hơn nhiều so với một sinh thiết. Phí tổn thấp, khả năng có thể lập lại hay khả năng phát hiện những biến dị nảy sinh (nguyên nhân của những đề kháng gặp phải) trong những điều trị nhắm đích cùng góp phần vào tiềm năng của trắc nghiệm mới này.
Phân tích ADN lưu thông trong máu cũng cho phép thực hiện những trắc nghiệm di truyền trên những khối u không thể mổ được và có thể thay thế sinh thiết có khả năng gây nguy cơ trong những trường hợp này.Vậy trắc nghiệm Intplex dựa trên một phương pháp đơn giản, nhanh chóng và ít tốn kém. Một kit, hiện ở giai đoạn thí điểm (phase pilote), sẽ chuyển qua giai đoạn công nghiệp (phase industrielle) trong năm 2015.Vì đó là một trắc nghiệm thích ứng với tất cả những biến dị, với tất cả các gène và tất cả các loại ung thư nên chúng tôi đã bắt đầu trắc nghiệm những biến dị khác để điều trị những loại ung thư khác. Vậy theo chiều hướng này, sự phân tích những biến dị của các tế bào khối u phát xuất từ ADN lưu thông trong máu, được phóng thích bởi những tế bào ung thư này là một giai đoạn mới hướng về sự cá thể hóa (personnalisation) của điều trị những bệnh nhân bị ung thư.
Sau cùng, ngoài khía cạnh chất lượng (sự hiện diện của những biến dị), trắc nghiệm đồng thời cho phép một phân tích về lượng ADN lưu thông trong máu. Gần như chắc chắn rằng trắc nghiệm này có thể được sử dụng ngay ở giai đoạn phát hiện ung thư.
(LE FIGARO 16/6/2014)

6/ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG : MỘT XÉT NGHIỆM ĐỂ PHÁT HIỆN SẼ ĐẾN VÀO THÁNG NĂM.
Sử dụng đơn giản hơn, đáng tin cậy hơn và hiệu năng hơn về mặt phát hiện, trắc nghiệm OC-Sensor sẽ dần dần được đề nghị cho khoảng 18 triệu người Pháp.
PREVENTION. Một xét nghiệm để phát hiện ung thư đại trực tràng chẳng bao lâu nữa sẽ có để sử dụng ở Pháp. ” Những kit de dépistage mới sẽ có để sử dụng vào tháng năm 2015 “, BS Eléonore Ronflé, giám đốc của những người được bảo hiểm y tế ở Cnamts đã tiết lộ như vậy. “Trắc nghiệm mới vừa đơn giản hơn, vừa đáng tin cậy và hiệu năng hơn về mặt phát hiện ung thư”, BS Frédéric de Bels, trưởng département dépistage thuộc viện ung thư quốc gia (Inca) đã giải thích như vậy. ” Sự thiết đặt trắc nghiệm mới này có tham vọng làm dễ sự tham gia vào chương trình quốc gia phát hiện ung thư đại trực tràng vẫn còn rất thiếu sót”, BS Ronflé đã giải thích như vậy.
Bởi vì những người Pháp thiếu thiện chí để tham gia vào công tác phát hiện này, được thiết đặt trên toàn quốc từ năm 2009. Trên 18 triệu người, được mời mỗi hai năm thực hiện một trắc nghiệm, chỉ 33,7% những phụ nữ và 29,6% những người đàn ông tham gia mà thôi. Chương trình nhằm vào những người từ 50-74 tuổi bởi vì 95% những ung thư đại trực tràng xuất hiện sau 50 tuổi và, trên 75 tuổi, ít có nguy cơ chết vì nó nếu ta đã tham gia một cách đều đặn chương trình phát hiện theo những khuyến nghị.
Tuy vậy ung thư đại trực tràng chịu trách nhiệm hơn 17.000 trường hợp tử vong mỗi năm. Với hơn 42.000 bệnh nhân mới mỗi năm, nó là ung thư thường gặp thứ ba ở Pháp sau ung thư tuyến tiền liệt (56.000) và ung thư vú (48.000). Ung thư đại trực tràng hơi thường gặp ở những người đàn ông (23.000) hơn là ở phụ nữ (19.000) và chỉ mình nó chiếm 12% những ung thư của tất cả những lứa tuổi cộng lại.
