Thời sự y học số 366 – BS Nguyễn Văn Thịnh

la découverte de virus du sidaCHUYÊN ĐỀ VỀ SIDA

1/ NGƯỜI PHÁP ĐÃ KHÁM PHÁ VIRUS CỦA BỆNH SIDA NHƯ THẾ NÀO
Một nhóm những thầy thuốc trẻ hoàn toàn chưa ai biết đến đã quan tâm đến những trường hợp đầu tiên ở Pháp vào tháng sau năm 1981. Nhờ sự làm việc cật lực, họ đã góp phần vào sự nhận diện virus mới này.
Thêm vào sự êm ái của mùa xuân của tháng năm 1981 là tính chất vô tư đương thời. Ở Palace, đền miếu không ai tranh cãi của những đêm parisien, trên sàn nhảy hay ở quầy rượu, các cặp dị hay đồng tính luyến ái được hình thành hay rã ra theo nhịp điệu âm thanh của nhạc disco. Đó là hội hè trong bầu không khí tự do tình dục tuyệt đối, hoàn thành lời hứa của Tháng Năm 68 : ” Hãy vui hưởng không trở ngại ! ” (Jouissons sans entraves!)
Vào lúc đó, về phía bên kia đại dương, trong cái lạnh lẽo khắc nghiệt của Centre de contrôle des maladies (CDC) d’Atlanta, một thầy thuốc xem xét, như mọi tuần, những đường cong kê đơn của những thuốc hiếm. Cái nhìn của ông được hướng về một sự gia tăng sử dụng của lomidine. Chỉ 5%. Nhưng cũng khá để làm ông tò mò. Thuốc này được dành để điều trị pneumocystose, một nhiễm trùng phổi hiếm xuất hiện ở những bệnh nhân có hệ miễn dịch bị suy yếu vì một hóa trị liệu, một ghép cơ quan hay một lymphome. Một cách có phương pháp, ông tiếp xúc với từng khoa của các bệnh viện đã kê đơn loại thuốc này và khám phá rằng 5 trường hợp pneumocystose đã xuất hiện trong những tháng vừa qua ở Californie không tương ứng chút nào những sơ đồ thông thường.
Tháng sáu 1981, các thầy thuốc của CDC, một cách có ý thức, truyền cho các cơ quan theo dõi dịch bệnh trên toàn thế giới, trong tạp chí Morbidity and Mortality Weekly Report, trong số những thông tin khác, thông tin sau đây : ” Trong thời gian từ tháng mười 1980 đến tháng năm 1981, 5 thanh niên, tất cả đều đồng tính luyến ái, đã được điều trị vì một viêm phổi do pneumocystis trong ba bệnh viện khác nhau của Los Angeles. Hai trong số những bệnh nhân này bị chết..”. Năm trường hợp. Không có gì đáng quan ngại. Nếu không, đó chỉ là điều không như lệ thường : không có nguyên nhân rõ ràng cho tình trạng thiếu hụt miễn dịch của họ và tất cả đều là những người đàn ông, trẻ, đồng tính luyến ái, dân Californie. Tình trạng phóng túng của cuộc sống về đêm của tuổi trẻ phương tây vừa chấm dứt, trong một thời gian lâu. Chưa ai biết được điều đó.
Cách đó 7000 km, ngày 7 tháng sáu năm 1981, trong khoa những bệnh truyền nhiễm cũ kỹ của Claude Bernard (Paris), một thầy thuốc trẻ năng động, Willy Rozenbaum, một trong những người Pháp hiếm hoi nhận thông báo của CDC, vừa đọc những dòng chữ làm ông phân vân. Nhưng chính vài giờ sau đó mà thông tin thật sự bùng nổ trong trí của ông. ” Cùng ngày, tôi đã nhận một bệnh nhân, làm nghề tiếp viên, bị bệnh từ 4 tuần qua, BS Rozenbaum đã kể lại như vậy. Ông ta ho, gầy đi rất nhiều. Vừa mới có trong trí bài báo của MMWR (Morbidity and Mortality Weekly Report), tôi đã không thể không làm một sự so sánh. Nhất là bệnh nhân này đã đến khám với sự đỡ của một người bạn…”
MỘT TRỰC GIÁC.
Người đàn ông được nhập viện và những xét nghiệm phát hiện rằng sự trực cảm (intuition) đơn độc vào lúc đó của người thầy thuốc là có căn cứ : người bệnh, đồng tính luyến ái, bị bệnh pneumocystose, không rõ nguyên nhân. Ngày hôm đó, Willy Rozenbaum, cách gotha médical nghìn dặm, sinh ở Ba Lan năm 1945 có bố mẹ tị nạn ở Pháp sau chiến tranh, đã phát khởi, do tính tò mò sắc bén của mình, quá trình sẽ đưa những người Pháp nhận giải Nobel năm 2008 vì đã khám phá virus của bệnh sida. Ngay trước mũi nhưng người khổng lồ Mỹ, mặc dầu họ đã triển khai những phương tiện đáng kể hơn nhiều, kể cả những phương cách ít chính đáng nhất, để là những người đầu tiên khám phá virus này.
Tất cả những trận dịch nghiêm trọng đã được trừ tiệt trong những nước giàu, bệnh đậu mùa và bại liệt không còn hiện hữu nữa, bệnh lao rút lui, bệnh giang mai không còn làm sợ nữa…Con người phương Tây, do tính kiêu căng hay tự tin thái quá, tin chắc là đã chiến thắng những trận đại dịch đe dọa họ, bằng những kháng sinh và chủng ngừa. Vài tuần sau đó, không phải là năm, mà cả một trăm được liệt kê ở Hoa Kỳ, phần lớn là những người đàn ông đồng tính luyến ái có nhiều bạn đường phối ngẫu.
Không ai hiểu được nguyên nhân của tình trạng suy yếu miễn dịch này, khiến những cơ thể trẻ bị đủ loại những nhiễm trùng chết người : ma túy, ký sinh trùng, virus ? Bị ám ảnh, Rozenbaum đưa ra một lời kêu gọi đến vài người bạn chuyên về miễn dịch học. Một nhóm công tác được thành lập, bao gồm một cách tạp nham vài thầy thuốc trẻ vừa mới tốt nghiệp nhưng xuất sắc và có quyết tâm : Jacques Leibowitch, David Klatzmann, Jean-Baptiste Brunet, Franoise Brun-Vézinet, Christine Rouzioux… Bị ám ảnh bởi trận dịch đang còn không quan trọng mà các patron coi khinh. Người ta đếm được 452 bệnh nhân ở Hoa Kỳ, 29 ở Pháp. Những nhà luân lý đã gợi lên một ” sự trừng phạt của thần linh” (punition divine). Những hiệp hội đồng tính luyến ái dao động giữa sự phủ nhận (déni) và mối lo sợ về sự lên án (stigmatisation) này.” Tôi đã gọi Claude Lejeune, người sáng lập Hiệp hội của những thầy thuốc đồng tính luyến ái (Association des médecins gay), Rozenbaum đã làm chứng như vậy, ông ta đã trả lời với tôi : ” Hãy để chúng tôi được chết yên ổn !” Từ nay những trường hợp giáng vào vài bệnh nhân bị bệnh ưa chảy máu (hémophile), những người nghiện ma túy…Giả thuyết một virus được truyền bởi máu và những giao hợp thành hình.
ROBERT GALLO VÀ ” RETROVIRUS CỦA ÔNG “
Ở Hoa Kỳ, ngôi sao đắc thắng của virus học, Robert Gallo, vào năm 1979 đã khám phá HTLV1, rétrovirus đầu tiên có khả năng gây bệnh cho người bằng cách gây những bệnh bạch cầu (leucémie). Với bộ tham mưu nhiều trăm người của ông, ông xác nhận ầm ĩ rằng sida có lẽ là do “rétrovirus của ông”. Gallo lao vào một cuộc chạy đua hết mực để tìm kiếm nó trong máu của các bệnh nhân.
