10 điều cần biết về bệnh ALZHEIMER

ALZHEIMERMỗi năm có 225 000 người mắc bệnh mới ở Pháp, căn bệnh Alzheimer đã thực sự bùng nổ. Năm 2010, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết chi phí cho căn bệnh này đã lên đến 446 tỉ euro, tức khoảng 1% GDP thế giới. Căn bệnh này đã trở thành một vấn nạn của nhân loại.

Chuyện gì xảy ra trong não bộ của bệnh nhân?
Theo GS Philippe Amouyel thuộc Viện nghiên cứu Lille, Pháp, cho biết trong não bộ của người mắc phải chứng bệnh này, có một số nơ-ron bị tổn thương và chết đi. Có 2 dạng tổn thương: các mảng amyloid và thoái hóa sợi thần kinh.
Dạng đầu tiên liên quan đến sự tích tụ của một loại protein, peptid â-amyloid, với số lượng rất lớn, trở thành độc hại đối với não bộ. Theo TS Bernard Croisile, kể từ tuổi 75 trở đi, tất cả mọi người đều bắt đầu có biểu hiện về thoái hóa thần kinh. Thế nhưng, các mảng amylois lại đẩy nhanh sự suy thoái thần kinh ở những bệnh nhân bị bệnh Alzheimer. Các nơ-ron bị biến dạng dưới tác động của protein Tau. Khi một số lượng lớn nơ-ron bị phá hủy thì bắt đầu xuất hiện triệu chứng của căn bệnh Alzheimer.

Triệu chứng nào giúp cảnh báo bệnh?
Theo GS Amouyel, kể từ tuổi 40, chúng ta đã bắt đầu bị rối loạn trí nhớ nhưng không đáng lo ngại. Tuy nhiên, rối loạn này ngày càng nặng thì phải đến bác sĩ để khám. Đây có thể là triệu chứng đầu tiên của căn bệnh này. Giai đoạn nhẹ này kéo dài trong khoảng từ 2 đến 4 năm. Bệnh nhân thường ít quan tâm. Đến giai đoạn nặng hơn, bệnh nhân mất đi tính tự chủ khi giao tiếp, lái xe, chạy bộ… họ rất khó thực hiện những công việc sinh hoạt hàng ngày, họ có điện thoại di động trong tay nhưng không biết phải sử dụng ra sao. Giai đoạn này tiến triển trong khoảng từ 2 đến 6 năm. Kế đó, bắt đầu xuất hiện các rối loạn về xử sự. Đó là sự thiếu kềm hảm của thùy trán. Có nghĩa là trước một cái bánh ngon, người bình thường sẽ trông chờ được chia cho một miếng thì người bệnh này sẽ ném đi mà không tiếc nuối. Ngoài ra, người bệnh còn bị ảo giác. Ở giai đoạn trầm trọng, xuất hiện các rối loạn vận động. Các rối loạn này làm mất đi sự cân bằng, bệnh nhân đứng phải dựa vào ghế hoặc phải nằm và nói năng rất khó. Ở giai đoạn cuối, bệnh nhân khó nuốt thức ăn và kết quả là suy kiệt.

Bệnh nhân chết như thế nào?
Theo GS Amouyel, người ta không chết vì bệnh Alzheimer mà chết cùng với bệnh. 2/3 tổng số bệnh nhân sống trên 80 tuổi. Ở độ tuổi này, trung bình họ thường mắc 6 chứng bệnh khác nhau. Thông thường họ thường chết vì bị suy tim hay bệnh phổi.

Căn bệnh hiện diện từ khi nào?
Vào năm 1901, BS Alois Alzheimer khuyến cáo bệnh nhân nữ Auguste Deter nên tắm nước nóng và nghỉ ngơi để chữa trị chứng rối loạn trí nhớ và để làm dịu các cơn co giật. Nhà tâm lý học người Đức này đã bị lôi cuốn bởi tính khí bất thường của bệnh nhân nữ 50 tuổi này. Sau khi Auguste tử vong, vào năm 1906, BS Alois Alzheimer đã khảo sát não bộ của bệnh nhân này và phát hiện một số lượng lớn nơ-ron bị chết đi. Vào năm 1910, lần đầu tiên người ta nói đến “bệnh Alzheimer”.

Alzheimer có lây thành dịch bệnh không?
Theo thống kê, có khoảng 850.000 đến 900.000 người mắc bệnh Alzheimer ở Pháp nhưng chỉ có một nửa là được chẩn đoán. Theo chuyên gia về tâm thần Judes Poirier và Serge Gauthier thuộc Viện đại học McGill, Montreal, Canada, số lượng người mắc bệnh Alzheimer gia tăng tương tự như dịch bệnh trong vòng 40 năm đến. Theo tiên đoán của các nhà nghiên cứu, vào năm 2050, con số mắc bệnh Alzheimer đạt đến 115 triệu người so với 35 triệu hiện nay, trong đó 97% trường hợp được chẩn đoán sau độ tuổi 65 với đỉnh cao giữa 75 và 80 tuổi. 2/3 là phụ nữ bởi vì phụ nữ sống lâu hơn nam giới.