Tuy nhiên có những tin tốt lành. Tin vui đầu tiên, được nêu lên bởi Viện Ung thư (Những ung thư ở Pháp năm 2013) là ” sự sụt giảm tỷ lệ xuất hiện của ung thư đại trực tràng, từng được quan sát ở Hoa Kỳ trong những năm 1985, bây giờ được quan sát ở Pháp “. Một kết quả hẳn là được quy cho sự giảm vài yếu tố nguy cơ (chứng béo phì, tình trạng nhàn rổi không hoạt động, rượu, thịt đỏ, thuốc lá, tiêu thụ ít những sợi thực phẩm..) nhưng, Inca ghi nhận,” sự tiếp cận với chương trình điều tra phát hiện và sự cắt bỏ những thương tổn tiền ung thư giải thích một phần sự giảm này “.
Thật vậy, đặc điểm của ung thư đại trực tràng là, đối với 60 đến 80% trong số những ung thư này, phát triển từ những u nhỏ nói chung hiền tính : những polype. Vài polype có thể biến hóa thành ung thư. ” Khoảng 10% những adénome này đạt đến 1cm đường kính và trong số những adénome này, khoảng 1/4 sẽ trở thành những ung thư “, Inca đã nêu lên như vậy.
Tin vui thứ hai là ngoài những ung thư, một phần không phải nhỏ các polype xuất huyết và những vết máu kín đáo này có thể được phát hiện trong phần nhờ những trắc nghiệm, Hemoccult II cho đến nay, OC-Sensor chẳng bao lâu nữa.
Ưu điểm thứ nhất của trắc nghiệm miễn dịch học OC-Sensor mới, ” nó chỉ cần một mẫu nghiệm phân duy nhất trái với 6 mẫu nghiệm như trước đây, như thế rất hạn chế việc lấy phân, một cái hãm quan trọng cho sự thực hiện nó”, BS Ronflé đã giải thích như vậy. Hemoccult II buộc phải lấy hai mẫu nghiệm phân mỗi lần đi cầu và điều đó trên 3 lần đi cầu liên tiếp.
Ưu điểm thứ hai, một mức độ đáng tin cậy tốt hơn. Trong khi sự hiện diện máu động vật (đồ ăn uống) có thể gây nên những kết quả dương tính giả với Hemoccult II, ” nhờ sự sử dụng những kháng thể, những trắc nghiệm mới này chỉ sẽ phản ứng với sự hiện diện của máu người “, BS Ronflé đã nói thêm như vậy.
Ưu điểm thứ ba, một hiệu năng tốt hơn trong sự phát hiện so với Hemoccult II. Với một sự điều chỉnh chính xác hơn của các máy cho phép đọc những trắc nghiệm, ” điều này cho phép một sự phát hiện tốt hơn những ung thư (2 lần nhiều hơn) và những adénome ở giai đoạn tiến triển (2,5 lần nhiều hơn)”, BS Ronflé đã xác định như vậy.
” Sự đọc tự động những trắc nghiệm sẽ cho phép điều chỉnh ngưỡng dương tính tùy theo hiệu năng của những chương trình “, BS De Bels đã nhấn mạnh như vậy. Bằng cách chọn một nồng độ hémoglobine 4%, các chuyên gia muốn phát hiện một số lượng tối đa những thương tổn nhưng không vì vậy gây nên những dương tính giả. Thật vậy, bởi vì một trắc nghiệm dương tính giả sau đó khiến phải thực hiện một nội soi đại tràng vô ích.
Cũng như tất cả các trắc nghiệm, trắc nghiệm này không cho phép phát hiện 100% những polype hay ung thư, do đó cần lập lại nó mỗi hai năm. Sau cùng, chúng ta hãy lưu ý rằng những người được xem là có nguy cơ cao bị ung thư đại trực tràng, hoặc vì lý do có những tiền sử cá nhân hay gia đình, hoặc vì có bệnh di truyền, luôn luôn được một chương trình đặc thù cần bàn bạc với thầy thuốc gia đình.