Ở Pháp, nhóm công tác trở nên một bande những người bạn thân rất bị quyến rũ bởi giả thuyết những rétrovirus. Rozenbaum gợi ý sẽ phát hiện nó không phải trong máu mà trong các hạch bạch huyết. Ở Pháp ta có thể tìm thấy ở đâu một chuyên gia virus học biết những rétrovirus này ? Bị kích thích bởi một niềm hy vọng điên rồ, người thầy thuốc trẻ, sau một buổi họp của Viện Pasteur cuối tháng 12 năm 1982, đã dám cất lên bằng một giọng nói rầu rĩ ” Có một chuyên gia về rétrovirus (rétrovirologue) ở trong phòng họp không ? ” Mặc dầu lời kêu gọi không được đáp ứng trong một sự im lặng khó chịu, nhưng dầu sao cũng được nghe thấy. Vài ngày sau, giáo sư Luc Montagnier, thuộc Viện Pasteur , đề nghị với Rozenbaum gặp một chuyên gia về sinh học (biologiste), vừa mới tốt nghiệp, Françoise Barré-Sinoussi, trở về sau một thời gian thực tập ở Hoa Kỳ về những rétrovirus.
Vào tháng giêng năm 1983, các hạch của BRU (ba mẫu tự đầu của tên của một bệnh nhân) được chuyển đến Viện Pasteur. Trong một bầu không khí bồn chồn, giáo sư Montagnier tách các tế bào, Françoise Barré-Sinoussi cấy chúng. Bà không thuộc vào giới quý tộc y khoa (aristocratie médicale). Xuất thân từ một môi trường khiêm tốn, lớn lên trong một khu phố bình dân của Paris, người phụ nữ trẻ, tuổi 33, có được sự thành công của mình là nhờ sự làm việc và tinh thần sáng suốt. ” Chúng tôi đã chuẩn bị tâm trí của chúng tôi cho cái bất ngờ (l’inattendu)”, bà đã kể lại như vậy. Để tìm ra một rétrovirus, các nhà sinh học phải phát hiện trong canh cấy sự hiện diện của một enzyme đặc biệt. Lúc đầu, chẳng có gì hết. ” Thế là chỉ mới hai tuần sau đó, chúng tôi đã bắt đầu phát hiện một hoạt động (…) vẫn còn khá yếu”, bà nói tiếp. Kíp nghiên cứu hồi hộp theo dõi những hiện tượng sinh học ẩn (phénomènes biologiques occultes) dường như rung lên trong các ống nghiệm. Nhưng, điều kỳ lạ, hoạt động của enzyme gia tăng, bằng cớ của một sự tăng sinh của virus, rồi sau một mức nào đó các tế bào chết và hoạt động biến mất. Phải mất vài ngày các nhà nghiên cứu mới hiểu được sự hiển nhiên : trong ống nghiệm của họ có một virus có thể truyền từ những tế bào này qua những tế bào khác. Thế thì ai khai tử những tế bào này.
Tuy nhiên để chứng minh sự hiện hữu của virus, còn cần phải quan sát nó. Charles Dauguet, thuộc kíp của Luc Montagnier, bắt đầu truy lùng nó với kính hiển vi điện tử của mình. Mặc dầu Draguet lục lọi, nhưng ông không thấy gì hết. Ông trải qua thời gian trong bóng tối, mắt dí vào kính hiển vi, chăm chú tìm chi tiết nhỏ nhất từ những bệnh phẩm tế bào. Ngày 4 tháng 2 năm 1983, lúc 17 giờ 45, Françoise Barré-Sinoussi và Jean-Claude Chermann nghe một tiếng động lớn. “Eureka, đó rồi, tôi thấy virus, tôi có nó”, ông ta bắt đầu hét lên. Cả équipe đều nhào tới và ở đó, mọi người, đến phiên mình, chiêm ngưỡng trên màn ảnh của kính hiển vi một sự đâm chồi (bourgeonnement) trên bề mặt của các tế bào và những hạt virus mà kích thước gần bằng kích thước của các rétrovirus. Kíp Pasteur vừa khám phá một rétrovirus mới, khác với HTLV của Robert Gallo. Ngày 20 tháng năm 1983, tạp chí Science công bố một bài báo hoàn chỉnh, mô tả chi tiết virus mới này, được mệnh danh bởi những người Pháp là LAV (sau đó được gọi là VIH). Cùng ngày, trong cùng tờ báo, Robert Gallo loan báo cũng đã phát hiện một HTLV, nguyên nhân của căn bệnh. Vài tháng sau, ta sẽ được biết rằng hai virus được nhận diện ở hai phía Đại Tây Dương giống nhau như hai giọt nước. Ai là người đầu tiên đã mang lại viên đá quan trọng này cho cuộc đấu tranh chống lại đại dịch Sida ?
TA SỢ BẮT TAY NHỮNG NGƯỜI KHÔNG QUEN BIẾT
Giờ phút này không phải là lúc của những tranh cãi vô ích. Một cuộc tàn sát chết người nhằm thẳng vào những người trẻ tuổi, những người đồng tính luyến ái Hoa Kỳ, Pháp, những người nghiện ma túy, những người được truyền máu và cũng những người ngoài những nhóm này. Vào cuối năm 1985, OMS thống kê được 20.303 trường hợp sida trên thế giới, trong đó 15.948 ở Hoa Kỳ. Một sự hoảng sợ, một sự nghi ngờ phi lý bao trùm toàn xã hội. Một sự lo âu gần như mê sảng (délire) ôm chặt mọi người chẳng loại trừ ai : sợ bắt tay những người không quen biết, sợ uống phải ly của một người khác trong một buổi tiếp tân, từ chối hôn lên má những người bạn thân của mình, bị nghi ngờ đã có một ngày nào đó những quan hệ ” không phù hợp” (relations non conformes). Những người trẻ hay ít trẻ hơn kiểm điểm lương tâm và bắt đầu sợ quá khứ của riêng mình.
Phải đợi cuộc điều tra của một phóng viên của tờ báo Chicago Tribune năm 1989 mới khám phá ra rằng Robert Gallo, vào năm 1983, đã không mô tả gì khác với virus của người Pháp mà những nhà nghiên cứu Pasteur, trong khung cảnh của những trao đổi khoa học xã giao, đã gởi cho ông ta vài tháng trước đó. Đứng trước một sự sỉ nhục như thế đối với những người Mỹ, những người Pháp đã lịch sự tránh gợi lên một sự gian lận. Ngày 6 tháng 10 năm 2008, trong một bầu không khí lắng dịu, Françoise Barré-Sinoussi và Luc Montagnier được trao giải thưởng Nobel y học. Những người khác đáng lý ra có thể được lựa chọn, vì khám phá này đã là kết quả của một sự sôi sục trí tuệ mà khoảng một chục người đã mang lại, giữa năm 1981 và 1983.
(LE FIGARO 20/8/2012)
Ghi chú :
Pneumocystose : Nhiễm trùng phổi gây nên bởi một loại nấm vi thể, Pneumocystis jirovecii. Pneumocystis jirovecii ngày nay được nhận diện như là một loại nấm đặc thù của người. Loại nấm này được gặp trong tất cả mọi vùng trên thế giới. Có thể căn bệnh bị mắc phải qua đường hô hấp. Pneumocystose là một nhiễm trùng chỉ xảy ra ở những bệnh nhân mà chức năng miễn dịch (sức đề kháng đối với các vi trùng) bị biến đổi, thí dụ những bệnh nhân bị sida hay bị bệnh bạch cầu (leucémie) hay đang theo một điều trị làm suy giảm miễn dịch (tritement immunosuppresseur).

