Thời sự y học số 360 – BS Nguyễn Văn Thịnh

café1/ CAFEINE, MỘT BẠN ĐỒNG MINH VỚI LIỀU VỪA PHẢI
Những hiệu quả của chất hoạt thần (substance psychoactive) này thay đổi đối với mỗi cá thể.
EXCITANT. ” Những công trình nghiên cứu đầu tiên về caféine nhằm tiêm những lượng lớn vào những động vật “, Astrid Nehlig, giám đốc nghiên cứu của Inserm, unité 1129, đã kể lại như vậy. ” Dĩ nhiên khi đó ta thường quan sát thấy nhiều hiện tượng, đôi khi mâu thuẫn, nhưng thường âm tính.” Vì caféine là chất hoạt thần được tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới, nên những tác dụng của nó lên não bộ đã luôn luôn là nguồn gốc của những mối lo ngại. Từ hai mươi năm nay, sự nghiên cứu cố gắng tìm hiểu những tác dụng của caféine với những liều tương ứng với một sự tiêu thụ trung bình, từ 2 đến 5 tách cà phê mỗi ngày. ” Ta được những kết quả thực tế hơn, mặc dầu nghiên cứu những yếu tố của chế độ ăn uống của chúng ta là luôn luôn khó, bởi vì có nhiều yếu tố can dự, đặc biệt chronobiologie “, Astrid Nehlig đã nhấn mạnh như vậy.
Cà phê vẫn là nguồn chủ yếu, nhưng không phải duy nhất của caféine trên thế giới và tác dụng chính của caféine, gia tăng sự thức tỉnh (vigilance), là nguồn gốc của sự sử dụng nó. ” Thật vậy, truyền thuyết kể lại rằng một người chăn cừu châu Phi, sau khi đã chứng thực rằng những con dê của ông ta bị kích động sau khi đã tiêu thụ những hạt của cây cà phê (caféier), đã báo cáo quan sát của mình cho các tu sĩ láng giềng. Sau đó những tu sĩ này đã chế tạo một nước uống có khả năng giữ họ thức tỉnh trong những giờ dài cầu nguyện.
Thật vậy, caféine có khả năng gắn vào những thụ thể adénosine của các tế bào thần kinh của chúng ta, như vậy ngăn cản adénosine đóng vai trò làm giảm hoạt động của các neurone và tạo điều kiện cho sự thiu thiu ngủ (endormissement). Vậy không có gì phải ngạc nhiên khi sự tiêu thụ cà phê có thể làm rối loạn giấc ngủ, ngay cả sau nhiều giờ. Nếu những tác dụng của nó được cảm thấy giữa 10 phút và một giờ sau khi được hấp thụ, có thể cần khoảng 6 giờ để loại bỏ một nửa caféine : một tách cà phê được uống sau 17 giờ có thể gây nên một sự thức ngủ (endormissement serein). ” Tuy nhiên có một polymorphisme génétique của các récepteurs à l’adénosine giải thích tại sao vài người không bị ảnh hưởng chút nào bởi tác dụng này của caféine “, Astrid Nehlig đã phân tích như vậy. Sự gia tăng của hoạt động neurone gây nên bởi sự ức chế những thụ thể adénosine có thể gây nên một sự gia tăng sản xuất adrénaline để cải thiện năng lực của cơ thể đáp ứng với điều mà nó cảm nhận như là một hoạt động gia tăng, với những ảnh hưởng khả dĩ lên circuit de la dopamine.
Tất cả những tác dụng này lên những chất dẫn truyền thần kinh đặt vấn đề accoutumance (sự quen thuốc) và dépendance sự (phụ thuộc), được hỗ trợ bởi hội chứng cai (syndrome de sevrage), được quan sát bởi vài người tiêu thụ cà phê. ” Ngoài effet de sevrage này, hiện diện ở 10% những người tiêu thụ và kéo dài từ 48 giờ đến 1 tuần, những chất chỉ dấu đáng kể nhất của dépendance không được kích hoạt với sự tiêu thụ caféine, Astrid Nehlig đã định rõ như vậy.Như thế không một công trình nghiên cứu đáng tin cậy nào đã cho thấy sự gia tăng ngẫu nhiên của liều cà phê buổi sáng để luôn luôn đạt cùng hiệu quả, và circuit de dépendance liên kết với effet de récompense, điển hình của những nghiện ngập, không được kích hoạt chút nào.
Mặc đầu không có một sự phụ thuộc sinh lý (dépendance physiologique) nào có thể được quy cho caféine, nhưng các nhà nghiên cứu không loại bỏ tình trạng phụ thuộc tâm lý (dépendance psychologique) liên kết với sự thoải mái do một sự thức tỉnh tốt hơn hay hiệu năng trí tuệ gia tăng nhờ năng lực tập trung mà caféine mang lại. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đã cho thấy một accoutumance khả dĩ đối với tác dụng âm tính của cà phê : nervosité, tình trạng lo lắng, sự kích động cơ. Những tác dụng này, đặc biệt gây trở ngại, bình thường khiến hạn chế một cách ngẫu nhiên sự tiêu thụ caféine, nhưng nếu những dấu hiệu báo động này biến mất, những hậu quả trong thời gian dài hạn của một sự tiêu thụ quá mức cà phê là gì ?