(LE FIGARO 9/3/2015)

7/ TẠI SAO NGOẠI KHOA BẢO TỒN ĐÃ CÁCH MẠNG HÓA SỰ ĐIỀU TRỊ NHỮNG UNG THƯ THẬN ?

Professseur Morgan Roupret
Service d’urologie da la Pitié-Salpetrière
Institut de cancérologie de l’université Paris-6
Membre associé de l’Académie de chirurgie.

Ung thư thận là ung thư tiết niệu đứng thứ ba sau những ung thư tiền liệt tuyến và bàng quang. Sự khám phá một khối u thận (masse rénale) phải luôn luôn khiến gợi trước hết một ung thư thận. Những u hiền tính hiếm gặp hơn và là một chẩn đoán loại bỏ (diagnostic d’élimination) cần gợi ra sau đó. Ung thư thận chiếm 3% những ung thư của người lớn với một tỷ suất 3 người đàn ông đối với một phụ nữ. Tỷ lệ mắc bệnh gia tăng một cách hằng định từ nhiều năm nay nhất là ở người đàn ông trên 50 tuổi. Tuy nhiên những ung thư thận được chẩn đoán ngày càng sớm. Ung thư thận được đặc trưng bởi một tiến triển chậm. Đó là một ung thư hiếm khi được biểu hiện bởi những triệu chứng và thường nhất được khám phá một cách tình cờ. Vài yếu tố nguy cơ đã được nhận diện : chứng nghiện thuốc lá, cao huyết áp, chứng béo phì và thẩm tách (dialyse). Sự hiện diện của một khối u trên mỗi trong hai trái thận phải khiến gợi chẩn đoán một dạng di truyền, nhất là ở một bệnh nhân trẻ (dưới 50 tuổi). Trong trường hợp xác định này, một ý kiến ung thư di truyền (avis oncogénétique) phải được đề nghị để phát hiện những người thân trong gia đình ngay khi ta gợi lên một bệnh di truyền. Do định vị cơ thể học của nó, ung thư thận vẫn không gây triệu chứng trong một thời gian lâu. Vậy ung thư thận thường được chẩn đoán do tình cờ khi thực hiện một bilan chụp hình ảnh vì một lý do y khoa khác, như một siêu âm hay chụp cắt lớp vi tính bụng. Tuy nhiên ung thư thận có thể được biểu hiện bởi sự hiện diện của máu trong nước tiểu hay bởi sự xuất hiện của một cảm giác nặng hay đau ở hố thắt lưng (fosse lombaire). Đôi khi có những dấu hiệu toàn thân như sốt kéo dài không giải thích được.
BẢO TỒN CHỨC NĂNG THẬN.
Nếu không có di căn, điều trị quy chiếu của ung thư thận là phẫu thuật cắt bỏ (chirurgie d’excérèse). Sự cắt bỏ thận hoàn toàn (néphrectomie élargie) vẫn là không thể tránh được trong trường hợp khối u rất to lớn nhưng một ngoại khoa thận bảo tồn (chirurgie rénale conservatrice) càng ngày càng thường được đề nghị ưu tiên. Nguyên tắc của ngoại khoa thận bảo tồn là đơn giản : đó là lấy đi khối u và bảo tồn phần lành mạnh còn lại của cơ quan. Đơn giản trên bình diện lý thuyết bởi vì trên bình diện kỹ thuật, ngoại khoa này đã trải qua những bước đầu khó khăn..
Những chỉ định khởi đầu được hạn chế vào những khối u có đường kính dưới 4 cm rồi, dần dần, giới hạn này đã trở nên lỗi thời. Ngày nầy kích thước của khối u không còn là một chống chỉ định nữa đối với sự thực hiện một ngoại khoa thận bảo tồn đối với những ung thư thận.
