Thời sự y học số 362 – BS Nguyễn Văn Thịnh

cancer du col de l'uterus1/ UNG THƯ TỬ CUNG : THƯỜNG GẶP NHƯNG ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN RẤT SỚM
7000 phụ nữ bị ung thư tử cung mỗi năm ở Pháp.

UNG THƯ TỬ CUNG

1. Ungthư nội mạc (cancer de l’endomètre) (95%)  Ung thư nội mạc tử cung phát sinh từ niêm mạc phủ tử cung
– gây xuất huyết : dấu hiệu báo động
– được chẩn đoán bằng sinh thiết
– được xác nhận bằng chụp cộng hưởng từ (IRM), sẽ định rõ kích thước của khối u, sự xâm nhập của tử cung và nhưng di căn hạch.
2. Sarcome tử cung (5%)
– phát xuất từ các lớp cơ của tử cung.
– loại ung thư này hiếm hơn nhiều
3. Ung thư cổ tử cung (cancer du col de l’utérus)
– được tạo thành trong những tế bào của phần dưới của tử cung
– có thể được phòng ngừa bằng tiêm chủng
Sinh thiết (biopsie) là yếu tố quyết định đầu tiên để điều trị ung thư nội mạc tử cung. Sinh thiết phải bao gồm những yếu tố chủ yếu, như loại mô học của ung thư cũng như cấp độ (grade) của nó.

GS Bruno Borghese
Trưởng khoa ung thư phụ khoa
Bệnh viện Cochin (Paris)

UNG THƯ CỒ TỬ CUNG

Trái với ung thư của thân tử cung, ung thư cổ tử cung có thể phòng ngừa nhờ tiêm chủng. Thật vậy trong đại đa số các trường hợp, ung thư cổ tử cung là do một nhiễm trùng bởi một virus bị lây truyền khi giao hợp không được bảo vệ. Đó là ung thư đứng thứ tư ở các phụ nữ trên thế giới, về tần số xuất hiện và tỷ lệ tử vong. Tình huống đặc biệt tế nhị ở các nước đang phát triển. Ở Pháp ung thư này càng ngày càng ít gặp nhờ sự chủng ngừa, đi từ vị trí thứ 8 lên vị trí thứ 12 của các ung thư phụ nữ giữa năm 2000 và 2012.
Ung thư cổ tử cùng xảy ra ở những phụ nữ trẻ, với một tỷ lệ tử vong cao khi không được chẩn đoán khá sớm và một nguy cơ quan trọng đối với khả năng sinh sản, nhất là khi cần phải cắt bỏ tử cung. Phức tạp hơn so với ung thư thân tử cung, sự điều trị của ung thư cổ tử cung cần đến những kỹ thuật ngoại khoa khác nhau. Cắt bỏ tử cung, hoàn toàn hay không và cắt bỏ các buồng trứng chỉ được thực hiện khi ung thư lan rộng nhiều hơn.

Sự xử trí sớm một ung thư của nội mạc tử cung cho phép chữa lành trong 95% các trường hợp.
CANCEROLOGIE. ” Ung thư tử cung là ung thư phụ khoa thường gặp nhất, sau ung thư vú “, GS Philippe Morice, trưởng khoa ngoại sản thuộc bệnh viện Gustave-Roussi (Villejuif), đã nhắc lại như vậy.” Ung thư này có một xác suất chữa lành, bởi vì trong đại đa số các trường hợp, nó được phát hiện rất sớm.”
Ung thư tử cung xảy ra ở khoảng 7000 phụ nữ mỗi năm và có một sự gia tăng nhẹ trong những năm qua, có lẽ liên quan với sự lão hóa của dân số. Thật vậy, ung thư tử cung, trái với ung thư cổ tử cung, xảy ra ở các phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh nhiều hơn : tuổi trung bình lúc chẩn đoán ở Pháp là 68 tuổi.
Trong 95% các trường hợp, đó là một ung thư của nội mạc (endomètre), thành trong của tử cung. 5% còn lại là những sarcome, xảy ra ở thành cơ ngoài của tử cung và thường ác tính hơn. Ung thư nội mạc tử cung được làm dễ bởi các oestrogène, những kích thích tố mà các phụ nữ được tiếp xúc suốt đời, điều này giải thích sự xuất hiện muộn của nó. Sự sản xuất oestrogène bị ngừng lại trong thời kỳ thai nghén, điều này làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Nguy cơ này gia tăng trong trường hợp bị béo phì, bởi vì mô mỡ sản xuất oestrogène, cũng như sau một ung thư được điều trị bởi citrate de tamoxifène có những tác dụng tương tự với oestrogène.
” Ung thư nội mạc tử cung có triệu chứng khá sớm “, GS Morice đã nhấn mạnh như vậy. ” Nó gây chảy máu một cách nhanh chóng, điều này hẳn báo động rất nhanh phụ nữ mãn kinh.” Mọi trường hợp chảy máu sau thời kỳ mãn kinh phải khiến đi khám bệnh nhanh để loại bỏ khả năng một ung thư của nội mạc tử cung. Thật vậy những điều trị bằng kích thích tố thay thế (traitement hormonal substitutif) có thể gây xuất huyết không đúng lúc, cũng như sự teo sinh lý của tử cung do tuổi tác, nhưng một sinh thiết đơn giản được thực hiện lúc khám bệnh sẽ cho phép phát hiện rất nhanh một ung thư. Một điều trị sớm cho phép chữa lành trong 95% các trường hợp.
” Sinh thiết là yếu tố quyết định đầu tiên để điều trị ung thư nội mạc tử cung”, GS Bruno Borghese, trưởng khoa ung thư phụ khoa (oncologie gynécologique) thuộc bệnh viện Cochin (Paris) đã chỉ rõ như vậy. ” Sinh thiết phải bao gồm những yếu tố chủ yếu như loại mô học của ung thư cũng như giai đoạn ung thư”. Những kết quả của sinh thiết có thể khiến thực hiện chụp cộng hưởng từ hạt nhân (IRM) để định rõ kích thước của khối u, sự xâm nhập vào cơ tử cung và những thương tổn hạch.” IRM không chỉ giới hạn vào vùng chậu, mà còn phải bao gồm các trái thận để đưa vào tất cả chuỗi hạch.”
Ung thư nội mạc tử cung bao gồm hai loại tế bào chính. Loại 1, adénocarcinome endométrioide, đồng thời thường gặp nhất (80% các trường hợp) và dễ chữa lành nhất, bởi vì nó được phát hiện sớm và phát triển chậm. Trong 20% các trường hợp, ung thư thuộc loại 2, adénocarcinome papillaire séreux. Ác tính hơn, ung thư này xảy đến ở những phụ nữ trẻ tuổi hơn và cần một điều trị cũng tích cực hơn, tương tự với điều trị của ung thư buồng trứng. Trong cả hai trường hợp, ngoại khoa là điều trị chuẩn, sẽ đủ đối với 40% những phụ nữ bị ung thư loại 1. Thật vậy sự cắt bỏ tử cung và các buồng trứng cho phép loại bỏ ung thư khi các khối u rất được biệt hóa và định vị. Can thiệp có thể (và phải) được thực hiện bằng kỹ thuật nội soi (coelioscopie) trong hơn 80% các trường hợp : kỹ thuật này cho cùng những kết quả như phương pháp cổ điển đồng thời làm giảm những biến chứng, thời gian phục hồi và hóa sẹo. Điều vướng bận duy nhất là kích thước của tử cung và sự định vị của khối u : mẫu nghiệm phẫu thuật (pièce opératoire) phải có thể đi qua liền đường tự nhiên để tránh mọi sự phân tán của những tế bào ung thư “, GS Borghese đã xác nhận như vậy. Phẫu thuật vi xâm nhập đôi khi được hỗ trợ bởi robot, với những kết quả tương tự với kỹ thuật nội soi được thực hiện bởi phẫu thuật viên đơn độc.
Đối với 1/3 những trường hợp ung thư loại 1, phải thêm vào một curiethérapie và đối với 30% còn lại, một phối hợp nhiều điều trị hậu phẫu là cần thiết : hóa trị, xạ trị, curiethérapie. Tùy theo loại và cấp độ của ung thư, thầy thuốc ngoại khoa có thể quyết định lấy đi vài hạch trong những vùng của xoang bụng, ở đó ung thư có thể lan tràn. ” Một phân tích vi thể hoàn chỉnh của tử cung và các hạch được lấy khi can thiệp là cần thiết để xác nhận những lựa chọn điều trị”, GS Morice đã nhắc lại như vậy. Sự lựa chọn những điều trị cũng phải xét đến tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân, đôi khi rất già hay bị những bệnh lý khác do tuổi tác.
Vì những tái phát hiếm xảy ra sau một thời kỳ theo dõi 6 tháng, nên sự theo dõi bằng khám lâm sàng sẽ rất sát trong năm đầu nhưng sẽ cách quảng sau đó.
(LE FIGARO 1/12/2014)