2/ SIDA, TRẬN ĐẠI DỊCH DỪNG CHÂN TẠI CHỖ
Căn bệnh sida đang thụt lùi, 30 năm sau khi xuất hiện. Mặc dầu 35 triệu người trên thế giới sống với VIH, nhưng những nhiễm trùng mới đang sụt giảm.
Sau cùng những tin vui ! 30 năm sau sự nhận diện, bởi Françoise Barré-Sinoussi và những cộng sự viên của bà của Viện Pasteur, virus gây bệnh của điều mà khi đó ta gọi là “cancer gay”, một bộ phận của cộng đồng các chuyên gia về sida loan báo sự cáo chung sắp đến của đại dịch. Không phải đọc trong marc de café, mà chỉ bằng suy diễn những đường cong nhiễm trùng. Sự tính toán là đơn giản. Nếu, năm này qua năm khác, càng ngày càng ít người bị lây nhiễm, virus sẽ ở trong một goulet d’étranglement và nhiên hậu sẽ biến mất, trong một, thậm chí hai thế hệ, nếu không có những ký chủ mới để gây nhiễm. Tuy nhiên những nhà nghiên cứu khác ít lạc quan hơn. ” Nếu ta điều trị cả hành tinh trong hai thế hệ, bệnh sida sẽ thật sự bị dập tắt, Jacques Fellay, chuyên gia di truyền học của trường bách khoa liên bang Lausane (Thụy Sĩ) đã tóm tắt như vậy. Nhưng điều đó vẫn thuộc về lý thuyết và modélisation.” Thật vậy, bệnh sida không thể được tóm lại vào một phép tính đơn thuần. Bởi vì trận dịch này cũng có dac điểm là làm tan rã tổ chức xã hội (tissu social). Chừng nào mà vẫn còn có những nước trong đó căn bệnh bị phủ nhận và những nạn nhân của nó bị lên án, như trường hợp ở Nga và trung Quốc, thì virus sẽ vẫn còn nhiều ngày để sống, bởi vì những biện pháp phòng ngừa không được thực hiện. Trong lúc chờ đợi, những hy vọng đúng là xác thực, và những cố gắng đáng kể được thực hiện, từ lúc ý thức về trận dịch vào giữa những năm 1980, dầu đó là trong nghiên cứu cơ bản hay trong y tế cộng đồng, sau cùng mang lại kết quả. Họ chứng minh rằng VIH có những nhược điểm và không còn là kẻ thù vô địch của chỉ mới cách nay vài năm
TA CÓ THỂ LÀM NGỪNG SỰ LAN TRUYỀN CỦA VIRUS
Một người đang được điều trị không còn truyền virus của bệnh sida cho bạn đường phối ngẫu. Kết luận của công trình nghiên cứu châu Âu Partner đã là một trong những loan báo lớn nhất của CROI (Conférence sur les rétrovirus et les infections opportunistes) đã diễn ra ở Boston (Hoa Kỳ) vào tháng ba. Được tiến hành bởi Jens Lundgren (đại học Copenhague, Đan Mạch), trong hai năm công trình này đã được thực hiện, trên thế giới, trên một số lượng lớn của hơn 1000 cặp dị tính và đồng tính luyến ái, mà một trong những người phối ngẫu đang được điều trị bởi 3 loại thuốc phối hợp (trithérapie) với một “charge virale” (số lượng virus hiện diện trong máu) ở giới hạn của nồng độ không thể phát hiện (indétectable). Những kết luận của công trình nghiên cứu này làm thay đổi bộ mặt của căn bệnh, thường bị lên án mạnh mẽ, vì lẽ từ nay ta biết được rằng một người được điều trị đúng đắn không còn gây nhiễm nữa. Vậy túi dương vật (préservatif) không còn là câu trả lời duy nhất đứng trước sự nhiễm virus : điều trị bệnh trở nên một công cụ phòng ngừa hiệu quả.
TÍNH HIỆU QUẢ CỦA NHỮNG ĐIỀU TRỊ SỚM
Nerf de la guerre về cuộc đấu tranh chống lại bệnh sida vẫn là những “réservoirs du VIH” : thật vậy những tế bào của hệ miễn dịch (những tê bào lympho T và những đại thực bào) là những đích đầu tiên của virus ẩn mình trong đó, đôi khi trong nhiều năm, trước khi trổi dậy, sau đó phát khởi căn bệnh. Hiện nay, ” không có một chiến lược tiệt trừ tích cực nào có hiệu quả và cho phép làm giảm kích thước của những ổ chứa này “, giáo sư Brigitte Autran, chuyên gia virus học thuộc bệnh viện là Pitié-Salpêtrière (Paris) đã công nhận như vậy. Vậy cách chống đỡ (parade) là nhằm can thiệp trên thượng nguồn, càng sớm càng tốt, trước khi những bể chứa (réservoir) này được đổ đầy bởi những hạt virus (particule virale). Điều lý tưởng là có thể thực hiện điều đó vài giờ sau khi nhiễm trùng, như điều đó đã được chứng minh bởi điều trị được thực hiện ở bệnh viện nhi đồng Longbeach (Californie), ở một đứa bé bị nhiễm bởi VIH. Được bắt đầu vài giờ sau khi sinh và được tiếp tục từ đó, điều trị đã cho phép cơ thể của nhũ nhi tống khứ hoàn toàn virus 11 tháng sau đó. Đứa bé từ nay ngay cả có thể được xem như chữa lành. Một cách tổng quát hơn, nổi lên ý tưởng rằng điều trị rất nhanh, vài ngày sau khi bị nhiễm, và tiếp tục điều trị trong nhiều năm trước khi ngừng lại, sẽ cho phép có thể bảo tồn những khả năng miễn dịch của mình. Như thế ta hạn chế được kích thước của những “réservoir” và chế ngự được virus, như điều đó đã được chứng tỏ bởi công trình nghiên cứu Pháp Visconti, được thực hiện trên 14 bệnh nhân trở nên ” contrôleurs après traitement “.
Y TẾ CỘNG ĐỒNG Ở TUYẾN ĐẦU
Không có gì là bí mật cả : những nước trong đó sự lây nhiễm rút lui là những nước trong đó những chính sách tích cực chống lại VIH được tiến hành. Sự nhận biết căn bệnh, sự thiết đặt những biện pháp phát hiện, điều trị cũng như phòng ngừa, là một phần của những coup đầu tiên giáng vào virus. Tổ chức y tế thế giới và Onusida chủ trương điều đó từ năm 2007 bởi vì những biện pháp khuyến khích cắt bao quy đầu (circoncision) ở những người trưởng thành đã chứng tỏ tính hiệu quả của chúng. Tính hiệu quả này vừa được định số một cách chính xác nhờ một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi Bertran Auvert và những cộng sự của bệnh viện Ambroise-Parré (Paris). Bằng cách hủy bỏ bao quy đầu (prépuce) và như thế bằng cách làm giảm bề mặt da nhạy cảm với virus, biện pháp cho phép giảm 60% tỷ lệ những nhiễm trùng mới so với những người không được cắt bao quy đầu. Được thực hiện trên 110.000 người trưởng thành trong một bidonville của Nam Phi, công trình nghiên cứu này được bổ sung bởi một chương trình cắt bao quy đầu tình nguyện trên hơn 20.000 người. Không có sáng kiến này, tỷ lệ lưu hành của VIH sẽ 20% cao hơn trong quần thể được khảo sát. Với kết quả này, một chương trình cắt bỏ bao quy đầu rộng rãi đã bắt đầu trong 14 nước châu Phi.
NHỮNG TAM LIỆU PHÁP VỚI THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ KÉO DÀI.
Hiện nay, khoảng 40 loại thuốc chống rétrovirus hiện hữu. Phát xuất từ nhiều classe và có sẵn để sử dụng bằng nhiều phối hợp, chúng được hướng chống lại những phân tử đặc hiệu của virus. Trong những năm qua những cố gắng lớn được thực hiện với dạng galénique. Trong khi người bệnh phải uống hàng chục viên, được phân ra mỗi 4-6 giờ, vào lúc đầu trong điều trị trithérapie năm 1996, ngày nay chỉ một viên quy tụ nhiều loại thuốc cũng đủ. Tuy vậy điều trị vẫn nặng nề. ” Sự tuân thủ điều trị vẫn là vấn đề lớn, Philippe Benaroch, thuộc viện Curie (Paris), đã giải thích như vậy. Vì phải uống thuốc mỗi ngày, nhiên hậu bệnh nhân chỉ còn cảm nhận những tác dụng phụ và đã cố ngừng uống, điều này là một tai họa.” Thế thì ngày mai nếu chỉ cần một mũi tiêm cho phép bảo vệ cơ thể trong nhiều tuần? Đó là hy vọng đang thành hình với hai thử nghiệm Hoa Kỳ được tiến hành trên những macaque. Một mũi tiêm mỗi tháng của một thuốc chống rétrovirus với tác dụng kéo dài đã hoàn toàn bảo vệ những động vật khỏi bị nhiễm bởi virus. Một thử nghiệm lâm sàng theo dự kiến sẽ được bắt đầu từ nay đến cuối năm.
MỘT VACCIN DƯỜNG NHƯ KHÔNG CẦN THIẾT.
Mặc dầu sự nghiên cứu vaccin được theo đuổi, đồng thời trên bình diện chữa bệnh và phòng ngừa, nhưng chưa một vaccin nào xuất hiện ở chân trời. Trong 30 năm nghiên cứu, kết quả đáng kể nhất mà một thuốc chủng phòng ngừa (vaccin préventif) có được là vào năm 2009 với một tỷ lệ hiệu quả rất (quá) khiêm tốn. Còn về thuốc chủng điều trị (vaccin thérapeutique), dường như lại còn ngoài tầm tay, nhất là vì những ” réservoir à VIH”, không thể trừ tiệt được. ” Những công ty dược phẩm lớn đã xuôi tay đối với vaccin “, Jean-François Delfraissy, giám đốc của ANRS (Agence nationale de recherches sur le sida) đã lấy làm tiếc. Tuy nhiên một tin vui : cuộc đấu tranh chống lại bệnh sida dường như có thể không cần đến vaccin nhờ những tiến bộ của trithérapie và những sáng kiến y tế cộng đồng.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2014)
Ghi chú :
Préservatif : sự phòng ngừa sự lan truyền bằng đường sinh dục nhằm, khi giao hợp giữa những người có tình trạng huyết thanh (statut sérologique) không được biết, sử dụng préservatif nam. Túi dương vật là phương tiện bảo vệ duy nhất có hiệu quả chống lại sida và những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục. Préservatif nữ (loại tunnel nhỏ mềm mại và trong suốt đóng kín một đầu) cho phép bảo vệ 95% chống lại những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, trong đó có sida.
Trithérapie : Điều trị chống bệnh sida dựa trên những loại thuốc chống lại sự tăng sinh của virus. Hơn 30 loại thuốc hiện đang được sử dụng. Chúng được phân thành 3 nhóm chính tùy theo cách tác dụng và tính chất hóa học. Mục tiêu của điều trị là, một mặt, phong bế sự tăng sinh của virus (được đánh giá bằng charge virale, lượng ARN viral hiện diện trong máu), điều này dẫn đến một charge virale không thể phát hiện và mặt khác tái tạo phòng vệ miễn dịch (gia tăng số lượng tế bào lympho T4 sau điều trị). Một phối hợp ba loại thuốc chống rétrovirus (trithérapie) hiện nay thường được kê đơn. Trithérapie cho phép làm giảm 70% tỷ lệ những nhiễm trùng cơ hội và hơn 75% nguy cơ phát triển bệnh sida ở những người huyết thanh dương tính.