Sự lên ngôi của ngoại khoa bảo tồn này đã cách mạng hóa sự điều trị ung thư thận trong những năm qua bởi vì nó cho phép điều trị phần lớn những khối u một cách an toàn và gìn giữ thận còn lại và do đó chức năng của cơ quan. Một công hai việc ! Nhưng điều đó không phải là không có những câu thúc kỹ thuật và cơ thể học và chỉ những kíp có kinh nghiệm nhất mới có thể đảm bảo một sự an toàn giải phẫu tối ưu. Nhiều công trình nghiên cứu đã so sánh những kết quả của cắt bỏ thận hoàn toàn với ngoại khoa thận bảo tồn đã báo cáo những kết quả y hệt trên bình diện ung thư. Ngược lại , những lợi ích của đường lối bảo tồn đã được chứng minh về mặt bảo tồn chức năng thận liên kết với một tỷ lệ sống sót toàn bộ lớn hơn. Vài protocole nghiên cứu mới đây đã được phát động ở Pháp để đánh giá lợi ích khả dĩ của một điều trị với những thuốc của hóa trị trước khi mổ để làm giảm kích thước của các u thận và làm cho chúng có thể tiếp cận một ngoại khoa bán phần (chirurgie partielle), mà giới hạn chính khi đó vẫn là tính khả thi. Ngày nay ta có thể thực hiện ngoại khoa bảo tồn của thận hoặc bằng ngoại khoa mở bụng (chirurgie ouverte) hoặc bằng ngoại khoa nội soi vi xâm nhập có robot hỗ trợ (chirurgie laparoscopique robot-assistée mini-invasive). Để mổ, thầy thuốc ngoại khoa sẽ ưu tiên kỹ thuật ngoại khoa được làm chủ tốt nhất.
MỘT CÁN CÂN GIỮA LỢI ÍCH VÀ NGUY CƠ.
Ngoài kích thước của khối u, ngoại khoa ngày nay xếp loại những khối u khác nhau của thận tùy theo tính chất phức tạp của chúng lúc xét đến : định vị (gần với những huyết quản), độ sâu (gần với đường tiểu) và tính chất en relief hay không. Lúc hoạch định chiến lược mổ, điều đó cho phép tiên đoán tỷ lệ những biến chứng hậu phẫu tùy theo tính chất phức tạp của khối u. Như thế một cán cân lợi ích-nguy cơ được thích ứng đối với trường hợp của mỗi bệnh nhân.
Như thế ngoại khoa thận bảo tồn là một can thiệp ngoại khoa đòi hỏi về mặt kỹ thuật, nhưng dần dần đã trở nên không thể tránh được trong điều trị u thận. Không nên đó dự gởi bệnh nhân đến một trung tâm chuyên môn về phẫu thuật thận để cố gìn giữ tốt nhất chức năng thận.
(LE FIGARO 15/9/2014)
Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 362 bài số 10

8/ UNG THƯ HỌC VÙNG CHẬU : HƯỚNG VỀ MỘT SỰ GIẢM THANG ĐIỀU TRỊ.

Professeur Olivier Graesslin
CHU de Reims
Institut Mère-Enfant Aix de Champagne

Chẩn đoán sớm hơn và chính xác hơn những ung thư phụ khoa nhờ những tiến bộ của chụp hình ảnh, kiến thức tốt hơn về sinh học (biologie) của các khối u này, cải thiện những kỹ thuật ngoại khoa : ngày nay bấy nhiêu những tiến bộ cho phép trong vài tình huống, tiến hành những can thiệp hạn chế hơn. Sự giảm thang điều trị này (désescalade thérapeutique), đang trong quá trình hợp thức hóa qua những thử nghiệm lâm sàng quốc tế, có mục tiêu làm giảm những biến chứng đường tiểu, tiêu hóa và sinh dục của ngoại khoa vùng chậu (chirurgie pelvienne).
Từ nhiều năm nay, những kíp chuyên môn trong điều trị những ung thư phụ khoa thực hiện những công trình nghiên cứu và tham gia vào những thử nghiệm quốc tế nhằm làm giảm tính chất hung bạo của những can thiệp ngoại khoa trong vài tình huống, nhất là trong khung cảnh của các ung thư cổ tử cung và nội mạc tử cung.