Hiện nay, những công trình nghiên cứu đáng tin cậy nhất, được thực hiện trên một số lượng lớn nhất những người tiêu thụ, chỉ rằng một sự tiêu thụ caféine từ liều lượng thấp đến trung bình, tương ứng với dưới 5 tách mỗi ngày, không có tác dụng âm tính rõ ràng lên sức khỏe. Vậy những khuyến nghị của các cơ quan y tế quốc tế lấy con số này, nhưng giảm xuống 2 hay 3 tách mỗi ngày đối với những phụ nữ có thai. Những dữ kiện này tương ứng với sự tiêu thụ trung bình được quan sát trong phần lớn các nước phương Tây nhưng nó chỉ là một con số trung bình đối với toàn thể dân chúng. Vậy một tỷ lệ đáng kể những người uống nhiều cà phê (gros buveurs de café) (hơn 8 tách mỗi ngày) phải làm một cố gắng nhỏ để tận dụng một cách thận trọng những tác dụng có lợi của caféine.
(LE FIGARO 15/9/2014)

2/ CÓ BAO NHIÊU CAFEINE TRONG CÁC THỨC ĂN ?
Giới hữu trách y tế trên thế giới đã lo ngại về những tác dụng có hại của các boissons énergisantes, nhất là bởi vì dung lượng caféine cao của chúng, chịu trách nhiệm những tác dụng phụ không được mong muốn đôi khi nghiêm trọng mặc dầu những overdose thật sự hiếm khi xảy ra bởi vì khó uống vào, mỗi boisson, khá nhiều caféine trong một thời gian giới hạn. Tuy nhiên sự lo ngại hướng về làn sóng gia tăng tiêu thụ những viên hay bột caféine, đã dẫn đến ở Hoa Kỳ năm nay, cái chết của một thiếu niên và một thiếu nữ do overdose de caféine.
Mặc dầu những overdose hiếm xảy ra, nhưng những tác dụng phụ có hại của caféine xuất hiện ngay khi những liều vượt quá 800mg mỗi ngày : tim nhịp nhanh, những rối loạn giấc ngủ, nervosité, lo âu, crampe musculaire.Thế mà cà phê không phải là sản phẩm duy nhất chứa caféine, chất này cũng được chứa trong nhiều thức ăn và nước uống. Thí dụ, một tách cà phê chứa từ 95mg (café instantané) và 250mg (grand café des chaines spécialisées) và một tách trà (đen, xanh, trà đá) chứa từ 10 đến 50mg. Những décaféiné/déthéiné không phải là không có caféine : chúng có thể chứa đến 20 mg mỗi tách. Các soda loại cola chứa trung bình 50 mg mỗi canette. Chocolat có thể chứa từ 80 đến 200mg caféine đối với 100g. Chewing-gum “énergisant” chứa từ 40 đến 100mg mỗi tablette. Các nhà chế tạo công nghiệp buộc chỉ rõ sự hiện diện caféine, nhưng không phải số lượng. Vậy phải rất thận trọng để không tích lũy những nguồn caféine.
Mặc dầu những công trình nghiên cứu chưa cho phép chỉ một cách chính xác liều không được vượt quá, nhưng một vài đã thực hiện những đột phá. Một kíp nghiên cứu Trung quốc và Triều Tiên vừa hiệu chính “Caffeine Orange”, một trắc nghiệm phát hiện, bằng huỳnh quang, sự hiện diện của caféine trong những sản phẩm khác nhau và cho một feu rouge, orange hay vert tùy theo nồng độ của nó.
Một kíp nghiên cứu Hoa Kỳ, đã nhận diện 570 nước uống và 150 thức ăn chứa caféine, cũng phát triển một trắc nghiệm bằng bandelette để nhận diện trong vòng dưới 1 phút sự hiện diện của caféine trong một loại nước uống.
Nếu những công trình nghiên cứu xác nhận rằng caféine tạo nên một nguy cơ quan trọng với liều cao, có lẽ đơn giản hơn, ít tốn kém hơn và phổ biến hơn là đòi hỏi các nhà công nghiệp chỉ rõ tỷ suất của caféine trong những sản phẩm của họ.
(LE FIGARO 15/9/2014)

3/ CAFEINE : ĐIỀU MÀ TA BIẾT, ĐIỀU TA NGHIÊN CỨU.
Sự sử dụng caféine để điều trị bệnh ngừng thở ngắn lúc ngủ (apnée du sommeil) ở trẻ sinh non đã không có một tác dụng lâu dài nào. Đây là kết luận mới nhất của công trình nghiên cứu đầu tiên, được theo dõi cho đến năm 12 tuổi, được thực hiện bởi một kíp nghiên cứu Philadelphia.