2/ UNG THƯ TỬ CUNG : NHẮM ĐÍCH TỐT HƠN NHỮNG BỆNH NHÂN VÀ TIỀN SỬ GIA ĐÌNH CỦA HỌ.
Sự điều trị các ung thư tử cung tiếp tục tiến triển, nhờ những hiểu biết thu nhận được bởi nội soi và nhờ sự khảo sát những đặc điểm vi thể của các khối u. Một loạt những thử nghiệm lâm sàng, những thử nghiệm Protec, được tiến hành trên quy mô quốc tế dưới sự điều khiển của một kíp Hòa Lan, đã cho phép làm tốt những điều trị sau khi mổ.
” Sự nhắm đích điều trị (ciblage thérapeutique) ngày nay cho phép sử dụng một cách có ý thức sự nạo hạch (curage ganglionnaire) bằng nội soi và áp dụng những điều trị bổ sung thích ứng với những bệnh nhân có những nguy cơ quan trọng nhất”, GS Philippe Morice, thuộc Viện Gustave-Roussy (Villejuif) đã nói rõ như vậy. Sự hiểu biết nhận được cũng đã cho phép tránh những điều trị vô ích đối với bệnh nhân bị những ung thư ít ác tính hơn và gia tăng tỷ lệ những phụ nữ mà phẫu thuật đơn độc là điều trị tốt nhất.
GIA TĂNG SỰ THEO DÕI.
Ngoài ra, vài loại ung thư nội mạc tử cung có những tương quan với những ung thư buồng trứng, đối với những ung thư này những điều trị chống sinh mạch máu (traitement anti-angiogénique) đã cho những kết quả tốt. Những thử nghiệm đang được tiến hành để đánh giá lợi ích của những điều trị này trong ung thư nội mạc tử cung.
Những étude génomique, được công bố vào năm 2013 trong Nature, cũng phải khiến thay đổi đáng kể sự xếp loại những ung thư tử cung : chúng đã cho phép nhận diện 4 loại ung thư khác với những loại được sử dụng hôm nay để phân biệt các bệnh nhân. ” Sự xếp loại tỏ ra phức tạp hơn là ta hằng tưởng và chúng ta quan sát hiện nay những định hướng mới này để làm tinh tế những điều trị của chúng ta”, GS Borghese thuộc bệnh viện Cochin (Paris) đã nhấn mạnh như vậy.
Mặt khác, ung thư nội mạc tử cung khiến cần phải thăm dò những liên hệ gia đình. Thật vậy loại ung thư này được liên kết với sự hiện diện quan trọng của oestrogène trong cơ thể, một tham số có thể được tìm thấy trong những ung thư khác như chủ yếu là ung thư vú, nhưng cũng ở những ung thư buồng trứng hay ung thư đại trực tràng. Những tiền sử của loại ung thư này, ở bệnh nhân hay trong gia đình khiến phải gia tăng sự theo dõi và, trong những trường hợp khác, một nghiên cứu ung thư-di truyền để nhận diện một hội chứng Lynch.
” Trong trường hợp nghi ngờ, hãy nói điều đó với thầy thuốc điều trị, sẽ hướng bệnh nhân đến những trung tâm chẩn đoán di truyền (centre de diagnostic génétique), có thể nhận diện những bệnh nhân cần được điều tra phát hiện”, GS Philippe Morice đã xác nhận như vậy.
(LE FIGARO 1/12/2014)