Mục đích là có được những kết quả trên bình diện tiên lượng cũng tốt như những kết quả có được bằng những động tác lớn hơn, nhưng với những biến chứng và những di chứng được thu giảm. Thật vậy, những protocole ngoại khoa hiện nay dựa trên những công trình nghiên cứu được thực hiện trong những năm 1980-1990. Những thử nghiệm quy mô lớn này đã được tiến hành với một phương pháp học hoàn hảo, nhưng những tiến bộ được thực hiện từ đó trong kiến thức về génie évolutif của những loại mô học khác nhau của những ung thư này cho phép đánh giá tốt hơn mức độ ác tính của chúng và những yếu tố tiên đoán về tiềm năng tiến triển của chúng. Ngoài ra những ung thư này được chẩn đoán sớm hơn và chụp hình ảnh xác định một cách chính xác hơn những hạn chế và những tương quan của chúng với những cơ quan lân cận. Ngoài ra, sư cải thiện những kỹ thuật nội soi và robot cho phép xét đến những phẫu thuật cắt bỏ ít rộng rãi hơn và nhắm đích hơn.
UNG THƯ CỔ TỬ CUNG.
Ung thư cổ tử cung gây bệnh cho khoảng từ 3000 đến 3500 phụ nữ mỗi năm ở Pháp và ung thư này chịu trách nhiệm khoảng 1.000 trường hợp tử vong.
Theo những dữ kiện của Viện ung thư quốc gia, tuổi trung bình vào lúc chẩn đoán là 54 tuổi. Hiện nay, nhờ những tiến bộ điều tra phát hiện (tuy vẫn còn chưa đủ, nhất là trong những loại nghề nghiệp xã hội bất lợi nhất), trong đa số các trường hợp ung thư cổ tử cung được khám phá ở một giai đoạn sớm, như vậy điều này cho phép xét đến những điều trị ít hung bạo hơn.
Điều trị quy chiếu của ung thư cổ tử cung hiện nay là cắt bỏ tử cung rộng (hystérectomie élargie), gồm lấy đi cổ, thân tử cung và những mô tế bào mỡ nằm quanh cổ tử cung và toàn bộ những hạch vùng chậu. Ngoại khoa này khiến bệnh nhân chịu nguy cơ bị những di chứng đường tiểu, với tiểu khó và nguy cơ rò (fistule), cũng như những rối loạn sinh dục. Cắt bỏ tử cung đơn thuần (hystérectomie simple) trong đó chỉ những hạch đầu tiên được lấy đi mà không cắt bỏ toàn bộ các chuỗi hạch, cho phép trong những giai đoạn sớm của ung thư cổ tử cung những kết quả tương tự trên bình diện ung thư, với ít những di chứng đường tiểu và sinh dục hơn và một sự giảm nguy cơ lymphoedème (lớn cẳng chân), biến chứng liên kết với sự cắt bỏ hạch rộng. Một công trình nghiên cứu quốc tế trong đó những trung tâm của Pháp tham dự đang được tiến hành để xác nhận những chỉ định của ngoại khoa giới hạn hơn và do đó ít hung bạo hơn này.
UNG THƯ NỘI MẠC TỬ CUNG.
Ung thư nội mạc tử cung là ung thư thường gặp nhất, tỷ lệ của nó là 6500 trường hợp mỗi năm, gia tăng do sự lão hóa của dân số. Thật vậy, ung thư này nói chung xuất hiện sau thời kỳ mãn kinh : tuổi trung bình vào lúc chẩn đoán là 68 tuổi. Những yếu tố nguy cơ chính là chứng béo phì, bệnh đái đường và một điều trị với tamoxilène. Gần 2000 phụ nữ chết mỗi năm vì ung thư nội mạc tử cung.
Trong khung cánh của ung thư nội mạc tử cung, sự phát hiện một yếu tố tiên lượng mới cũng cho phép một sự giảm nhẹ những điều trị. Đó là phát hiện sự hiện diện của những embole lympho-vasculaire (những tế bào ung thư trong những huyết quản và bạch mạch). Marqueur này, được phát hiện bởi một marquage đặc hiệu trên những sinh thiết được thực hiện trong khung cảnh của bilan chẩn đoán, cho phép hướng định và điều chỉnh phẫu thuật và nhất là mức độ lan rộng của nạo hạch vùng chậu và vùng thắt lưng-động mạch chủ bụng.