Hiếm có những công trình nghiên cứu trong thời gian dài hạn, và lại còn hiếm hơn trong nhi khoa. “Ta tìm thấy caféine và những chất chuyển hóa của nó, như xanthine, với nồng độ tăng gấp đôi trong máu của thai nhi “, GS Pierre Gressens, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh, giám đốc Inserm ở bệnh viện Robert-Debré (Paris), đã chỉ rõ như vậy. Tuy nhiên những tác dụng của caféine lên thai nhi người không được biết rõ bởi vì chỉ có những công trình nghiên cứu trên động vật đã được thực hiện. Ngoài ra, những tác dụng có hại của stress lên thai nhi lại được biết rõ. Do đó những khuyến nghị của GS Gressens dựa trên những sự kiện được biết và trên sự thận trọng : vô ích yêu cầu các phụ nữ có thai ngừng cà phê, điều này sẽ là một nguồn stress, nhưng dường như cẩn thận trọng khuyên ho hạn chế sự tiêu thụ ở một lượng hợp lý.
Một công trình nghiên cứu mới đây, được thực hiện trên hơn 1 triệu người vào năm 2014, đã cho phép loại bỏ mọi sự lo ngại về một nguy cơ tim mạch : cà phê ngay cả có thể có một tác dụng bảo vệ tim. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu biết rằng caféine làm gia tăng huyết áp : có phải giải thích tác dụng dương tính này bởi polyphénols mà nó chứa ? Trà cũng có lợi chứ ? Nghĩ gì với soda và những nước uống nhiều caféine khac ? Những tác dụng dương tính khả dĩ khác nổi rõ : trên bệnh đái đường loại II, trên vài loại ung thư, trên vài rối loạn nhận thức (trouble cognitif) nhưng không một công trình nghiên cứu nào cho phép rút ra những kết luận có mục tiêu điều trị.
” Hai tách cà phe mỗi ngày dường như được liên kết với một sự xuất hiện sớm hơn những triệu chứng của bệnh Huntington “, GS Krystokowiak, giáo sư thần kinh học ở CHU d’Amiens, người đã thực hiện công trình nghiên cứu này cùng với GS Blum và BS Simonin (Lille) đã chỉ rõ như vậy. Tuy nhiên đó là một étude rétrospective, không cho phép đánh giá mối liên hệ nhân quả : lại nữa không thể thiết lập một khuyến nghị nào đó đối với những người mang gène chịu trắc nghiệm căn bệnh này.
Những kết quả bắt đầu nổi rõ, nhhững sự nhất trí xuất hiện thuận lợi cho một sự tiêu thụ hợp lý cà phê, tuy nhiên, như Journal of Caffeine Research mới đây báo cáo, những công trình nghiên cứu có chất lượng tốt vẫn hiếm hoi, và sẽ còn cần phải nhiều năm nghiên cứu trước khi biết một cách chính xác những nguy cơ và những lợi ích của caféine.
(LE FIGARO 15/9/2014)

4/ TRÀ, CÀ PHÊ, GIA VỊ, MẬT : CHÚNG TĂNG CƯỜNG NHỮNG KHẢ NĂNG PHÒNG VỆ MIỄN DỊCH.
Những aliment plaisir bảo vệ chống lại những bệnh thoái hóa thần kinh (maladies neuro-dégénératives), bảo vệ cơ thể chống lại những agression nhờ những tính chất antioxydant hay antiseptique, như thế tạo nên những con chủ bài y tế (atouts santé) quý báu
TRÀ VÀ CẢ PHÊ : NHỮNG CHẤT KÍCH THÍCH CÓ LẼ CÓ TÁC DỤNG BẢO VỆ.
Phát xuất từ những hạt của một cây nhỏ có nguồn gốc từ Ethiopie, cà phê là nước uống ” kích thích” phổ biến nhất trên thế giới. Mỗi người Pháp tiêu thụ trung bình 9 kg cà phê mỗi năm. Hoạt chất chính là caféine. Một tách cà phê lọc (café filtre) chứa khoảng 115 mg. Nhưng caféine cũng hiện diện trong cacao (45mg đối với 30 g chocolat noir), những soda au cola (43 mg trong một canette), maté (70 mg trong một tasse)…và trà, ở đây caféine đôi khi được gọi là théine (45mg trong một tasse). Cung cấp tối đa hàng ngày được khuyến nghị là 300mg đối với một phụ nữ và 400 g đối với một người đàn ông.