3/ SARCOME UTERIN : MỘT UNG THƯ HIẾM.
” Trong khoảng 5% những trường hợp, ung thư của tử cung phát triển trong cơ tử cung”, GS Philippe Morice, trưởng khoa ngoại sản ở Gustave-Roussy (Villejuif) đã chỉ rõ như vậy. “Loại ung thư hiếm này, xảy ra ở những phụ nữ trẻ hơn, thường ác tính hơn ung thư nội mạc tử cung và cần một sự xử trí khác.” Tiên lượng cũng ít tốt hơn so với ung thư nội mạc tử cung bởi vì sarcome utérin thường được phát hiện khá muộn.
Sarcome utérin chiếm 1% những ung thư ác tính phụ khoa và 3 đến 7% những khối u ác tính tử cung. Tỷ lệ xảy ra của nó là 3,3 đối với 100.000 dân. Loại ung thư này không gây những triệu chứng rõ rệt như xuất huyết : Chính sự hiện diện của một khối bất thường ở bụng (masse abdominale), thường đã có kích thước quan trọng, khiến bệnh nhân đi khám bệnh, nói chung bởi vì thầy thuốc nghi ngờ sự hiện diện của một u xơ tử cung (fibrome).
Cần ghi nhận rằng triệu chứng đau thường hiện diện trong khung cảnh tăng trưởng của một sarcome hơn trong bối cảnh của một u xơ tử cung. Ngoài ra, triệu chứng đau của sarcome tiến triển dần dần, trong khi triệu chứng đau của các u xơ tử cung bị biến chứng tiến triển thành từng cơn. Chụp X quang sẽ cho phép hướng định chẩn đoán về một ung thư. Khám cơ thể bệnh lý sẽ cho phép định rõ loại và thành phần của khối u và sẽ giúp xác định những động tác ngoại khoa cần thiết.
Nguy cơ sarcome gia tăng bởi sự sử dụng tamoxifène cũng như điều trị bằng liệu pháp phóng xạ ở vùng chậu. Trong trường hợp điều trị bằng phóng xạ, cần gia tăng sự theo dõi để có một chẩn đoán sớm hơn. Một cắt bỏ toàn bộ tử cung sẽ được thực hiện, thường được phối hợp với hóa trị và xạ trị với trường phóng xạ phải rộng bởi vì những ung thư xâm nhập cơ này có một khả năng khuếch tán lớn.
Những ung thư có tiến triển nhanh này không cho phép, như trong vài trường hợp ung thư nội mạc tử cung, gìn giữ tử cung để có thể mang thai trước khi thực hiện cắt bỏ tử cung.
(LE FIGARO 1/12/2014)

4/ PHÒNG NGỪA NÀO ĐỐI VỚI UNG THƯ CỔ TỬ CUNG ?

Professeur Olivier Graesslin
Chef de service de gynécologie-obstétrique
Institut mère-enfant
CHU de Reims

Ung thư cổ tử cung được liên kết với một nhiễm trùng dai dẳng bởi HPV (papillomavirus) và gây bệnh mỗi năm khoảng 3000 phụ nữ ở Pháp trong đó 900 chết vì loại ung thư này. Ung thư cổ tử cung vẫn là một vấn đề y tế công cộng, càng không thể chấp nhận khi có những biện pháp phòng ngừa rất hiệu quả. Trong lãnh vực này, tính chất bổ sung giữa công tác điều tra phát hiện và sự tiêm chủng được thực hiện một cách tối ưu, hẳn dẫn đến một sự thu giảm khoảng 98%, nguy cơ ung thư cổ tử cung, điều này biến ung thư cổ tử cung là một ung thư có thể tránh được.
Công tác điều tra phát hiện ung thư cổ tử cung là một phương tiện phòng ngừa thứ phát có hiệu quả. Công tác này gồm có thực hiện một frottis cervico-utérin (FCU) để phát hiện những thương tổn tiền ung thư, điều trị chúng và như thế tránh sự chuyển qua ung thư xâm nhập (cancer invasif). FCU có thể được thực hiện lúc khám phụ khoa ở một thầy thuốc đa khoa, thầy thuốc phụ khoa hay nữ hộ sinh. Đó là một trắc nghiệm đơn giản và không gây đau, cho phép lấy những tế bào ở bề mặt của cổ tử cung nhờ một bàn chải nhỏ (brossette). Sau đó những tế bào này được phân tích dưới kính hiển vi. Frottis được khuyến nghị ở những phụ nữ từ 25 đến 65 tuổi theo nhịp độ mỗi 3 năm, sau hai frottis âm tính được thực hiện cách nhau một năm. Mỗi năm ở Pháp, 6 triệu frottis đã được thực hiện.
MỘT ĐIỀU TRỊ THƯỜNG RẤT ĐƠN GIẢN
Bệnh sử của ung thư cổ tử cung làm cho nó đặc biệt có thể tiếp cận với việc điều tra phát hiện. Thật vậy, thời hạn tiến triển của những thương tổn tiền ung thư thành một thương tổn xâm nhập là dài (hơn 10 năm) và cho phép lập lại những thăm dò phát hiện với những thời gian cách quảng và đều đặn. Trong đại đa số những trường hợp (hơn 95%), các frottis được thực hiện sẽ bình thường (không có thương tổn trong biểu mô). Tuy nhiên, trong 3% đến 4% những trường hợp, những frottis thể phát hiện sự hiện diện của những tế bào “bất thường”, khi đó điều này sẽ cần thực hiện những thăm dò khác (colposcopie và sinh thiết) để xác lập một chẩn đoán chính xác. Trong trường hợp thương tổn tiền ung thư, điều trị, thường rất đơn giản, được tiến hành dưới gây mê tại chỗ và ngoại trú, cho phép chữa lành và tránh chuyển thành ung thư đồng thời gìn giữ tử cung và khả năng có con.
Công tác điều tra phát hiện này đã cho thấy tính hiệu quả của nó, ở Pháp, khi cho phép, trong khoảng thời gian 20 năm, làm giảm một nửa số những trường hợp và tỷ lệ tử vong do ung thư này. Bất hạnh thay, gần 40% phụ nữ Pháp không thực hiện thăm dò này hay không khá thường xuyên. Tuy nhiên có thể gia tăng những hiệu năng của công tác phát hiện này bằng cách tổ chức nó trên toàn lãnh thổ Pháp, bằng cách thiết đặt một système d’invitation để làm cho các phụ nữ có thể thực hiện đều đặn một frottis. Công tác điều tra phát hiện có tổ chức (dépistage organisé) dự kiến sẽ cho phép đạt trong vài năm một tỷ lệ hơn 80% những phụ nữ tham gia, và như thế giảm hơn 20% số những trường hợp tử vong.
Nhiễm trùng dai dẳng của niêm mạc cổ tử cung bởi một papillomavirus người (HPV) là một điều kiện cần thiết để phát triển ung thư cổ tử cung và những thương tổn tiền ung thư. Một tiêm chủng phòng ngừa, gây nên sự sản xuất những kháng thể vô hiệu hóa hướng vào capside virale của hai loại HPV (HPV 16 và HPV 18), chịu trách nhiệm ít nhất 70% những ung thư cổ tử cung, đã được phát triển. Được thực hiện trong những điều kiện tối ưu, sự tiêm chủng này phòng ngừa nhiễm trùng papillovirus và những hậu quả của nó với một tính hiệu quả gần 100%.
Bộ y tế khuyến nghị sự tiêm chủng này ở Pháp cho những thiếu nữ từ 11 đến 14 tuổi với một khả năng rattrapage đối với những thanh nữ từ 15 đến 19 tuổi nếu đã không giao hợp hay giao hợp dưới 1 năm.
Cuối tháng năm 2013, hơn 127 triệu liều của vaccin này đã được phân bố trên thế giới. Bất hạnh thay, mặc dầu sự tiêm chủng này có thể tiếp cận ở Pháp từ 2007 và mặc dầu ta biết tính vô hại và tính hiệu quả rất lớn của nó, nhưng tỷ lệ tiêm chủng ở những thiếu nữ vẫn không đủ, với dưới 50% những thiếu nữ được tiêm chủng. Khuynh hướng này có lẽ được giải thích bởi sự tranh cãi về những nguy cơ có những tác dụng phụ của tiêm chủng này. Tuy nhiên, tất cả những công trình nghiên cứu và những phân tích khoa học quốc tế và Pháp, được thực hiện cho đến bây giờ trên bình diện cảnh giác dược (pharmacovigilance), đã rõ ràng chứng minh sự vắng mặt của những tác dụng phụ nghiêm trọng của tiêm chủng này và đặc biệt không có mối liên hệ của sự tiêm chủng này và những bệnh tự miễn dịch như bệnh xơ cứng rải rác.
Chúng ta đừng lập lại thảm kịch của tiêm chủng chống viêm gan B, đã là một thất bại do một sự bóp méo thông tin thật sự về những nguy cơ của vaccin.
(LE FIGARO 27/1/2014)