Khả năng thực hiện một procédure de ganglions sentinelles, can thiệp nhằm hạn chế sự cắt bỏ vào các hạch gần khối u nhất, hiện đang được hợp thức hóa trong những thử nghiệm quốc tế, thủ thuật này đặc biệt đáng lưu ý ở những bệnh nhân bị một ung thư nội mạc tử cung, thường lớn tuổi, có khuynh hướng béo phì và có những bệnh tật kèm theo.
(LE FIGARO 13/1/2015)
Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 362

9/ UNG THƯ VÚ : NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ PHẢI ĐƯỢC THEO DÕI.
Bộ Y Tế Pháp đã xác lập danh sách những yếu tố phải được theo dõi ngoài chương trình điều tra phát hiện hệ thống được tổ chức từ năm 50 tuổi.
DEPISTAGE. Tuổi là yếu tố nguy cơ chinh của ung thư vú. Thật vậy, phần lớn những ung thư vú được chẩn đoán sau thời kỳ mãn kinh và 3/4 những trường hợp sau 50 tuổi. Vì vậy chương trình điều tra phát hiện có tổ chức (dépistage organisé) nhằm vào những phụ nữ từ 50 đến 75 tuổi. Nhưng tuổi không phải là yếu tố nguy cơ duy nhất. Tuy vậy, ngoài nguy cơ cao do di truyền, cho đến nay đã không có ai tự hỏi vài yếu tố nguy cơ có biện mình cho một sự phát hiện đặc hiệu (dépistage spécifique) của ung thư vú hay không. Chính hôm nay đó là điều được thực hiện : Bộ y tế trình bày hôm 19/5/2014 những khuyến nghị để phát hiện những phụ nữ có nguy cơ cao.
Trong thì đầu, Bộ Y tế đã liệt kê rồi phân tích toàn bộ những yếu tố nguy cơ ung thư vú được tìm thấy trong văn liệu khoa học, hoặc tổng cộng 69 yếu tố. Từ sự tiêu thụ bưởi (pamplemousse) đến sự điều trị bằng hormone thay thế, qua tuổi thai nghén và những tiền sử gia đình và y khoa, các chuyên gia đã duyệt xét tất cả những yếu tố nguy cơ được biết hay nghi ngờ. ” Chúng tôi cũng muốn lấy đi những định kiến về những tình huống được gọi là nguy cơ, đôi khi được nói nhiều trong giới truyền thống, như thế có thể làm lo ngại một cách vô ích các phụ nữ “, GS Jean-Luc Haroussea chủ tịch của Haute Autorité de santé đã giải thích như vậy.
Thí dụ các chuyên gia ghi nhận rằng nguy cơ có thể quy cho ung thư vú liên kết với uống thuốc ngừa thai là thấp khoảng 1%. Cũng vậy, sự cho bú sửa (hơn 1 năm đối với tất cả các trẻ em) cũng như sự sinh đứa con đầu lòng trước 30 tuổi là những yếu tố bảo vệ ít ỏi. Ngoài ra, các chuyên gia nhắc lại rằng trong khi vài yếu tố nguy cơ như tuổi tác, những tiền sử gia đình hay y khoa là không thể thay đổi được, nhưng đối với những yếu tố nguy cơ khác, hãy theo những lời khuyên vệ sinh đời sống để phòng ngừa bệnh đái đường và những bệnh tim mạch cũng bảo vệ chống lại ung thư vú. Đó nhất là trường hợp hoạt động vật lý mà những lợi ích đã được chứng tỏ.
Sau giai đoạn đầu tiên này, các chuyên gia phải xác định những yếu tố nguy cơ nào cần một phát hiện đặc hiệu. ” Đó là nhận diện những phụ nữ ở họ sự điều tra phát hiện hữu ích hơn. Điều đó đáp ứng với một phong trào là cá thể hóa những điều trị và những chiến lược điều tra phát hiện “, GS François Eisenger, oncogénéticien (Marseille) đã phân tích như vậy. Vậy những yếu tố được hợp thức hóa được tách ra để chỉ giữ những yếu tố quan trọng của nguy cơ xuất hiện một ung thư vú hay liên kết với những đặc điểm tiên lượng xấu. ” Cuối cùng, trên 69 yếu tố nguy cơ, chúng tôi đã giữ 7 đáng được một điều tra phát hiện đặc hiệu”, GS Jean-Luc-Harousseau đã nói chi tiết như vậy.