Từ vài năm nay, ” le petit noir” gây sự quan tâm của các nhà khoa học trong những nghiên cứu của họ về những bệnh thoái hóa thần kinh (Alzheimer, Parkinson) và những ung thư. Những công trình nghiên cứu thông kê đã cho thấy rằng nguy cơ mắc phải bệnh Alzheimer thấp hơn đối với những người tiêu thụ từ 3 đến 5 tách cà phê mỗi ngày (hoặc nhiều hơn những cung cấp được khuyến nghị), nhưng ta chưa biết giải thích những lý do. Những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đang được tiến hành. Ở những bệnh nhân bị bệnh Parkinson, caféine tăng cường những tác dụng của L-dopa, một acide aminé tiền thân của dopamine được sử dụng trong những điều trị mặc dầu không cải thiện những triệu chứng. Sau cùng, những công trình nghiên cứu dịch tễ học gợi ý một tác dụng bảo vệ của cà phê chống lại vài ung thư (đại tràng, trực tràng, gan, da, vú, tiền liệt tuyến). Trong trà, nước hãm (infusion) của lá của cây trà (théier) (Camellia sinensis), tác dụng bảo vệ của một polyphénol (épigallocatéchine gallate) đã được chứng minh chống lại ung thư… nhưng chỉ trên những mô hình động vật và tế bào và với những liều cao hơn nhiều sự tiêu thụ ở người ! Tuy nhiên chúng ta hãy ghi nhận rằng trà xanh từ năm 1996 được đưa vào trong pharmacopée của Pháp, tuyển tập chính thức các loại thuốc. Sự sử dụng của trà xanh được chỉ định để chống lại sự mệt mỏi và với tư cách chất hỗ trợ trong những chế độ làm gầy (régime amaigrissant) do tác dụng lợi tiểu của nó. Tuy nhiên tốt nhất là tránh tiêu thụ cà phê trong các bữa ăn, bởi vì những flavonoides có rất nhiều trong cà phê cản trở sự hấp thụ của sắt trong thức ăn. Cũng lưu ý đừng uống cà phê quá nóng : mỗi nước uống sẽ làm gia tăng nguy cơ ung thư xoang miệng, thanh quản, hầu và thực quản. Một sự thận trọng cũng đúng với cà phê.
MẬT : MỘT CHẤT SÁT TRÙNG THIÊN NHIÊN
Hơn 100 loài cây có hoa (plantes à fleurs) trên thế giới được hút thức ăn bởi các con ong để sinh ra mật. Theo truyền thống được sử dụng như là chất tăng lực (fortifiant) và để chống lại đau họng, mật bắt đầu được các nhà nghiên cứu quan tâm trở lại do những tính chất sát khuẩn của nó. Để được bảo tồn, mật hoa (nectar) của các cây, chứa đến 50% nước, làm bớt ẩm bởi các con ong, hạ dung lượng nước xuống còn 17%. Độ ẩm này, liên kết với một nồng độ đường cao (95-99% chất khô) và một pH acide (trung bình 3,9) ngăn cản sự tăng trưởng của các vi khuẩn. Tính chất sát trùng này cũng được liên kết với sự hiện diện của những protéine (inhibine) có tác dụng làm ngừng sự tăng sinh của các vi khuẩn và kích hoạt khả năng phòng vệ tăng cường tính miễn dịch. Trong y khoa, vậy mật được sử dụng trong điều trị hỗ trợ để chống lại những loét dạ dày, nhưng cũng để tạo điều kiện cho quá trình hóa sẹo của các mô. Mật có thể thay thế đường tinh chế (sucre raffiné) trong nấu ăn và cung cấp muối khoáng.
(SCIENCES ET AVENIR 9/2014)

5/ UNG THƯ BÀNG QUAN : TIẾN BỘ QUA TRỌNG
Kíp nghiên cứu của GS Thomas Powles (khoa ung thư học của Viện Queen Mary, Luân đôn) đã tiến hành một công trình nghiên cứu ở 68 bệnh nhân để đánh giá những tác dụng của một kháng thể, được phát triển chống lại những ung thư bàng quan giai đoạn tiến triển. Loại thuốc thí nghiệm này có tác dụng phong bế một protéine (PD-L1). Protéine này cho phép những tế bào ung thư không thể phát hiện và tấn công được bởi hệ miễn dịch. Trước sự tuyệt vời của các kết quả, giới hữu trách y tế Hoa Kỳ (FDA) đã thuận cho quy chế liệu pháp cách mạng (statut de thérapie révolutionnaire), được hưởng một sự phát triển gia tốc.
(PARIS MATCH 11/12-17/12/2014)

6/ EBOLA, GIẢI MÃ MỘT VIRUS BÍ ẨN
Trong khi dịch bệnh bùng phát ở châu Phi, những trường hợp đầu tiên của những người bị nhiễm xuất hiện ở châu Âu và Hoa Kỳ. Với nguy cơ gây nên psychose. Những điều trị hiện có là gì ? Virus có biến dị hay không ? Tại sao một dịch bệnh độc lực như thế ? Những yếu tố trả lời.