5/ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG : CÓ PHẢI SỢ GARDASIL ?
Những dữ kiện khoa học khá an lòng, mặc dầu, cũng như đối với mọi loại thuốc, nguy cơ zéro không hiện hữu.
VACCIN. Các vaccin nhằm phòng ngừa ung thư cổ tử cung đang nằm trong tâm điểm của cơn lốc. Trong khi một thỉnh nguyện, được ký bởi hơn 600 thầy thuốc, yêu cầu một mission parlementaire, 25 đơn kiện sẽ được đệ trình từ nay đến cuối tháng tư chống lại Sanofi Pasteur MSD, nhà chế tạo Gardasil và Agence nationale de sécurité du médicament et des produits de santé (ANSM). Những phụ nữ trẻ bị những bệnh lý như bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques), lupus hay myofascilite à macrophages quy kết trách nhiệm của sự tiêm chủng bởi Gardasil.
Trong vụ việc này hai quan điểm đối chọi nhau. Một bên, giới hữu trách y tế, mà những khảo sát dịch tễ học thuận lợi cho tính chất vô hại của vaccin. ANSM đã nhắc lại vào tháng 11 rằng những công trình nghiên cứu này không cho thấy sự gia tăng tỷ lệ những bệnh tự miễn dịch cũng như bệnh xơ cứng rải rác sau khi tiêm chủng. Phía bên kia, các GS François Jérôme Authier và Romain Gherardi, thuộc bệnh viện Henri-Mondor (Créteil), tố cáo sự sử dụng trong vài vaccin những chất bổ trợ (adjuvant) chứa alulinium, những chất này có thể tích lũy trong não bộ ở những người có tố bẩm. ” Thế mà, trong Gardasil, muối aluminium không phải là muối thường được dùng và chúng tôi đã chứng thực một thời hạn xuất hiện ngắn hơn so với những vaccin khác, giữa lúc tiêm thuốc chủng và lúc xuất hiện bệnh xơ cứng rải rác hay một syndrome de fatigue chronique”, GS Gherardi đã giải thích như vậy.
Nhưng cho mãi đến nay, không có mối liên hệ nào giữa những chất bổ trợ chứa aluminium và những bệnh thần kinh đã có thể được chứng minh. Viên hàn lâm y học nhắc lại rằng ” muốn chứng tỏ một mối liên hệ giữa một động tác thường gặp như sự tiêm chủng và một sự kiện bệnh lý hiếm là rất khó. Không nên lẫn lộn quan hệ nhân quả (causalité) với sự trùng hợp thời gian đơn thuần”.
Tiến hành những chiến dịch tiêm chủng trên những quần thể lớn không bao giờ không có nguy cơ. ” Nếu anh tiêm chủng một triệu người, anh sẽ có vài trăm những tác dụng phụ, và đôi khi những trường hợp tử vong “, GS Bernard Bégaud, pharmaco-épidémiologiste (Bordeaux) đã giải thích như vậy. Những nguy cơ gặp phải sẽ luôn luôn được cân bằng với những lợi ích mong chờ. Thế mà, những người chống lại hai vaccin đang được dùng ở Pháp (Gardasil và Cervarix, của GSK) cho rằng những công trình nghiên cứu không đủ thời gian nhìn lại để đánh giá về tính hiệu quả lên sự xuất hiện của ung thư của cổ tử cung. ” Chúng ta không nghi ngờ về tính hiệu quả của chúng bởi vì các vaccin đã chứng minh một sự giảm đáng kể những thương tổn tiền ung thư “, GS Daniel Floret, chủ tịch ủy ban kỹ thuật các tiêm chủng đã xác nhận như vậy. Nhưng cần chú ý, sự việc được tiêm chủng không miễn cho các thiếu nữ khỏi phải được điều tra phát hiện bằng frottis. Hai chiến lược bổ sung cho nhau.
(LE FIGARO 4/4/2014)