3/ SIDA : NHỮNG BÀI HỌC VÀ NHỮNG TIẾN BỘ NĂM 2014
Nhân Journée mondiale contre le sida, kiểm điểm những hy vọng và thất vọng gây nên bởi nghiên cứu.
VIROLOGIE. Hơn 30 năm sau khi được phát hiện, VIH vẫn đề kháng chống lại các chuyên gia y tế. Mặc dầu từ nay những thuốc chống rétrovirus (antirétroviraux) mang lại cho bệnh nhân cùng hy vọng sống (espérance de vie) như một người không bị nhiễm sida, nhưng với một cái giá đôi khi quan trọng. Chưa một vaccin nào hay điều trị nào cho phép chữa lành hoàn toàn. Trong lúc chờ đợi cái giờ phút đó, chiến lược hiện nay nhằm gia tăng những mặt trận tấn công để trừ khử dây chuyền truyền bệnh (chaine de transmission), như 3 tiến bộ đánh dấu năm 2014 đã chứng tỏ điều đó.
PHÒNG NGỪA : LỢI ÍCH ĐƯỢC XÁC NHẬN CỦA CÁC RETROVIRAUX.
Những phương tiện bảo vệ được ưu tiên để chống lại VIH là, và vẫn là préservatif. Nhưng sự sử dụng nó, rất bị hạn chế trong cuộc sống thực tế, không đủ trừ khử sự lây nhiễm, nhất là trong những nhóm đặc biệt bị ảnh hưởng như những người đồng tính luyến ái nam, những người hàng nghề mãi dâm hay những người nhap cư. Do đó lợi ích sử dụng những những thuốc chống rétrovirus để ” dự phòng trước khi tiếp xúc” (PrEP : prophylaxie préexposition), mà tính hiệu quả phòng ngừa mới đây đã được xác nhận bởi nhiều công trình nghiên cứu, nhất là thử nghiệm Pháp Ipergay de l’ANRS (xem thêm bài số 6).
Trong khung cảnh của công trình nghiên cứu này được thực hiện ở 400 người, một nửa nhận những những thuốc chống rétrovirus (Truvada, liên kết ténofovir và emtricitabine), với lời dặn dò uống hai viên trong những giờ trước một giao hợp có nguy cơ (rapport à risque), rồi 2 viên khác 24 giờ sau. Phần còn lại của những người tham dự nhận một placebo. Một năm sau khi phát động, công trình nghiên cứu đã bị rút ngắn vào cuối tháng mười : được loan báo bởi những kết quả tuyệt vời của một thử nghiệm Anh, các nhà nghiên cứu đã phân tích trước dự kiến những kết quả của họ. Sự cải thiện được quan sát ở những người nhận Truvada tốt đẹp đến độ (khoảng 80%) ANRS đã quyết định cấp ngay Truvada cho toàn thể những người tham dự.
Hai hiệp hội các bệnh nhân đã đệ đơn khuyến nghị xin tạm thời được sử dụng đến Cơ quan quản lý dược phẩm, để đẩy nhanh sự tiếp cận của các bệnh nhân đối với Truvada để ” dự phòng trước khi tiếp xúc ” (prophylaxie préexposition : PrEP). Hoa Kỳ hiện là nước duy nhất trên thế giới cho phép dùng Truvada en PrEP, nhưng dưới dạng dùng thuốc mỗi ngày, chứ không theo yêu cầu.
CHỮA LÀNH CHỨC NĂNG : HY VỌNG VÀ THẤT VỌNG
Được 4 tuổi, một em bé gái của Mississipi đã thể hiện những hy vọng lớn, được báo cáo rầm rộ bởi giới truyền thông, trước khi câu chuyện lắng xuống vào mùa hè này. Sinh ra huyết thanh dương tính (séropositif), bé gái đã nhận một điều trị chống rétrovirus ngay khi sinh ra đời. Mặc dầu bé gái đã ngừng dùng thuốc vào lúc 18 tháng, nhưng virus vẫn lâu dài không thể phát hiện được trong cơ thể. Nhưng than ôi, VIH đã tái xuất hiện ở em bé gái mùa hè này, vào lúc các thầy thuốc nêu lên một trường hợp chưa từng có “chữa lành chức năng” (guérison fonctionnelle) (ta không nói chữa lành hoàn toàn đối với VIH bởi vì virus vẫn luôn luôn hiện diện, dấu mình trong những réservoirs).
Ngược lại, ở Pháp, một sự chữa lành chức năng (charge virale không thể phát hiện mà không cần điều trị) được quan sát ở 20 bệnh nhân trưởng thành và thiếu niên trong cohorte Visconti. Những người này có điểm chung là đã bắt đầu điều trị chống rétrovirus sớm (3 tuần đến 3 tháng sau khi nhiễm virus) và đã tiếp tục điều trị trong ít nhất 2 năm trước khi ngừng thuốc). Một trong những bệnh nhân này đang thuyên giảm (en rémission) từ 14 năm nay. ” Những bệnh nhân này có một profil đặc biệt mà chúng tôi cố làm rõ. Đó có phải là một fond génétique chung ? Những đáp ứng tế bào đặc biệt mà chúng tôi sẽ tái tạo để mang lại cho những bệnh nhân còn lại ? “, GS Christine Rouzioux, người điều khiển công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy ; 15% những bệnh nhân thuộc loại “những bệnh nhân Visconti ” này.
NHỮNG AUTOTEST
Được đòi hỏi từ lâu bởi các hiệp hội, được cho phép bởi giới hữu trách năm qua, những autotest theo dự kiến sẽ đến trong các hiệu thuốc trong năm 2014. Cuối cùng còn phải chờ đợi tam cá nguyệt đầu tiên của năm 2015 để modèle đầu tiên, được chế tạo bởi công ty Pháp AAZ, được thương mãi hóa.
Có để sử dụng không cần toa bác sĩ, autotest cho kết quả trong 15 phút. Modèle AAZ, phí tổn khoảng 20 euro, hoạt động trên cơ sở một giọt máu được trích ở đầu ngón tay. Mức độ đáng tin cậy là 99%, theo hiệp hội Aides đã tham gia vào sự đánh giá nó. Cũng có những modèle salivaire (nước dãi), nhưng ở Pháp không có một nhà chế tạo nào đã thực hiện phương pháp này.
” Các autotest không nhằm thay thế sự phát hiện cổ điển, Daniela Rojas Castro, người điều hành nghiên cứu của Aides đã nhắc lại như vậy. Nhưng chúng tôi thấy dường như quan trọng là phải đa dạng hóa những cách phát hiện để đạt được số lượng lớn nhất. 30.000 người Pháp không hay biết là mình bị huyết thanh dương tính và chúng tôi nghĩ rằng những trắc nghiệm này có thể liên quan đến vài trong số những người không bao giờ đi đến một trung tâm y khoa để được điều tra phát hiện.
(LE FIGARO 1/12/2014)
Ghi chú
Antirétroviraux : đó là nhung inhibiteurs de la transcriptase inverse, inhibiteur de la protéase virale, inhibiteurs de fusion, inhibiteurs d’entére, inhibiteurs d’intégrase. Vì lẽ virus VIH trở nên đề kháng nhanh chóng trong trường hợp điều trị với một loại thuốc duy nhất (monothérapie), nên những loại thuốc này luôn được sử dụng phối hợp. Tùy theo tình hình lâm sàng , tùy theo charge virale và nồng độ của những tế bào lympho CD4, điều trị nói chung gồm hai inhibiteurs nucléosidique de transcriptase inverse, liên kết với một inhibiteur de la protéase virale hay một inhibiteur non nucléosidique de la transcriptase inverse. Đó là Trithérapie còn được gọi là HAART (Highly active AntiRetroviral Treatment).