” Với dịch bệnh Ebola này, tôi có cảm tưởng ở vào đầu những năm 1980 khi sida mới xuất hiện. Hai bệnh không có gì liên hệ nhưng bối cảnh thì tương tự : không có thuốc điều trị, không có vaccin phòng ngừa, một sự không chắc chắn về cách lây nhiễm, cũng như tiến triển của dịch bệnh…” Lời thú nhận này của GS Jean- François Delfraissy, coordinateur của Viện vi trùng học và những bệnh truyền nhiễm (Immi : Institut de microbiologie et maladies infectieuses), Paris và của Inserm, có một âm vang đặc biệt vào lúc ta tính được gần 5000 trường hợp tử vong ở Tây Phi và vài nạn nhân ở Hoa Kỳ và ở châu Âu. Tuy vậy lịch sử của virus này chỉ bắt đầu vào tháng 12 năm 2013, thời điểm của những lây nhiễm đầu tiên ở Guinée. Thế mà gần hơn 4 thập niên virus đã gây những trận bộc phát dịch chết người trên lục địa châu Phi, trong sự thờ ơ gần như khắp nơi…cho đến khi những trường hợp đầu tiên bộc phát ở châu Âu và Hoa Kỳ. Thình lình khẩn trương phải dựng lên bức chân dung của virus bí ẩn này.
EBOLA LÀ GÌ ?
Virus Ebola với dạng vẻ bên ngoài của ver filamenteux nên được xếp loại trong họ của các filovirus. Cũng thuộc vào họ này là virus Marburg, nguyên nhân của sốt xuất huyết cùng tên. Ebola và Marburg là những virus à ARN và có cùng một tổ tiên chung vào cuối thời kỳ glaciation sau cùng, cách nay 10.000 năm. Vài loại dơi ăn trái cây (chauvre-souris frugivores) được nghi ngờ là những ổ chứa tự nhiên của những vi sinh vật này.
5 loài loại Ebolavirus đã được khám phá. Loài hoành hành ở Tây Phi từ gần một năm nay thuộc loài Zaire, được nhận diện ở nước này vào năm 1976. Cùng năm, loài Soudan được nhận diện ở Soudan. Hai souche này chịu trách nhiệm phần lớn những trường hợp gây chết người một cách đều đặn ở lục địa châu phi bởi những “bộc phát dịch” (flambée épidémique) từ năm 1976. 3 loài khác hiện hữu : Ebolavirus Foret de Tai, được nhận diện ở Côte d’Ivoire (1994) ; Ebolavirus Bundibugyo được nhận diện ở Ouganda (2008) ; Ebolavirus Reston, mà lịch sử rất độc đáo. Thật vậy, loài Ebolavirus Reston này là loài duy nhất được nhận diện ngoài châu Phi và đã được khám phá vào năm 1989 trong số một quần thể macaque trong những laboratoire pharmaceutique ở Reston (Hoa Kỳ). Trái với những loài Ebola khác, Ebolavirus Reston có thể truyền bằng đường không khí. May mắn thay, Reston không gây bệnh cho người.
ĐÓ CÓ PHẢI LÀ VIRUS NGUY HIỂM NHẤT TRONG SỐ CÁC VIRUS ?
Trên phương diện tỷ lệ tử vong, không thể chối cãi loài Ebola Zaire đang tàn phá Tây phi là một trong những tác nhân sinh bệnh độc lực nhất, vì lẽ nó đã giết chết đến 90% những người bị nhiễm trùng trong những trận dịch trước đây. Tuy nhiên Ebola có hai điểm yếu. Trước hết là cách lan truyền của nó : nó chỉ được truyền bởi tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với những chất tiết sinh học nhiễm trùng (sécrétions biologiques infectieuses) chứ không phải bằng đường không khí như bệnh cúm. Một người bị bệnh Ebola trung bình sẽ lây nhiễm cho hai người, trong khi một người khác bị bệnh sởi sẽ lấy nhiễm cho 18 người. Điểm yếu thứ hai của Ebola, đó là thời gian tiềm phục ngắn (tối đa từ hai ngày đến 4 tuần), như thế tạo điều kiện cho sự phát hiện những trường hợp. Ngược hẳn với bệnh sida, có thể vẫn tiềm tàng nhiều năm trong cơ thể của một người bị bệnh, trong suốt thời gian này virus sida được truyền một cách im lặng từ người này qua người khác. Sau cùng Ebola chỉ trở nên lây nhiễm khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên. Tuy nhiên tinh dịch có thể vẫn gây nhiễm 7 tuần sau khi bình phục ở một người bệnh được chữa lành.
NHỮNG ĐIỀU TRỊ HIỆN CÓ ?
Đó là một trong những yếu tố gây vấn đề nhất : không có thuốc hay vaccin được hợp thức hóa, mà tính hiệu quả và sự an toàn đáng lý ra phải được kiểm tra. Hiện nay, chỉ có một xử trí nhanh và những điều trị hỗ trợ nhằm bù nước bệnh nhân, có thể cho cơ thể có thời gian để chế tạo những kháng thể gây miễn dịch chống lại virus. Với những điều trị hiệu năng, Inserm đánh giá rằng tỷ lệ tử vong của virus sẽ được hạ xuống còn 20%.