6/ PHÒNG NGỪA UNG THƯ : NHỮNG HÀNH VI CẦN TÔN TRỌNG.
GS David Khayat, trưởng khoa ung thư của bệnh viện Pitié-Salpetrière và tác giả của “Prévenir le cancer, ça dépend aussu de vous”, giải thích làm thế nào để đẩy lùi những xác suất bị ung thư.
Hỏi : Những nguyên nhân khác nhau nguồn gốc của một ung thư có thể là gì ?
GS David Khayat. Trong 1/3 các trường hợp, chứng nghiện thuốc lá, trong 1/3 khác các kích thích tố sinh dục (hormone sexuelle), trong 20% chế độ ăn uống, trong 15% những tác nhân nhiễm trùng (vi khuẩn, virus) hay những bức xạ (mặt trời, nổ nguyên tử). 5% còn lại ung thư có nguồn gốc di truyền. Từ lâu ta đã nghĩ rằng ung thư là do một sự tiếp xúc ồ ạt với một chất gây ung thư mạnh, như thuốc lá. Bây giờ ta biết rằng, trong phần lớn các trường hợp, ung thư là do một sự nối tiếp nhau của những yếu tố sinh ung thư nhỏ (facteurs cancérigènes mineurs). Những yếu tố này, cứ mỗi lần, huy động các hệ sửa chữa (système de réparation) của các gène của chúng ta và những gène này nhiên hậu trở nên rối loạn và, thay vì làm tròn chức năng của chúng, lại tích lũy những tổn hại.
Hỏi : Sự trách nhiệm của tình trạng tích lũy những yếu tố này phải chăng đã được chứng minh.
GS David Khayat. Vâng. Những công trình nghiên cứu đã chứng minh điều đó, và sự trách nhiệm này đã được quan sát hàng ngày bởi phần lớn các chuyên gia ung thư. Chính sự tích lũy này giải thích tại sao có nhiều ung thư như vậy !
Hỏi : Để chứng minh một sản phẩm có khả năng gây ung thư, một công trình nghiên cứu phải…Công trình nào đáng tin cậy nhất.
GS David Khayat. Đó là những công trình nghiên cứu nhằm theo dõi trong nhiều năm những người tình nguyện, lúc đầu mạnh khỏe, và nêu lên tình trạng sức khỏe của họ với những gì họ đã làm, đã tiêu thụ, vệ sinh đời sống của họ..Cuối công trình nghiên cứu, người ta liệt kê sự xuất hiện của một ung thư nào đó.
Hỏi : Về chế độ ăn uống, trong số những sai lầm cần phải tránh, ông hãy kể cho chúng tôi những điều thận trọng cần thực hiện.
GS David Khayat. Không có chế độ ăn uống nào phòng ngừa ung thư ở tất cả mọi người. Vài loại cá phải được tiêu thụ có mức độ bởi vì, trong phần lớn các loại cá, chúng bị ô nhiễm bởi những kim loại nặng sinh ung thư, như thủy ngân, chì, arsenic…hay tệ hại hơn, những chất gây ô nhiễm hữu cơ (polluant organique) tồn tại trong pyralène. Đó là saumon, espadon, thon rouge…Người ta cũng đã chứng tỏ rằng một sự tiêu thụ quá mức những sản phẩm sữa không được lên men (produits laitiers non fermentés) có thể làm gia tăng nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến. Vài cách nấu nướng, như barbecue và wok, cũng gây ung thư. Có nhiều thí dụ khác. Thí dụ một sử dụng đều đặn vitamine A ở những người hút thuốc làm gia tăng nguy cơ phát triển một ung thư phổi. Sử dụng đều đặn những vitamine E,D và oméga 3 làm gia tăng nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến.
Hỏi : Phải chăng ta đã chứng thực một sự liên hệ giữa sự xuất hiện một ung thư và sự sử dụng của vài loại thuốc ?
GS David Khayat. Một cách khá giai thoại, ta đã nhận thấy rằng Viagra có thể làm gia tăng nguy cơ mélanome ở đàn ông và vài thuốc chống cao áp (những inhibiteur des canaux calciques) làm tăng nguy cơ của ung thư vú ở phụ nữ.
Hỏi : Mối liên hệ giữa chứng nghiện thuốc lá và ung thư phổi, điều đó ta không tranh cãi. Thế nhưng thuốc lá điện tử (cigarette électronique) thì sao ?
GS David Khayat. Tất cả những gì cho phép không hít khói đều tốt. Vấn đề với thuốc lá điện tử là không có một công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh nào cho phép kiểm tra tính vô hại của nó đã được thực hiện trước khi thương mãi hóa nó.
Hỏi : Sự sử dụng những điện thoại cầm tay có những nguy cơ nào ?
GS David Khayat. Mặc đầu không có một công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh nào chứng minh rằng những điện thoại cầm tay gia tăng nguy cơ ung thư, dầu đó là ung thư não, ung thư tuyến nước bọt (glandes salivaires), của tuyến mang tai (parotide) hay của miệng, nhưng phải rất thận trọng với những trẻ em và ngăn cản chúng không được lạm dụng. Vì chúng còn nhỏ tuổi, nên các trẻ em dễ cảm nhận tất cả những yếu tố gây ung thư.
Hỏi: Những cabine à bronzer mới có ít gây những nguy cơ sinh ung thư hơn những tiếp xúc kéo dài với ánh nắng mặt trời ?
GS David Khayat. Những cabine mới này cũng đều nguy hiểm ! Và nguy cơ sinh ung thư gia tăng 1/3 nếu sự sử dụng chúng được thực hiện trước 25 tuổi.
Hỏi : Yếu tố gây ung thư khác liên kết với những ung thư khác : sự ô nhiễm không khí…Làm sao phòng ngừa ?
GS David Khayat. Sự ô nhiễm này, liên kết với diesel, là một tai họa thật sự. Ta ước tính rằng mỗi năm có hơn 220.000 trường hợp tử vong do ung thư phổi gây nên bởi sự hít diesel. Chúng ta nhất thiết phải kêu gọi nhà cầm quyền gia tăng thuế lên nhiên liệu này bởi vì nó rất gây chết người.
(PARIS MATCH 20/11-26/11/2014)