Những tiền căn cá nhân ung thư vú, tiền căn điều trị bằng phóng xạ ngực (irradiation thoracique) trong trường hợp bệnh Hodgkin là những yếu tố nguy cơ, cũng như những tiền căn gia đình đối với loại ung thư này. Những yếu tố nguy cơ khác được giữ là những tăng sinh bất thường của những tế bào của vú, nhưng không có tính chất ung thư thật sự, như hyperplasie canalaire atypique, hyperplasie lobulaire atypique hay carcinome lobulaire in situ. Nhưng một cách hơi khá ngạc nhiên, những phụ nữ với một biến dị của các gène BRCA 1 hay 2, những yếu tố được biết có nguy cơ rất cao, lại không nằm trong những công trình của HAS. Chỉ những ung thư gia đình không có hai biến dị di truyền này được đề cập đến. ” Trong 85% những ung thư gia đình, chúng tôi không tìm thấy những biến dị của các gène BRCA “, BS Odile Cohen Hagenhauer, oncogénéticienne thuộc bệnh viện Saint-Louis (Paris) đã xác nhận như vậy.
Nhưng không phải vì vậy mà làm lo âu các phụ nữ, vì có nhiều phụ nữ có một bà mẹ hay một bà nội hay ngoại bị ung thư vú. ” Nếu chính bà nội đã bị một ung thư vú lúc 60 tuổi, không có những chỉ định đặc biệt “, BS Olivier Scemama, phó service évaluation économique et santé publique của Bộ y tế đã trấn an như vậy. Ngược lại sự xuất hiện nhiều ung thư vú trong cùng ngành gia đình, ở những phụ nữ trẻ, sự hiện diện đồng thời một ung thư buồng trứng và một ung thư vú là bấy nhiêu những yếu tố có thể hướng định về một thăm khám ung thư di truyền (consultation en oncogénétique). Tùy theo cây phả hệ và tuổi của người phụ nữ, chuyên gia ung thư di truyền (oncogénéticien) sẽ đánh giá nguy cơ cá nhân bị ung thư vú của phụ nữ này và đề nghị hay không một theo dõi đặc biệt.
(LE FIGARO 19/5/2014)

10/ SỰ TÁI PHÁT CỦA UNG THƯ : THỂ THAO LÀM GIẢM NHỮNG NGUY CƠ
BS Thierry Bouillet, thầy thuốc chuyên khoa ung thư của CHU đ’Avicenne, chủ tịch của Fédération nationale Cami Sport & Cancer, trình bày những lợi ích của hoạt động vật lý đối với vài loại ung thư.
Hỏi : Đối với những loại ung thư nào những công trình nghiên cứu được thực hiện để đánh giá những hiệu quả của một hoạt động vật lý ?
BS Thierry Bouillet. Nhiều công trình nghiên cứu đã được tiến hành về các ung thư vú, đại tràng và tuyến tiền liệt. Những kết quả, gần tương tự nhau, đã được công bố trong những tạp chí khoa học nghiêm túc như ” Journal of Clinical Oncology” hay ” British Journal of Cancer”. Tạp chí sau cùng này mà những kết qua đã được báo cáo trong “Critical Review in Oncology/Hematology”, là một tổng hợp tập hợp thư mục trong lãnh vực này.
Hỏi : Những kết quả của những công trình nghiên cứu này là gì ?
BS Thierry Bouillet. Ở những bệnh nhân đã chấm dứt điều trị đối với một ung thư không di căn, những lợi ích đã tỏ ra giống nhau : với một hoạt động vật lý đều đặn trong một thời kỳ kèo dài, ta ghi nhận một sự giảm 40 đến 50% những tái phát.
Hỏi : Để có lợi, tần số của hoạt động vật lý này là gì ?
BS Thierry Bouillet. Thể dục phải bao gồm một hoạt động cơ chống lại sức cản và những hoạt động có tác dụng tim mạch. Để có hiệu quả, cần phải thực hiện một giờ ba lần mỗi tuần và trong một thời gian ít nhất 6 đến 12 tháng. Sự luyện tập phải đủ mạnh. Bước nhanh đã là một phương pháp tốt. Thể thao (xe đạp, bơi lội, tennis…) rất là tốt. Điều quan trọng là phải cảm thấy một sự thích thú nào đó, lý tưởng là thực hành một hoạt động theo từng nhóm.