4/ DỊCH SIDA ĐƯỢC KIỂM SOÁT Ở PHÁP.
Theo dự kiến các autotest để phát hiện nhanh sẽ được thương mãi hóa trong vài tháng nữa. Cần thiết để chống lại còn tích cực hơn những chẩn đoán quá muộn.
Có thể làm tốt hơn. Đó có thể là bilan của cuộc đấu tranh chống bệnh sida ở Pháp. Sự tiếp cận điều trị là đúng đắn, hy vọng sống của những bệnh nhân hôm nay giống với hy vọng sống của những người không bị bệnh. Vậy dịch bệnh sida được xem là dưới sự kiểm soát với 120.000 bệnh nhân được liệt kê. Tuy vậy vài hạt cát kềm hãm mécanique tốt đẹp này. ” Dịch bệnh vẫn luôn luôn rất tích cực ở những người đồng tính luyến ái nam, Bruno Spire (Inserm), chủ tịch Aides đã lấy làm tiếc như vậy. Những người này có nguy cơ bị lây nhiễm 200 lần cao hơn so với những người dị tính luyến ái.” Một kết quả nản lòng cho thấy rằng préservatif không đủ để dập tắc dịch bệnh. Những chẩn đoán cũng quá muộn. Gần 48% những người huyết thanh dương tính chỉ được phát hiện khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên ! 36.000 người Pháp mang virus mà không hay biết. Thế mà ta biết tầm quan trọng của việc nhổ cỏ tận gốc của VIH càng sớm càng tốt, trước khi xuất hiện những ” cellules réservoirs”. Nước Pháp là nước đứng thứ hai, sau Hoa Kỳ, về mặt khám phá khoa học (production scientifique) về bệnh sida. ” Không kể rằng những hiệp hội và những société privée tham gia tích cực vào những chương trình nghiên cứu, Bruno Spire đã xác nhận như vậy. Sức ép này của xã hội công dân, yếu tố kích thích của Nhà nước, đã là rất quan trọng trong lịch sử dịch bệnh để thay đổi những mentalité và đẩy nhanh sự xử trí điều trị. Ngày nay, tất cả những chương trình phát hiện đại chúng được tổ chức bởi các hiệp hội.” Tuy vậy, điều đó không đủ. ” Cái kềm hãm chính đối với công tác phát hiện là rằng bệnh sida vẫn là một bệnh xã hội mà người ta có một cái nhìn rất xấu nghĩa”, nhà nghiên cứu nói tiếp. Ông phàn nàn rằng sự “xua đuổi” những người ngoại quốc trong tình trạng không hợp lệ càng kịch liệt khi đó là những người bệnh, và điều này dầu đó là chính phủ nào. Tuy nhiên nhiều cải tiến có thể thay đổi tình hình. Bắt đầu là sự đi đến trong năm nay ở Pháp những autotest. Đã được thương mãi hóa ở Hoa Kỳ và ở Anh, những trắc nghiệm tự thực hiện này cho phép mọi người kiểm tra, trong vòng 20 phút, là mình có bị lây nhiễm hay không, mà không phải đi đến những trung tâm phát hiện, nói chung nằm ở những thành phố lớn. Tuy nhiên vẫn bắt đầu thiếu những kinh phí. ” Sidaction càng ngày càng cho ít tiền những chương trình nghiên cứu của chúng tôi “, Philippe Benaroch (Viện Curie, Paris) đã phàn nàn như vậy. Thật vậy những tiền hiến cho hiệp hội này, tổ chức quan trọng nhất ở Pháp, đã giảm gần 25% năm 2013 so với năm 2010. Thật vậy do tình hình của những người bệnh được cải thiện tốt nên căn bệnh đã trở nên ít được quan tâm hơn.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2014)