7/ HƯỚNG VỀ MỘT CHẨN ĐOÁN SỚM UNG THƯ PHỔI
Giáo sư Paul Hoffman, thuộc bệnh viên đại học Nice, đã loan báo là đã hiệu chính một xét nghiệm máu đáng tin cậy và rất sớm để phát hiện ung thư phế quản
Hỏi : Mục đích của xét nghiệm này ?
GS Fabrice Barlesi : Đó là phát hiện những tế bào ung thư (CTC), chỉ rằng một khối u đang hình thành nhưng rất khó phân lập. Kỹ thuật ở đây nhằm chọn lọc những tế bào hiện diện trong một mẫu nghiễm máu tùy theo kích thước của chúng.
Hỏi : Ta có được nói đó là một “đột phá quan trọng” không ?
GS Fabrice Barlesi : 168 trong số 245 người tham gia công trình nghiên cứu đã bị viêm phổi mãn tính. Khó suy diễn lên những người lành mạnh…Vậy những kết quả này phải được xác nhận.
Hỏi : Một xét nghiệm như thế sẽ biến đổi việc điều tra phát hiện ung thư phổi như thế nào ?
GS Fabrice Barlesi : Rất ít xâm nhập, sự phát hiện những CTC có thể được liên kết với chụp cắt lớp vi tính ngực. Bởi vì scanner ngực không hoàn hảo : trong 75% những trường hợp, chẩn đoán quá chậm. Một xét nghiệm máu sẽ giúp giải thích tốt hơn chụp hình ảnh và cho phép một sự điều trị sớm hơn. Những điều này ít khả năng có thể thực hiện trước 15 năm nữa.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2014)

8/ UNG THƯ : GIÁO ĐIỀU 5 TRÁI CÂY VÀ RAU XANH MỖI NGÀY BỊ SỨT MẺ.
Một cuộc điều tra được thực hiện trên 500.000 người châu Âu phát hiện một hiệu quả chống ung thư không đáng kể của một chế độ ăn uống giàu thực vậy. Tuy vậy chế độ ăn uống này vẫn có tác dụng lên nguy cơ tim.
ALIMENTATION. ” Hãy ăn 5 trái cây và rau xanh mỗi ngày !” Khẩu hiệu này từng được nhấn mạnh trong thập niên qua, và không ai được cho là không hay biết, đã khiến dân chúng không những thay đổi hẳn thói quen ăn uống, mà còn cảm thấy phạm tội trong trường hợp tiêu thụ không đủ thực vật. Ăn 5 trái cây và rau xanh mỗi ngày, ngay cả để bảo vệ chống ung thư, điều này không hiển nhiên khi không được ghi trong thói quen nấu ăn đã có từ lâu.
Ngày nay dường như sự việc đã không tôn trọng một cách chặt chẽ điều khuyến nghị ít bi phiền hơn là dự kiến. Đó là kết luận của một cuộc điều tra châu Âu trên gần 500.000 người, được công bố ở Hoa Kỳ trong journal của Viện ung thư quốc gia. Cuộc điều tra này kết luận rằng, cuối cùng, 5 trái cây và rau xanh mỗi ngày mặc dầu làm giảm nguy cơ ung thư nhưng chỉ ở mức không đáng kể.
Tuy vậy không phải vì thế mà đổ xô vào charcuterie (đồ thịt lợn), kem (glaces), fromage, bánh ngọt, bởi vì những tác hại của chúng lên tim, các động mạch, bệnh đái đường, chứng béo phì…không bị tranh cãi. Quan niệm 5 trái cây rau xanh mỗi ngày đã được đưa ra vào giữa những năm 1990, trên cơ sở những công trình nghiên cứu khác nhau, kết luận rằng 400 g thực vật mỗi ngày phòng ngừa nguy cơ ung thư. Các nhà nghiên cứu ngay cả ghi nhận một tỷ lệ giảm nguy cơ 30 đến 50% với một chế độ ăn uống như thế. Mệt.
Công trình nghiên cứu Epic (European Prospective Investigation Info Cancer), vừa được công bố, được thực hiện trên 500.000 người châu Âu tuổi từ 45 đến 65, được tuyển mộ trong 10 nước trong đó có Pháp, từ năm 1992 đến 2000 và được theo dõi trong 9 năm, về chế độ ăn uống và tình trạng sức khỏe của họ. Những kết quả gợi ý rằng sự việc ăn nhiều trái cây và rau xanh mỗi ngày mặc dầu làm giảm nguy cơ ung thư, nhưng khá ít, sự khác nhau giữa những người tiêu thụ ít và nhiều là khá hẹp. Ngoài ra các tác giả không loại bỏ rằng sự tiêu thụ các thực vật không phải là nguồn gốc của tác dụng bảo vệ thấp này, nhưng lối sống lành mạnh hơn của những người ăn trái cây và rau xanh (hút thuốc ít hơn những người khác…)
Thí dụ, mỗi 150 gramme trái cây hay rau xanh mỗi ngày thêm vào sẽ làm giảm nguy cơ ung thư ở đàn ông 2,6% và 2,3% ở phụ nữ. ” Những công trình nghiên cứu khác mới đây đã phát hiện sự kiện là có mối liên hệ giữa việc tiêu thụ trái cây-rau xanh và phòng ngừa ung thư nhưng thấp, Walter Billet, thuộc đại học havard, trong một bài xã luận của cùng tờ báo đã viết như vậy. Nhưng những chất đặc hiệu có thể tác động, như lycopène của cà chua bảo vệ chống lại ung thư tiền liệt tuyến hay những chất được chứa trong brocolis có tác dụng kích thích một gène bảo vệ chống lại ung thư đại tràng.”
GS Serge Hercberg, chuyên gia về dinh dưỡng, nhà nghiên cứu của Inserm, đánh giá rằng ta không thể rút ra những kết luận chắc chắn chỉ từ một công trình nghiên cứu, vì những kết quả cũng tùy thuộc vào những đặc điểm riêng cho những quần thể được khảo sát : ” Công trình nghiên cứu Suvimax vào năm 2003 của chúng tôi đã cho thấy rằng trên 13.000 người Pháp từ 45 đến 60 tuổi những cung cấp đủ các chất chống oxy hóa (được chứa trong trái cây và râu xanh) làm giảm 30% nguy cơ ung thư ở người đàn ông, nhưng không ở người đàn bà. Có lẽ bởi vì các phụ nữ có một quy chế dinh dưỡng tốt hơn.”
NHỮNG TÍNH CHẤT CHỐNG OXY HÓA.
Đối với chuyên gia này, các trái cây và rau xanh có thể có một tác dụng qua tính chất chống oxy hóa của chúng : ” Vài chất được chứa trong các thực vật có khả năng chống lại những quá trình oxy hóa liên kết với sự lão hóa tế bào, như nhiều công trình thí nghiệm đã chứng tỏ điều đó “, nhà nghiên cứu, vừa phát động một công trình nghiên cứu mới Nutrinet trên 500.000 người Pháp được chiêu mộ trên Internet.
Ngoài ra, chế độ ăn uống giàu trái cây và rau xanh, mặc dầu có một tác dụng, ngay cả vừa phải lên nguy cơ ung thư, vẫn ảnh hưởng nhiều lên nguy cơ bị những bệnh tim mạch và ngăn ngừa chứng béo phì. ” Sau cùng khẩu hiệu, 5 trái cây và rau xanh mỗi ngày, đã được các thầy thuốc chuyên khoa tim sử dụng bởi vì nhiên hậu sự phòng ngừa các bệnh tim mạch và ung thư đều phải đi qua cùng những hành vi, không hút thuốc, chế độ ăn uống giàu trái cây và rau xanh, thể dục, GS Daniel Thomas (Institut de cardiologie, bệnh viện Pitié-Salpétrière) đã giải thích như vậy. Thật vậy ta có thể phàn nàn rằng ngày nay cardiologie bị chế ngự bởi kỹ thuật học và những loại thuốc trong khi về giáo dục vệ sinh dinh dưỡng vẫn còn bị sao nhãn…”
(LE FIGARO 12/4/2010)