Hỏi : Bằng những cơ chế nào, một hoạt động thể lực mạnh tác động lên những tế bào ung thư ?
BS Thierry Bouillet. Hoạt động vật lý làm gia tăng sự tiêu thụ glucose bởi cơ và làm hạ nồng độ insuline trong máu. Hormone này là một nhiên liệu thật sự đối với những tế bào ung thư. Ngoài ra, từ một mức tiêu thụ năng lượng đủ, ta biến đổi không những sự tiết insuline, mà còn oestrogène và vài kích thích tố tạo nên những chất kích thích của những tế bào ác tính đã hiện diện trong cơ thể. Ngay cả khi chúng ta lành mạnh, tất cả chúng ta sản xuất những tế bào ung thư nhưng chúng bị tiêu diệt một cách hệ thống bởi hệ miễn dịch (trừ trong vài trường hợp chúng tăng sinh dưới tác dụng của một tăng hoạt động có hại). Lợi ích khác của hoạt động vật lý : nó làm giảm mệt và cải thiện chất lượng sống trong điều trị.
Hỏi : Ông giải thích điều đó như thế nào ?
BS Thierry Bouillet. Một ung thư gây nên một phản ứng viêm quan trọng. Những tế bào ung thư và viêm tiết những protéine được gọi là cytokine. Bằng đường máu, chúng tiến về các cơ và ngăn cản chúng tiêu thụ glucose, rồi dần dần góp phần tiêu hủy chúng (sarcopénie). Những cytokine cũng có một tác dụng có hại lên não bộ bằng cách gây mệt, những rối loạn giấc ngủ…Nếu đủ mạnh, hoạt động vật lý làm hạ nồng độ cytokine, hạn chế tác dụng của chúng lên các cơ và não. Thể dục cũng tạo điều kiện cho glucose đi vào các cơ và ngăn cản không cho chúng bị yếu đi.
Hỏi : Bổ sung cho điều trị chống ung thư, những tác dụng có lợi này có dẫn đến một điều trị đặc biệt ?
BS Thierry Bouillet. Tính hiệu quả được chính thức công nhận này đã cho phép thành lập Fédération nationale Cami Sport & Cancer. Mục đích của tổ chức này là đề nghị với các bệnh nhân những buổi hoạt động vật lý được thích ứng tùy theo từng trường hợp. Trong chương trình gồm có : marche nordique, bơi lội, karaté, gymnastique, múa, ping-pong… 65 trung tâm đã được thiết đặt khắp lãnh thổ. Tất cả được mở cho các bệnh nhân trong và sau khi họ được điều trị.
Hỏi : Sự tiêu hao vật lý đều đặn và tích cực này phải chăng cũng có một hiệu quả phòng ngừa ?
BS Thierry Bouillet. Những kết quả của các công trình nghiên cứu đã cho phép quan sát rằng, nếu hoạt động vật lý này được thực hiện một giờ 3 lần mỗi tuần trong nhiều năm, những nguy cơ xuất hiện của những ung thư chính, như ung thư vú, đại tràng và tiền liệt tuyến được giảm 25%.
Hỏi : Có phải một công trình nghiên cứu để phân tích trong một thời gian dài hạn tỷ lệ chữa lành đã được thực hiện ?
BS Thierry Bouillet. Công trình đã được công bố trong “Critical Review in Oncology/Hematology” và đã cho phép đánh giá tỷ lệ 25% này. Các công trình đã được thực hiện trên 8 nhóm gồm những phụ nữ từ 30 đến 75 tuổi (25.000 phụ nữ từ tất cả các quốc tịch) đã được điều trị đối với một ung thư vú không di căn. Những kết quả đã cho thấy một sự gia tăng từ 5 đến 10% tỷ lệ chữa lành ở những phụ nữ thực hiện một hoạt động vật lý đều đặn.
(PARIS MATCH 5/3-11/3/2015)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(31/3/2015)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to Thời sự y học số 368 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 502 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 524 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  3. Pingback: Thời sự y học số 531 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s