5/ SIDA : MỘT ĐIỀU TRỊ SỚM CHO NHỮNG NGƯỜI BỊ NHIỄM VIRUS VIH

Một điều trị sớm và tích cực đối với những người bị nhiễm bởi VIH cho phép trong vài trường hợp một sự thuyên giảm cơ năng (rémission fonctionnelle), nghĩa là một sự kiểm soát kéo dài mà không cần phải dùng thuốc.

Những kết quả đáng phấn khởi không ngừng tích lũy trong những tháng vừa qua. Hai trường hợp mới những người đàn ông huyết thanh dương tính đã được chẩn đoán mà không có dấu vết của virus VIH sau một ghép tủy xương, những trường hợp mới có khả năng chữa lành thật sự này được trình bày vào mùa hè 2013 nhân một hội nghị giữa các chuyên gia ở Kuala Lumpur. Ở hội nghị này, các thầy thuốc Hoa Kỳ đã thảo luận về trường hợp của “em bé Mississipi ” : bị nhiễm virus của bệnh SIDA trong bụng mẹ, một em bé gái đã nhận một cocktail ba loại thuốc (trithérapie) ngay giờ thứ 30 của đời sống (sớm hơn nhiều điều thường được thực hiện), và điều trị kéo dài trong 18 tháng. 15 tháng sau khi chấm dứt trithérapie, em bé vẫn luôn luôn không có dấu vết nào của VIH có thể được phát hiện trong máu và đứa bé, hôm nay 4 tuổi, vẫn lành mạnh. Đối với Deborah Persaud, chuyên gia virus học thuộc trung tâm bệnh viện Johns-Hopkins và người phụ trách công trình nghiên cứu về ” em bé Mississipi”, điều trị sớm những trẻ sơ sinh có lẽ là phương tiện tốt nhất để tránh không cho virus VIH tọa vị trong những ổ chứa virus (réservoirs viraux). ” Những quan sát của chúng tôi gợi ý rằng sự thuyên giảm này không phải là một tình cờ, nhưng có lẽ là kết quả của một liệu pháp chống virus tích cực và rất sớm, đã ngăn cản VIH tọa vị trong những tế bào miễn dịch của đứa bé “, bà đã giải thích như vậy. Ngoài ra, tầm quan trọng của sự điều trị nhanh dường như được xác định bởi một trường hợp thứ hai. Đó là một nhũ nhi bị nhiễm VIH, nhưng lần này được điều trị sau khi sinh. Trường hợp mới này đã được trình bày nhân một hội nghị về những rétrovirus và những nhiễm trùng cơ hội (infection opportuniste) (CROI), đã diễn ra từ 3 đến 6 tháng ba năm 2014 ở Boston. Các thầy thuốc của đại học Californie đã loan báo rằng từ nay bé gái không còn mang một dấu vết nhiễm virus nào sau 11 tháng điều trị với những thuốc chống rétrovirus, hiện nay vẫn luôn luôn cho đứa bé. ” Điều tuyệt vời nhất với em bé này, đó là tính chất nhanh chóng mà virus đã biến mất, những trắc nghiệm ADN âm tính khi em bé được 6 ngày và vẫn âm tính từ đó. Vào giai đoạn này, chúng tôi chưa nói chữa lành, nhưng là thuyên giảm. Tuy nhiên cách duy nhất để biết là em bé đã được chữa lành hay không là ngừng điều trị chống rétrovirus.Vậy chìa khóa của điều trị những bệnh nhân bị nhiễm bởi virus của sida là một sự xử trí và médicalisation càng nhanh càng tốt. Xét vì sự sụt giảm quan trọng của những réservoirs (…), không loại trừ rằng một sự thuyên giảm chức năng (rémission fonctionnelle), nghĩa là một sự kiểm soát kéo dài nhiễm virus mà không cần điều trị, nhiên hậu có thể có được ở những bệnh nhân được điều trị sớm “, Jean-Franois Delfraissy, giám đốc của Agence nationale de recherches sur le SIDA et les hépatites virales (ARNS) đã xác nhận như vậy. Ngoài ra những kết luận xác nhận tính chất có căn cứ của những chỉ thị mới của OMS khuyến nghị từ nay bắt đầu điều trị chống rétrovirus ở một bệnh nhân sống với VIH khi số lượng các tế bào lympho CD4 bằng hoặc dưới 500 tế bào/mm3 máu, so với 350 tế bào/mm3 nhu trước đây.
(COLLECTION SCIENCE & ESPACE No 6)

6/ SỰ LÂY NHIỄM BỞI VIH TRÁNH ĐƯỢC NHỜ MỘT LOẠI THUỐC.
Được liên kết với những lời khuyên bảo vệ thông thường, sự sử dụng Truvada trước và sau một giao hợp làm giảm 86% nguy cơ lây nhiễm, theo thử nghiệm Ipergay.
VIH/SIDA. Sự trình bày, vào hôm thứ ba này, những kết quả của thử nghiệm Pháp Ipergay sẽ vẫn là một trong những thời điểm mạnh của hội nghị thường niên về những rétrovirus và những nhiễm trùng cơ hội, đang diễn ra vào lúc này ở Seattle (Hoa Kỳ). Bởi vì công trình nghiên cứu này, được chỉ đạo bởi Cơ quan quốc gia nghiên cứu về bệnh sida (ANRS) cùng với hiệp hội Aides, có thể làm thay đổi bộ mặt của dịch bệnh ở Pháp. Đặc biệt trong quần thể những người đồng tính luyến ái, bị liên hệ bởi 4 trường hợp lây nhiễm mới trên mười.
Thật vậy, Ipergay cho thấy rằng có thể làm giảm 86% nguy cơ bị lây nhiễm (giữa 40 và 99% trên bình diện thống kê) của một quần thể những người đồng tính luyến ái có nguy cơ cao, nhờ sử dụng Truvada, một phối hợp gồm hai loại thuốc chống rétrovirus, trước và sau một giao hợp có khả năng gây nhiễm. ” Chúng tôi đã theo dõi 400 người trong một thời gian trung bình 13 tháng, và 88% những người tham dự đã theo đuổi đến cùng”, GS Jean-Michel Molina (Groupe hospitalier Saint Joseph, Paris) đã giải thích như vậy.
ACCOMPAGNEMENT RENFORCE
Còn hay hơn thế nữa, chỉ hai bệnh nhân bị lây nhiễm trong khi họ trong nhóm dùng Truvada ” đã là như thế sau 16 tháng và sau 20 tháng, trong khi họ không còn điều trị với Truvada nữa “, GS Molina đã giải thích như vậy. 14 người đã bị lây nhiễm trong nhóm placebo. Hoặc một tỷ lệ rất cao, 6,6%.
” Đã có những dữ kiện về Truvada, GS Jean-François Delfraissy, giám đốc của ANRS đã bình luận như thế, nhưng ở đây, trong Ipergay, đó là một sự sử dụng từng lúc, điều này dường như làm dễ sự tuân thủ điều trị.” Đó là một điểm quan trọng, bởi vì, trong những thử nghiệm trước, tính hiệu quả của Truvada đúng là tương quan với sự dùng thuốc thật sự, được kiểm tra bởi xét nghiệm máu. ” Thử nghiệm này lập lại mối quan tâm đối với những chiến lược trước khi tiếp xúc với virus (PrEP : Pré-exposition) “, GS Molina lấy làm hoan hỉ. Nhất là sự dung nạp thuốc rất là tốt, không xuất hiện sự đề kháng với điều trị.
Tất cả những người tham gia được theo dõi với “sự phân phát những préservatif, sự phát hiện và điều trị hệ thống những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục, những giải thích về dieu trị sau khi bị tiếp xúc với virus”. Những biện pháp thận trọng cần thiết, nhưng đôi khi khó được tuân theo bởi những người đồng tính luyến ái có nguy cơ cao ” Trong Ipergay, đó là những người đồng tình luyến ái tiêu thụ những produits psychoactifs, có nhiều bạn đường phối ngẫu (trung bình 8 partenaire khác nhau trong hai tháng) và khó với préservatif “, Vincent Pelletier, tổng giám đốc của Aides đã giải thích như vậy. Một quần thể “trong đó 70% không sử dụng préservatif để giao hợp bằng đường hậu môn”, GS Molina đã ghi nhận như vậy.
Vấn đề là làm thế nào để loại thuốc này có thể tiếp cận đối với những quần thể có nguy cơ. Vào lúc này, ở Pháp, Truvada không thể được kê đơn để phòng ngừa. ” Đã hơn hai năm chúng tôi yêu cầu để Truvada được cho phép, ở Pháp, đối với những người có nguy cơ nhất, chủ tịch Aides Bruno Spire đã nhấn mạnh như vậy, chúng tôi hy vọng rằng thử nghiệm này sẽ thuyết phục giới hữu trách y tế.”
(LE FIGARO 25/2/2015)

7/ TIMOTHY BROWN, BẰNG CỚ TA CÓ THỂ CHỮA LÀNH BỆNH SIDA.

Theo những đánh giá, 0,3% dân số thế giới có những tế bào miễn dịch mà một sự biến dị di truyền đã làm chúng đề kháng với VIH.