9/ TÌNH TRẠNG TĂNG THỂ TRỌNG LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA 500.000 TRƯỜNG HỢP UNG THƯ MỖI NĂM.
Những nước giàu có bị ảnh hưởng nhiều nhất và các phụ nữ nhiều hơn đàn ông.
ONCOLOGIE. 1/2 triệu những trường hợp ung thư mới được chẩn đoán mỗi năm trên thế giới là do sự tăng thể trọng (surpoids) hay chứng béo phì (obésité). Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu, được công bố trong tạp chí Lancet Oncology bởi những nhà nghiên cứu của Centre international de recherche sur le cancer (CIRC) ở Lyon.
Được thực hiện bởi Melina Arnold, dưới sự chỉ đạo của Isabelle Soerjomataram, những nhà nghiên cứu đã đánh giá số những trường hợp ung thư mới do tình trạng tăng thể trọng hay do chứng béo phì. Công trình nghiên cứu đã đặt song hành sự phân bố của những chỉ số khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle) trong dân chúng thế giới năm 2002 với những ước tính tỷ lệ tử vong của 27 loại ung thư 10 năm sau, vào năm 2012. Kíp cũng đã tính toán tỷ lệ ung thư có thể tránh được nếu dân chúng duy trì trọng lượng của năm 1982 của họ. Khoảng cách 10 năm giữa hai registre được khảo sát là cần thiết để đánh giá nguy cơ phát triển một căn bệnh như ung thư.
Theo công trình nghiên cứu, 3,6% những trường hợp ung thư mới ở những người trên 30 tuổi có thể quy cho sự gia tăng thể trọng, với một tỷ lệ quan trọng hơn nhiều trong những giàu so với những nước nghèo : 64% những trường hợp ung thư do thể trong, theo các tác giả, được chẩn đoán ở Bắc Mỹ và châu Âu. Ngoài ra, những phụ nữ bị ung thư nhiều hơn so với đàn ông, đặc biệt trong những nước giàu có, ở đây 8% những trường hợp ung thư mới ở các phụ nữ là do sự tăng thể trọng, so với “chỉ” 3% ở các ông. ” Điều đó được giải thích một cách khá đơn giản, Catherine Hill đã xác nhận như vậy, bởi vì những vị tri ung thư trong đó sự tăng thể trọng đóng vai trò liên quan các phụ nữ hơn.”
Những ung thư được làm dễ bởi tình trạng tăng thể trọng là những ung thư thực quản, đại trực tràng, thận, tụy tạng, túi mật (ở các phụ nữ), cũng như những ung thư vú sau mãn kinh, ung thư cổ tử cung và các buồng trứng.
3 CƠ CHẾ ĐƯỢC NGHI NGỜ
Tình trạng tăng thể trọng (surpoids) được xác định từ chỉ số khối lượng cơ thể (IMC : indice de masse corporelle), hoặc trọng lượng tính bằng gramme chia cho kích thước của cơ thể (bằng mètre) bình phương. Nếu IMC bằng hoặc trên 25, ta ở trong tình trạng tăng thể trọng, bắt đầu từ 30, ta bị béo phì (obèse). Như thế, một người trưởng thành 1,75 m sẽ được xem như tăng thể trọng nếu nặng hơn 77 kg và béo phì bắt đầu từ 92 kg. Trên thế giới, chứng béo phì tăng gấp đôi từ năm 1980 và ngày nay liên quan đến phụ nữ (300 triệu) hơn là đàn ông (200 triệu). Về tình trạng tăng thể trọng, chứng này liên quan đến 1,4 tỷ người trưởng thành, hơn 20 tuổi, hoặc 35% trong số họ.
Mặc dầu vai trò của sự thặng dư thể trọng trong vài ung thư là không thể tranh cãi, ngược lại khó giải thích điều đó, nhất là bởi vì tăng thể trọng thường được kèm theo những yếu tố nguy cơ hành vi hay môi trường (facteurs de risques comportementaux ou environnementaux) khác. Ngoài ra, Catherine Hill đã nói thêm, ” ta không biết, đó là do vai trò trọng lượng cực đại đạt được hay do thời gian trôi qua khi trở nên béo phì “.
Các chuyên gia đặc biệt nghi ngờ 3 cơ chế : một sự thặng dư hormone được tiết ra bởi các mô mỡ, những vấn đề viêm mãn tính và những yếu tố cơ học được làm dễ bởi sự tăng thể trọng (thí dụ chứng trào ngược dạ dày-thực quản liên quan trong sự xuất hiện của một ung thư dạ dày). Ngoài ra, chứng béo phì dường như làm gia trọng tiên lượng, với một sự chậm chẩn đoán và những điều trị không luôn luôn thích ứng với trọng lượng của bệnh nhân, vì những thuốc mới được trắc nghiệm trên những người có vóc dạng bình thường.
Mặc dầu còn cần phải biết chứng béo phì có phải là một yếu tố nguy cơ quan trọng của ung thư hay không, tuy nhiên chúng này chủ yếu làm gia tăng tỷ lệ tử vong tim mạch, Benjamin Cairns (đại học Oxford) đã nhắc lại như vậy trong một bài bình luận được công bố bởi Lancet Oncology. Còn những yếu tố làm dễ ung thư, thuốc lá, tiếp theo là rượu, vẫn còn dẫn đầu : mỗi năm ở Pháp, thuốc lá chịu trách nhiệm 30 % những trường hợp tử vong do ung thư. Hoặc 44.000 trường hợp tử vong.
(LE FIGARO 26/11/2014)