Cả một loạt những điều trị thí nghiệm đang được phát triển và không được trắc nghiệm trên người đã được đề nghị. Đầu tháng chín, OMS đã liệt kê 8 loại thuốc điều trị mà sự nghiên cứu được tăng cường. Những sản phẩm được cho phép ” à titre compassionnel” bởi các nước bị dịch bệnh và bởi OMS. Trong số những điều trị này, ZMapp, một cocktail gồm 3 kháng thể ” đơn dòng” (anticorps monoclonaux) thí nghiệm mà tính hiệu quả vẫn không được đánh giá đúng. Những loại thuốc này, mà sự sản xuất phức tạp, hết dự trữ sau khi gởi cho châu Phi khoảng 10.000 liều có sẵn. Ở Pháp, một y tá của Médecins sans frontières được hồi hương đã nhận hai trong số 7 điều trị khác. Loại đầu tiên vẫn còn bí mật..Loại thứ hai là một thuốc chống cúm Nhật bản được chuyển hướng, favipiravir, mà những kết quả dường như thuyết phục. Cô y tá người Pháp dẫu sao được chữa lành và xuất viện. Nhiều huyết thanh, những điều trị dựa trên máu của những người bệnh được chữa lành, cũng đang được nghiên cứu nhưng logistique cần thiết cho sự sử dụng chúng (thu, phát và an toàn của máu) là phức tạp. Không được bảo đảm về tính hiệu quả.
Còn về các vaccin phòng ngừa, nhiều ứng viên đang được thử nghiệm. Nga đã hứa 3 vaccin từ nầy đến 6 tháng nữa. Và hai vaccin khác, được chọn lọc bởi OMS, đang được nghiên cứu. Vaccin hứa hẹn nhất là ChAd3, được phát triển từ virus của bệnh cúm ở chimpazé. Hiệu quả trên khỉ, vaccin này còn phải được chứng mình trên người. Chiến lược vaccin thứ hai : chiến lược dựa trên sự sử dụng một virus của một bệnh được gọi là stomatite vésiculaire (VSV). Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên trên 40 người tình nguyện lành mạnh đã bắt đầu ở Mali vào tháng 10.
TẠI SAO MỘT TRẬN DỊCH VỚI MỘT QUY MÔ NHƯ VẬY.
Khoảng 30 con boc phát Ebola đã xảy ra ở Phi Châu từ lúc khám phá virus vào năm 1976. Giữa tháng 10, hơn 8000 người đã bị nhiễm ở Tây Phi, 4 lần nhiều hơn so với những trận dịch trước đây. Quy mô chưa từng có này được giải thích bởi khung cảnh của nơi xuất hiện nó : gần Guéckédou, ở đông nam của những biên giới với Liberia và Sierra Leone. Một vùng rất gần với những vùng có người ở, như GS Arnaud Fontanet, trưởng đơn vị dịch tễ học của những bệnh mới phát khởi của Viện Pasteur Paris, đã giải thích như vậy. ” Lần đầu tiên, bệnh được tìm thấy ở vùng đô thị, ở Conakry, và điều này sau đó được lập lại ở Sierra Leone và ở Liberia “, ông đã xác định như vậy.
Sự suy sút xã hội và kinh tế của ba nước liên hệ, Liberia và Sierra Leone vừa mới ra khỏi những năm nội chiến, cũng đã làm khuếch đại hiện tượng : những ty y tế bị bỏ hoang, niềm tin giữa chính quyền và dân chúng gần như không có, và các thành phố với sự tăng trưởng nhanh đã tạo điều kiện cho sự chung đụng của các cư dân. Những bidonville de Monrovia, thủ đô của Liberia, đã tạo nên một địa bàn lý tưởng cho sự làn tràn của virus.
(SCIENCES ET AVENIR 11/2014)

7/ BỆNH LOÃNG XƯƠNG : TIÊN ĐOÁN TỐT HƠN NGUY CƠ GÃY XƯƠNG Ở THỜI KỲ MÃN KINH.
Từ nay có một trắc nghiệm dễ thực hiện để tiên đoán sớm, và một cách đáng tin cậy, nguy cơ gãy cổ xương đùi ở những phụ nữ mãn kinh : khả năng đứng trên một chân trong hơn 10 giây và khả năng ngồi xổm để đụng đất. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu được trình bày nhân hội nghị vừa qua của American Society for Bone and Mineral Research ở Houston (Texas). Gần 2800 phụ nữ tuổi trung bình 59 đã được theo dõi trong hơn 13 năm. So với nhóm quy chiếu (groupe de référence) không bị suy chức năng (déclin fonctionnel) và như thế có khả năng thực hiện trắc nghiệm (60% những phụ nữ tham gia công trình), nguy cơ gãy cổ xuống đùi 8 lần cao hơn ở những phụ nữ không thể đứng trên một chân trong 10 giây, và 5 lần cao hơn ở những phụ nữ không thể ngồi xổm. Một trắc nghiệm thứ ba, về sức lực cầm nắm (force de préhension), cũng là một chỉ dấu tốt. Nếu lực cầm nắm bị giảm nhiều, nguy cơ gãy cổ xuống đùi gia tăng 4 lần. Xác suất của một tử vong liên kết với một gãy xương gia tăng 50% trong trường hợp thất bại 3 trắc nghiệm nói trên.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2014)

8/ ALZHEIMER : CHẨN ĐOÁN ĐƯỢC THỰC HIỆN CHÍNH XÁC HƠN.