Vào mùa hè năm 2012, hội nghị quốc tế thứ 19 về bệnh SIDA, được diễn ra ở Washington với khoảng 25.000 người tham dự từ 190 nước, đã xác nhận những tiến bộ khoa học mới nhất về điều trị căn bệnh và mang lại hy vọng chấm dứt đại dịch. Trong số những người tham dự có uy tín nhất là Bill Gates, người sáng lập Microsoft, mà cơ quan của ông đã chi 2,5 tỉ dollar cho những tổ chức khác nhau chống nhiễm virus của SIDA. ” Chúng ta có những phương tiện để đến gần sự cáo chung của SIDA. Tôi lạc quan : chúng ta sẽ hiệu chính những công cụ mới này và chúng ta sẽ chấm dứt bệnh SIDA bằng sự làm việc cùng nhau “, ông đã tuyên bố như vậy, nêu lên những công trình nghiên cứu mới rất hứa hẹn về một vaccin và những liệu pháp chống rétrovirus. Cùng hiện diện trong hội nghị này là một khách mời đặc biệt quan trọng : người Mỹ Timothy Brown, hiện nay là một trường hợp có một không hai đối với y học : thật vậy ông là người bệnh SIDA duy nhất đã lành bệnh (ông bị huyết thanh dương tính năm 1995) nhờ ghép những tế bào gốc, được thực hiện ở Đức năm 2007.” Bệnh nhân Berlin “, như ông đã được mệnh danh bởi những chuyên gia trong sách báo y khoa, cũng đã ngỏ lời ở Hội nghị chuyên đề lần thứ 17 về HIV và những bệnh nhiễm trùng mới phát khởi (17th International symposium HIV & emerging infectious diseases : Isheid) để nói về đoạn đường ngoại lệ (parcours exceptionnel) của mình. Hội nghị này quy tụ gần 1000 người tham dự, trong đó có 600 thầy thuốc chuyên về virus học. Cơ hội đối với vị thầy thuốc đã điều trị cho Timothy Brown là BS Gero Hutter, thầy thuốc chuyên khoa huyết học thuộc bệnh viện đại học la Charité de Berlin để giải thích ông ta đã thực hiện điều trị của mình như thế nào : vị chuyên gia đã chọn lọc trong số những người hiến tủy, người mang một biến dị di truyền đặc thù cho 1% những người đã trắng ; như thế tủy ghép đã được thực hiện với một người hiến có những tế bào biến dị đề kháng với VIH. Sự biến dị này liên quan đến “ổ khóa” (serrure) (thụ thể CCR5-d32) vốn cho phép virus gây nhiễm những tế bào lympho CD4, như thế gây miễn dịch những người mang biến dị chống lại VIH. Timothy Brown đã nhận liên tiếp hai ghép tủy xương và những kết quả đã tỏ ra ngoạn mục : không những bệnh bạch cầu (leucémie) (đã khởi phát năm 2002) bị đánh bại mà, sau 600 ngày, charge virale của VIH đã trở nên không thể phát hiện được, đánh dấu sự biến mất của virus. Từ đó, bệnh nhân không có một dấu hiệu sinh học của nhiễm virus nào. ” Đó là bằng cớ chứng tỏ rằng việc thành công loại bỏ virus khỏi cơ thể là điều có thể thực hiện “, Françoise Barré-Sinoussi, chủ tịch của International AIDS Society đã bình luận như vậy. Đối với người được giải thưởng Nobel y học năm 2008 này vì đã nhận diện VIH, chữa lành nhiễm virus có vẻ có thể thực hiện được với những tiến bộ khoa học được thực hiện và một cái đà mới trên thế giới nhằm huy động những tài năng và ressources. Tuy nhiên Timothy Brown đã muốn nhấn mạnh những tác dụng phụ khó chịu được của điều trị đã làm ông lành bệnh, nhất là những biến chứng thần kinh đã ảnh hưởng mạnh trí nhớ và ngôn ngữ của ông. Ngoài ra, nguy cơ tử vong là quan trọng đối với loại ghép tủy xương này : trung bình, 30% những bệnh nhân không sống sót. Do đó, trên thực hành, giải pháp này không thể là một giải pháp được sử dụng với quy mô lớn cho những bệnh nhân bị SIDA. Timothy Brown cũng xác nhận rằng những người hiện có những tế bào miễn dịch đề kháng tự nhiên với VIH chỉ chiếm 0,3% dân số theo những ước tính mới nhất. Vậy dầu sao cũng không có đủ những người hiến tương hợp để điều trị 34 triệu nhiễm trùng bởi virus trên thế giới.
(COLLECTION SCIENCE & ESPACE No 6)

8/ NGHIÊN CỨU MỘT VACCIN PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ SIDA.
Thế hệ mới những thuốc chống rétrovirus cho phép giảm mạnh nguy cơ gây nhiễm những người huyết thanh âm tính chịu những thực hành có nguy cơ (pratiques à risque).
Ngoài ra hy vọng được tăng cường bởi những kết quả mới đây của những thử nghiệm lâm sàng cho thấy rằng những thuốc chống rétrovirus cũng cho phép làm giảm mạnh nguy cơ gây nhiễm những người huyết thanh âm tính có những quan hệ sinh dục có nguy cơ (relations sexuelles risquées). Thử nghiệm lâm sàng mở rộng đầu tiên với một vaccin thí nghiệm chống virus của bệnh sida, được thực hiện ở Thái Lan trên hơn 16.000 người trưởng thành vào năm 2010, đã cung cấp những thông tin quan trọng về những đáp ứng của hệ miễn dịch. Theo những ước tính, 31,2% những người tham gia đã được tiêm chủng bởi sản phẩm được mệnh danh là RV144 này đã rõ rệt có ít nguy cơ bị nhiễm bởi VIH hơn nhóm được điều trị bởi một placebo. Khám phá mới dựa trên sự kiện là những kháng thể đặc hiệu đối với một vùng đặc biệt của lớp vỏ của VIH, được gọi là V1V2, được liên kết với những tỷ lệ nhiễm trùng thấp hơn những người được tiêm chủng. Một cách tổng quát hơn, trên thế giới chính hơn 40 vaccin hiện đang trong giai đoạn thí nghiệm ở người, phần lớn có một mục đích phòng ngừa. Vào tháng hai năm 2013, một cuộc thí nghiệm mới trên một vaccin mới, lần này có mục đích chữa lành, đã được phát động ở Marseille trên 48 người tình nguyện huyết thanh dương tính. Lợi ích đầu tiên được dự tính với vaccin này là có thể thay thế trithérapie (điều trị bằng thuốc gồm 3 antirétroviraux). Điều trị bằng 3 loại thuốc này mặc dầu cho phép điều trị những bệnh nhân bị VIH, nhưng với những tác dụng phụ nặng nề và với một sự tiếp cận hạn chế. ” Ta biết rõ rằng làm cho trithérapie có thể tiếp cận 33 triệu người trên thế giới bị nhiễm bởi VIH-1 là ảo tưởng. Vậy sự tiêm chủng là điều trị duy nhất thích ứng chống lại bệnh SIDA. Vaccin của chúng tôi sẽ tấn công trực tiếp vào màng chắn bảo vệ của những tế bào bị nhiễm “, Erwann Loret, giám đốc của phòng xét nghiệm sinh học của Hôpital de la Timone (Marseille) và người phụ trách vaccin được hiệu chính, đã tóm tắt như vậy. Sự công bố của những kết quả, được dự kiến vào tháng sáu năm 2015, sẽ cho phép đo lường tính hiệu quả của vaccin điều trị này. Thuốc chủng đã trải qua thành công những thử nghiệm đầu tiên in vitro và in vivo trên động vật, đặc biệt trên macaque. Ngoài những thử nghiệm lâm sàng này, những nhà khoa học đang làm việc cật lực để hiểu rõ hơn virus khủng khiếp này và chứng minh những cơ chế phòng vệ của nó. Chúng ta hãy nêu lên những công trình nghiên cứu mới đây của hai kíp y khoa của những đại học Strasbourg và Marseille-II, đã phát hiện những tính chất ức chế của protéine người HBPB (Human Phosphate Binding Protein) lên sự tăng sinh của VIH, một giai đoạn trong sự tăng sinh của virus. ” Những kết quả có được in vitro cho thấy rằng protéine này tác động theo một đường vẫn chưa được nhắm đến bởi những điều trị hiện nay “, các nhà khoa học đã lấy làm phấn khởi như vậy. Sự khám phá này càng quan trọng khi protéine này có hiệu quả lên những souche cổ điển của virus cũng như những souche đề kháng với thuốc chống rétrovirus AZT, loại thuốc đầu tiên được sử dụng chống VIH. Vậy mặc dầu hướng nghiên cứu này tỏ ra đầy hứa hẹn, nhưng sự sử dụng quy mô lớn của protéine này sẽ không thể được phổ biến trước nhiều năm, thời gian cần thiết để tiến hành tốt tất cả những thử nghiệm, trước hết trên những động vật, rồi trên những bệnh nhân tình nguyện. Hướng nghiên cứu khác đã gây sự chú ý của các chuyên gia : những nhà khoa học Đan mạch hiện đang tiến hành những thử nghiệm trên 15 bệnh nhân huyết thanh dương tính để trắc nghiệm một chiến lược phòng vệ mới. Chiến lược này nhằm tái kích hoạt virus VIH trong cơ thể người…để sau đó tiêu hủy một cách dứt điểm nhờ hệ miễn dịch, được kích thích bởi một vaccin đặc hiệu. Một cách cụ thể, kỹ thuật này nhằm phát hiện những ổ chứa virus, rồi mang virus yên ngủ (nhờ một loại thuốc) lên bề mặt của những tế bào để hủy diệt nó. Với bằng cớ rằng phương thức này có nhiều hứa hẹn, các nhà khoa học đã được giới hữu trách y tế của nước họ tài trợ 12 triệu couronne đan mạch (1,6 triệu euro) để tiếp tục xa hơn những thăm dò
(COLLECTION SCIENCE & ESPACE No 6)