10/ UNG THƯ THẬN : NGOẠI KHOA BẢO TỒN CỦA THẬN THƯỜNG ĐƯỢC XÉT ĐẾN HƠN.
BS Hervé Baumert, trưởng khoa niệu học của groupe hospitalier Paris Saint-Joseph, giải thích những tiến bộ cho phép tránh một sự cắt bỏ hoàn toàn cơ quan.
Hỏi : Ta khám phá một ung thư thận như thế nào ?
BS Hervé Baumert : Ở một giai đoạn sớm, không có một triệu chứng báo động nào : 50% các khối u được chẩn đoán một cách tình cờ trong một thăm dò X quang. Ở một giai đoạn tiến triển hơn, chính sự hiện diện của máu trong nước tiểu khiến bệnh nhân đi khám. Nếu bệnh không được điều trị, ung thư phát triển, tạo thành một khối u ở thận. Ở một giai đoạn tiến triển, ung thư di căn, gây nên những triệu chứng khác nhau tùy theo những định vị của chúng.
Hỏi : Những triệu chứng này là gì ?
BS Hervé Baumert : Ho hay cảm giác khó thở nếu các lá phổi bị thương tổn, đau xương nếu xương…
Hỏi : Những ung thư này có thường gặp không và ta có biết những yếu tố nguy cơ không ?
BS Hervé Baumert : Ta liệt kê 12.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp và hai lần nhiều hơn ở đàn ông, thường nhất sau 65 tuổi. Những yếu tố nguy cơ là chứng nghiện thuốc lá, chứng béo phì, cao huyết áp, vài bệnh di truyền. Các bệnh nhân đang được thẩm tách (sous dialyse) có sức khỏe yếu kém.
Hỏi : Điều trị chuẩn là gì ?
BS Hervé Baumert : Ở một giai đoạn sớm hay tiến triển, không di căn, điều trị là ngoại khoa. Ở một giai đoạn di căn, điều trị là nội khoa, với sự sử dụng những thuốc chống sinh mạch máu (anti-angiogénétiques). Những loại thuốc này có tác dụng làm tắc những mạch máu nuôi dưỡng khối u. Phẫu thuật đôi khi được phối hợp với điều trị nội khoa.
Hỏi : Những kỹ thuật ngoại khoa khác nhau nào được sử dụng để lấy đi khối u ?
BS Hervé Baumert : Chủ yếu có hai kỹ thuật. 1. Cắt bỏ thận hoàn toàn (néphrectomie totale). 2. Cắt bỏ thận một phần (néphrectomie partielle) : ta chỉ lấy đi khối u. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ mổ, những kỹ thuật khác phá hủy nó : nhiệt (radiofréquence) hay đông lạnh (cryothérapie).
Hỏi : Trong những trường hợp nào cần phải cắt bỏ hoàn toàn thận ?
BS Hervé Baumert : Khi các hạch hay tĩnh mạch cửa bị di căn và khi khối u lớn hơn 7 cm. Mức giới hạn này là một tiến bộ lớn vì lẽ, cho mãi đến gần đây, ta phải lấy bỏ thận khi ung thư lớn hơn 4 cm.
Hỏi : Những hậu phẫu của một cắt bỏ thận hoàn toàn là gì ?
BS Hervé Baumert : Sau một thời gian nhập viện một tuần, bệnh nhân phải chờ khoảng 1 tháng trước khi lấy lại cuộc sống hoạt động của mình. Trong những năm sau, nguy cơ bị suy thận gia tăng tạo điều kiện cho một sự gia tăng 25% những biến chứng tim mạch. Nhưng những kết quả đều tốt : đối với những khối u tiến triển không di căn, ta có được tỷ lệ chữa lành 20 đến 80% tùy theo giai đoạn của bệnh, và đối với những khối u khu trú, từ 80% đến 95%.
Hỏi : Những trường hợp cắt bỏ thận một phần có cùng những nguy cơ này hay không ?
BS Hervé Baumert : Cắt bỏ một phần (chirurgie partielle) chỉ có thể thực hiện nếu định vị của khối u cho phép điều đó và nếu khối u không lớn hơn 7 cm. Nhưng khi bệnh nhân chỉ còn một quả thận, ta cố giữ gìn nó, mặc dầu ung thư vượt quá giới hạn này. Lợi ích của cắt bỏ một phần là cho phép bảo tồn một thận với một chức năng tốt hơn, nhưng không có nguy cơ suy thận và những biến chứng tim mạch. Về mặt chữa lành, những kết quả giống với những kết quả có được với cắt bỏ thận hoàn toàn (néphrectomie totale).
Hỏi : Về lâu về dài, những kết quả nào khuyến khích mở rộng những chỉ định của ngoại khoa bảo tồn (chirurgie conservatrice) ?
BS Hervé Baumert : Một công trình nghiên cứu quốc tế mới đây, được thực hiện trên 973 bệnh nhân (mang một khối u dưới 7 cm) và được công bố trong ” Urologic Oncology”, đã cho thấy rằng phẫu thuật một phần (chirurgie partielle) cho phép bảo tồn một chức năng thận tốt hơn, ngay cả khi nó được thực hiện đối với những khối u có kích thước từ 4 đến 7 cm. Những kết quả tốt đã được chứng minh, công trình nghiên cứu sau cùng này xác nhận điều đó.
Hỏi : Hiện nay có những thử nghiệm khác đang được tiến hành hay không ?
BS Hervé Baumert : Vâng, một công trình nghiên cứu Pháp nhiều trung tâm về những ung thư thận khu trú có kích thước từ 7 đến 10 cm. Protocole nhằm làm giảm kích thước của khối u bằng điều trị nội khoa với những thuốc chống sinh mạch máu (anti-angiogénique) để có thể thực hiện một phẫu thuật bán phần. Khuynh hướng hiện nay là tìm cách gìn giữ cơ quan chừng nào có thể được.
(PARIS MATCH 27/11-3/12/2014)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(25/1/2015)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thời sự y học số 362 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 502 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 521 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s