Những tiến bộ mới đây về những chất chỉ dấu sinh học (marqueur biologique) cho phép một sự xác định bệnh tinh tế hơn.
NEUROLOGIE. Bệnh Alzheimer gây bệnh cho 850.000 người ở Pháp, và hẳn còn tiến triển trong những năm tới. Mặc dầu sự khám phá những điều trị có hiệu quả được quảng bá rộng rãi, nhưng việc xác lập một chẩn đoán đáng tin cậy và chính xác của căn bệnh thoái hóa thần kinh (maladie neuro-dégénérative) này là một điều điều kiện tiên quyết, và dieu này từ lâu là một thách thức thực sự.
Thật vậy khó tìm ra những điều trị nếu không có những chẩn đoán. Và trên bình diện đạo đức, thật tế nhị khi có nguy cơ lầm chẩn đoán hay loai bỏ một bệnh lý tiến triển trầm trọng và không chữa được. Nhưng những tiến bộ mới đây về những chất chỉ dấu sinh học đặc hiệu đối với bệnh Alzheimer đã cho phép làm cho tinh tế hơn những yếu tố chẩn đoán, vừa được trình bày trong tạp chí The Lancet Neurology.
ĐÁNH GIÁ LÂM SÀNG
Với sự cộng tác của khoảng ba chục các chuyên gia châu Âu, GS Bruno Dubois, giám đốc của Centre des maladies cognitives et comportementales (Pitié-Salpêtrière, Paris), lập một một bức tranh rõ ràng và ngắn gọn của căn bệnh, dựa trên những tiến bộ mới đây của nghiên cứu y khoa. ” Công trình này bổ sung cho hai công trình nghiên cứu của nhóm công tác quốc tế này, được xuất bản vào năm 2007 và 2010. Nó mang lại một đảm bảo cho các thầy thuốc thực hành và cho phép xác lập một chẩn đoán sớm, trước khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên “, thầy thuốc chuyên thần kinh đã tóm lược như vậy.
Sự hình thức hóa đầu tiên của những dấu hiệu của bệnh đã có từ năm 1984, định nghĩa được sử dụng cho đến cuối những năm 2000 để nhận diện những bệnh nhân tham gia vào những thử nghiệm lâm sàng. Thế mà sự thiếu chính xác của các tiêu chuẩn đã khiến đưa vào trong những thử nghiệm lâm sàng đến 36% những bệnh nhân không bị bệnh Alzheimer, một vấn đề thật sự khi xác lập tính hiệu quả của một loại thuốc, Bruno Dubois đã nhắc lại như vậy.
Nhóm công tác châu Âu dành một vai trò nổi bật cho sự đánh giá những triệu chứng, mấu chốt của chẩn đoán. Thể “điển hình” của bệnh Alzheimer, liên quan đến 86% đến 94% những người bệnh, được đặc trưng bởi những rối loạn trí nhớ mới đây (không thể nhớ lại một danh sách những đồ vật đã được học một ít lâu trước đó). Nhưng cũng có khi vài người bệnh (6% đến 14% những bệnh nhân còn lại) không có một sự mất nhớ (amnésie) nào. Những thể không điển hình này có thể được thể hiện bởi những rối loạn ngôn ngữ (khó nhớ lại vài chữ), những rối loạn thị giác (không đánh giá đúng những khoảng cách, không đọc được) hay của hành vi.
Trên cơ sở của những triệu chứng này, chẩn đoán có thể, trong thì hai, được xác nhận bởi những đo lường sinh học. Hai chất chỉ dấu chẩn đoán (marqueur de diagnostic) đã được chấp nhận bởi các chuyên gia châu Âu : nồng độ của 3 protéine (T-Tau, P-tau và beta-amyloide) trong dịch não tủy được lấy bằng chọc dò tủy sống, và sự đánh giá những peptides amyloides, sau khi tiêm một traceur để phát hiện chúng nhờ scintigraphie (TEP). Những chất chỉ dấu này cũng cho phép, khi không có những triệu chứng, nhận diện những người chắc chắn sẽ phát triển bệnh Alzheimer, những người có nguy cơ bị bệnh, những người sẽ không phát triển bệnh. ” Nhìn toàn thể, ta nhận thấy rằng những tiêu chuẩn này tinh tế và thích đáng hơn những tiêu chuẩn trước “, BS Mai Panchal, giám đốc khoa học của Ligue européenne contre la maladie d’Alzheimer đã nói như vậy.
XÁC ĐỊNH MỘT PROTOCOL.