9/ SIDA : LUÔN TÌM KIẾM MỘT VACCIN
Những trở ngại vẫn còn nhiều, mặc dầu 30 năm đấu tranh chống bệnh Sida.
VIH. Vào những ngày 4,5 và 6 tháng tư năm 2014, Sidaction cử hành lễ kỷ niệm 20 năm hiện hữu và hỗ trợ nghiên cứu chống sida. Một sự hỗ trợ vẫn cần thiết mặc dầu những tiến bộ tuyệt vời trong điều trị nhiễm virus. Bởi vì hôm nay, với gần 6400 người khám phá bị huyết thanh dương tính mỗi năm, số những trường hợp mới ở Pháp không giảm. Chính vì thế những nhà nghiên cứu pháp không bỏ ý tưởng hiệu chính một vaccin, phương tiện duy nhất có khả năng phòng ngừa nhiễm trùng.
Nhưng để có thể phát triển thành công vaccin, trước hết phải chọn lựa trong số những ứng viên vaccin. Điều đó có nghĩa rằng ta trắc nghiệm và khảo sát những vaccin này gây những đáp ứng của cơ thể như thế nào, để chỉ sau đó kiểm tra xem những đáp ứng này có hiệu quả hay không để tránh sự lan truyền của virus.
METHODE DE “PRIME-BOOST”
Cách nay vài tuần, Viện nghiên cứu vaccin (VRI : Institut de recherche vaccinale) đã đưa ra một lời kêu gọi để tuyển mộ 100 người tình nguyện cho một thử nghiệm vaccin mới, được ủng hộ và tài trợ bởi Cơ quan nghiên cứu quốc gia về bệnh sida (Agence nationale de recherche sur le sida). Lần đầu tiên, một thử nghiệm đánh giá đồng thời đáp ứng của hệ miễn dịch của 3 ứng viên vaccin, bằng cách phối hợp chúng để xác định một cách nhanh chóng phối hợp tốt nhất.
Phương pháp này, được gởi là “prime-boost”. Vaccin đầu tiên (prime) kích thích những phòng vệ miễn dịch, sau đó vaccin thứ hai (boost) can thiệp để duy trì và tăng cường những phòng vệ này.” Thử nghiệm vaccin này sẽ không dẫn tới một vaccin, nhưng nếu chúng ta không đi qua những giai đoạn này, chúng ta sẽ không bao giờ có vaccin. Thử nghiệm này sẽ cho phép nghiên cứu tiến triển nhanh hơn “, Jean Daniel Lelièvre, trưởng khoa nghiên cứu lâm sàng ở Viện nghiên cứu vaccin đã giải thích như vậy.
Trong 30 năm nghiên cứu, vaccin dường như còn là ảo tưởng. Kết quả đáng kể nhất thu được bởi một vaccin phòng ngừa là năm 2009 với một tính hiệu quả rất khiêm tốn (31%). Tuy nhiên thử nghiệm này mang lại hy vọng cho những nhà nghiên cứu, mặc dầu không một ai trong số họ dám tiên đoán khi nào một vaccin sẽ được khám phá. Bởi vì từ những năm tháng này, họ đã vấp phải nhiều chướng ngại mà họ cố lấy đi qua những thử nghiệm và …những thất bại.
” Cái khó khăn chính, không chỉ riêng cho bệnh sida, là chúng ta không biết những cơ chế miễn dịch sẽ mang lại một sự bảo vệ “, GS Odile Launay, người điều hành Centre d’investigation clinique en vaccinologie Cochin-Pasteur đã giải thích như vậy. Những thách thức khác đối với những nhà nghiên cứu : chính bản chất của virus và tính đa dạng cực kỳ của nó. ” Không chỉ có một, mà nhiều virus. Ngoài ra, virus gây nhiễm hệ miễn dịch trong khi để một vaccin có hiệu quả chúng ta cần hệ miễn dịch “, BS Marina Karmochkine, thầy thuốc chuyên khoa miễn dịch học thuộc bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, đã nhấn mạnh như vậy.
Nhưng, như vị thầy thuốc chuyên khoa nhắc lại, hôm nay một người huyết thanh dương tính được điều trị không truyền bệnh cho bạn đường phối ngẫu. Vậy có thể hạn chế sự lan truyền của virus, thậm chí làm nó ngừng lại, ngay cả không cần vaccin.
(LE FIGARO 4/4/2014)

10/ HƯỚNG VỀ NHỮNG PHUƠNG PHÁP NGỪA THAI ĐẶC THÙ MỚI.
Đấu tranh chống virus của sida, đó cũng là hiệu chính những phương tiện ngừa thai cải tiến ở phụ nữ có khả năng bảo vệ chống lại nhiễm trùng bởi VIH. Những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã loan báo vào tháng ba vừa qua là đã phát triển một vòng âm đạo bằng silicone cũng hiệu quả như thuốc ngừa thai và cũng bảo vệ chống lại vài nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục.
Để thực hiện điều này, vòng âm đạo chứa đồng thời một thuốc ngừa thai và một thuốc chống rétrovirus. Được đưa vào âm đạo, nó cho phép ngăn cản mọi thai nghén hay nhiễm bởi VIH hay virus de l’herpès trong 3 tháng. Một khi được phát tán, các thuốc vẫn hoạt động trong nhiều giờ, điều này có nghĩa rằng vòng có thể được rút đi tạm thời trước khi được đặt lại. ” Chúng tôi hy vọng cho các phụ nữ cái gì đó đơn giản để sử dụng. Trên nhiều khía cạnh, vòng âm đạo hiệu quả tương tự như préservatif. Bạn có thể có một hoạt động sinh dục khi vòng âm đạo được đặt tại chỗ hay lấy đi trong những thời gian ngắn. Vòng âm đạo ngăn ngừa những nhiễm trùng lây truyền bằng đường sinh dục và những thai nghén không được mong muốn, nhưng chính các phụ nữ kiểm soát nó ” Patrick Kiser thuộc Northwestern University ở Evanton (Illinois) đã giải thích như vậy. Kíp nghiên cứu Hoa Kỳ hiện chờ đợi giấy phép để bắt đầu những thử nghiệm trên người ở Hoa Kỳ và hy vọng có thể bắt đâu trong những nước khác từ nay đến 5 năm nữa.Theo kíp nghiên cứu, thiết bị phí tổn 10 dollar (khoảng 7 euro) và nhiên hậu có thể giảm còn 5 dollar (3,5 euros). Một công trình nghiên cứu khác, chỉ được công bố cách nay vài tuần, đã tiết lộ sự phát triển của một gel âm đạo, được đặt cho đến 3 giờ sau giao hợp, có khả năng ức chế sự nhiễm trùng bởi virus của SIDA. Chúng ta đã biết rằng một gel diệt trùng âm đạo được đặt trước một giao hợp có thể ức chế sự nhiễm virus, những gel mới này (chứa một chất đặc thù ngăn cản virus đi vào trong ADN của những tế bào miễn dịch) từ nay cho phép tự bảo vệ sau khi giao hợp. ” Chúng tôi đã nghĩ rằng một gel, mà các phụ nữ có thể đặt bởi sau một giao hợp, sẽ ít ảnh hưởng hơn thói quen của họ với bạn đường phối ngẫu, cho họ một sự kiểm soát tốt hơn sự sử dụng chúng ” các tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Thật vậy, VIH cần 6 giờ để đi vào trong ADN tế bào, điều này cho một thời hạn hợp lý để đặt gel diệt trùng sau một giao hợp nguy cơ.
(COLLECTION SCIENCE & ESPACE No 6)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(10/3/2015)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

4 Responses to Thời sự y học số 366 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 497 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 506 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  3. Pingback: Thời sự y học số 572 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  4. Pingback: Thời sự y học số 584 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s