Định nghĩa tinh tế này của bệnh trước hết nhằm tối ưu hóa sự nghiên cứu, bằng cách đảm bảo một sự chọn lọc những người tham gia vào những thực nghiệm lâm sàng. Tuy nhiên những tiêu chuẩn đã được biết và được áp dụng ở những mức độ khác nhau trong khoảng 30 chục trung tâm quy chiếu (centre de référence) ở Pháp, BS Marie-Anne Mackowiak, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc CHRU de Lille đã nhắc lại như vậy. ” Chúng tôi sử dụng chúng đối với những trường hợp không điển hình hay những người dưới 65 tuổi “, vị thầy thuốc chuyên khoa đã giải thích như vậy.
Tuy vậy ta vẫn còn lâu mới thực hiện thăm dò một cách thường quy. GS Dubois nhắc lại sự cần thiết tiếp tục những nghiên cứu, nhất là để xác định một protocole de référence để đo nồng độ protéine phát xuất từ chọc dò tủy sống, với những kết quả còn có thể thay đổi. Còn chụp hình ảnh TEP, nó vẫn được dành cho những protocole thí nghiệm.
(LE FIGARO 2/7/2014)

9/ MỘT TRƯỜNG HỢP GHÉP MANG LẠI HY VỌNG TRONG DMLA.
Một implant de tissu rétinien đã được thực hiện từ iPS, những tế bào gốc đa năng nhân tạo (cellules souches pluripotentes induites). Một première mondiale.
OPHTALMOLOGIE. Một phụ nữ Nhật 70 tuổi bị bệnh thoái hóa điểm vàng do lớn tuổi (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’gâe), một bệnh phá hủy võng mạc, đã nhận, vào ngày 12 tháng chín 2014, một mẫu ghép mô võng mạc được chế tạo từ những tế bào gốc đa năng nhân tạo (iPS). Đó là một kỳ công đầu tiên trên thế giới. Mặc dầu còn quá sớm để đánh giá kết quả, nhưng bệnh nhân đã tuyên bố vào ngày hôm sau sau khi được ghép rằng thị giác của bà “sáng” hơn. Những iPS là những tế bào gốc thu được từ những tế bào trưởng thành biệt hóa (cellules adultes différenciées), ở đây từ da của bệnh nhân, rồi được tái lập chương trình (reprogrammé) thành những tế bào võng mạc. Kíp được lãnh đạo bởi Yasuo Kurimoto, thuộc Kobe City Medical Center General Hospital, đã cấy (implanter) một lá nhỏ (feuillet) biểu mô võng mạc, với kích thước 1,3 trên 3 mm trong mắt của bệnh nhân.
” Kíp nghiên cứu tuyệt vời này đã thực hiện điều mà chúng tôi gọi là ” une preuve de concept”, Marc Peschanski, giám đốc khoa học của I-Stem au génopole d’Evry (Essonne) đã bình luận như vậy. Chúng tôi chờ đợi những kết quả trong hai năm nữa.” Tuy nhiên một thành công như thế khó có thể áp dụng cho số lượng bệnh nhân lớn hơn. ” Vì phương thức không thể công nghiệp hóa, nên chúng ta sẽ đứng trước một vấn đề đạo đức : chúng ta sẽ có điều trị nhưng không có phương tiện áp dụng nó.”
(SCIENCES ET AVENIR 11/2014)

10/ HEN PHẾ QUẢN CŨNG LÀ MỘT BỆNH THẦN KINH.
Trong khi bệnh hen phế quan trước hết được xem như làm một bệnh viêm mãn tính của thành của các lá phổi, các nhà nghiên cứu của Viện y khoa Howard Hughes (Salt Lake City, Hoa Kỳ) hôm nay gợi ý rằng bệnh này cũng có một thành phản thần kinh mạnh. Bằng cớ : mặc dầu không có một hiện tượng viêm nào, sự kích hoạt vài tế bào thần kinh làm phát khởi, ở những con chuột, một sự tăng hoạt của các đường hô hấp. Vậy hệ thần kinh có thể là nguyên nhân độc nhất của phản ứng hen phế quản. Điều này có thể giải thích sự thành công không đều của những điều trị hiện nay, khi được tập trung vào quá trình viêm. Khám phá này mở ra một mặt trận điều trị mới, lần này nhằm vào những dây thần kinh. Các nhà nghiên cứu đã có một hướng nghiên cứu : ” Trừ khử những tế bào TRPV1, phát xuất từ dây thần kinh phế vị (một chùm những dây thần kinh chạy từ não đến hai lá phổi), có thể làm giảm sự tắc của các phế quản, Dimitri Trankner, thuốc Viện Howard Hughes, đã giải thích như vậy. Nhưng phá hủy những neurone này hàm ý những tác dụng phụ, phải được nghiên cứu trước khi thiết đặt một điều trị.”
(SCIENCES ET VIE 10/2014)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(30/12/2014)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to Thời sự y học số 360 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 509 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 515 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  3. Pingback: Thời sự y học số 521 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s