Alzheimer có bị di truyền không?
Hình thái di truyền chỉ liên quan đến 2-3 bệnh nhân trên 100. Các dạng này xảy ra do biến đổi gen được biểu hiện ở nhiễm sắc thể 1, 14 và 21. Một người mang một trong những đột biến gen này chỉ có ½ nguy cơ truyền bệnh cho con cái. Dạng di truyền gia đình này xuất hiện sớm hơn dạng thông thường: khoảng từ 30-40 tuổi. 97% còn lại không bị di truyền.
Vào tháng 10/2013, nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu khoa học Pháp (Inserm) xác định đã phát hiện thêm 11 gen mới. Tóm lại, có tất cả 21 gen đã được phát hiện. Người nào càng có nhiều gen đó thì nguy cơ phát triển bệnh càng tăng lên.

Phải chăng có những yếu tố làm cho dễ mắc bệnh?
Ngoài yếu tố di truyền, chỉ có tuổi tác là yếu tố không còn bàn cải gì nữa. Theo GS Amouyel, những người bị bệnh cao huyết áp hay mạch vành thì nguy cơ bị bệnh Alzheimer cao hơn. Những bất thường về mạch máu não tạo ra một cơ địa dễ bị rối loạn trí nhớ. Các tổn thương não dù nhỏ mà lặp đi lặp lại cũng dễ phát sinh bệnh.
Nhiều công trình nghiên cứu gần đây của GS Bernard Begaud ở Bordeau, Pháp, cho thấy những người sử dụng thuốc an thần (như benzodiazepin) dài ngày cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh này.

Phải chăng bệnh nhân mất hoàn toàn các kỷ niệm của họ?
Theo TS Bernard Croisile, thùy hải mã là cửa ngõ “ký ức hóa” các thông tin mới nhận. Trong căn bệnh Alzheimer, chính tại đây đã xuất hiện những tổn thương đầu tiên. Kết quả: thông tin không vào được trong thùy hải mã để được lưu trữ. Những bệnh nhân bị mất ký ức gần khiến cho họ hay nói lãm nhãm. Căn bệnh này “gậm nhắm” các kỷ niệm gần nhất và đến một giai đoạn tiến triễn hơn thì sẽ làm tiêu luôn các kỷ niệm xa hơn. Chỉ duy nhất cịn tồn tại những kỷ kiệm thời thơ ấu. Vùng bị tổn thương sau cùng là tiểu no: nơi lưu trữ những kư ức về chuỗi hành động, thí dụ như đi xe đập, mặc áo quần, ăn uống hay đi đứng.Kỹ niệm thời thơ ấu bị biến mất sau cùng bởi vì căn bệnh này gây tổn thương trước tiên ở vùng não lưu trữ ký ức gần.

Làm sao để chẩn đoán bệnh?
Hiện nay ở Pháp có khoảng 400 cơ sở tư vấn về trí nhớ mà phần lớn đều nằm trong bệnh viện. Trước tiên, bác sĩ thăm khám về những than phiền của bệnh nhân. Kế đến, cho họ làm một chuỗi các xét nghiệm để đánh giá về sức khỏe thể chất và trí tuệ của bệnh nhân như trí nhớ, cách định hướng… Chủ yếu là để xác định hay loại trừ sự hiện diện của những rối loạn khác ảnh hưởng đến trí nhớ như bệnh trầm cảm, GS Ceccaldi cho biết như vậy. Một lần xét nghiệm máu có thể loại bỏ những nguyên nhân về nội tiết như bệnh về tuyến giáp. Sau cùng, bệnh nhân có thể được cho chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) hay tối thiểu là chụp cắt lớp (CT Scan) sọ não. Ở đây cũng với mục đích loại trừ những nguyên nhân khác. Chụp MRI hay CT cũng có thể phát hiện những vùng não bị teo, đặc biêt là vùng hải mã.Các tét thử nghiệm, nhất là về ký ức ngắn hạn được sử dụng để chẩn đoán bệnh Alzheimer.

Thêm vào đó, bác sĩ có thể chọc dò tủy sống để khảo sát dịch não tủy. Khảo sát này có thể phát hiện những bất thường trong định lượng protein. Thông thường là 2 tháng để có được chẩn đoán xác định, tối đa là 6 tháng đối với những trường hợp phức tạp.

Có thể phòng ngừa bệnh được không?
Theo GS Jean-François Dartigues cho biết qua các công trình nghiên cứu trước đây có thể làm giảm nguy cơ phát triển bệnh. Về mặt dinh dưỡng, một công trình nghiên cứu vào năm 2008 được công bố trên tạp chí “British Medical Journal” cho thấy chế độ ăn theo kiểu Địa Trung Hải có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer đến 13%. Một số yếu tố khác cũng có thể làm chậm sự phát triển bệnh như các hoạt động về trí não bao gồm đọc sách, đánh cờ, chơi bài, không xem TV… đi du lịch hay làm vườn cũng rất tốt. Giao tiếp xã hội cũng rất quan trọng như thăm viếng bạn bè, đi ăn nhà hàng cùng với gia đình, chơi thể thao, đi bộ, bơi lội… Cuối cùng là uống một ít rượu vang vì rượu vang có tính năng bảo vệ tim mạch..“Nghệ thuật liệu pháp” được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer ở một Trung tâm chữa bệnh tại Pháp.

Khi đã có biểu hiện triệu chứng của bệnh thì cần điều trị thuốc để làm giảm các rối loạn về trí nhớ hay rối loạn hành vi. Theo GS Amouyel, chỉ có thể làm giảm các triệu chứng ban đầu chứ không thể ngăn chận bệnh được. Một vài loại thuốc tác dụng trên lượng acetylcholin, đây là chất trung gian thần kinh can thiệp vào “kho lưu trữ” ký ức và luyện tập.
Ở giai đoạn tiến triển, liệu pháp chữa trị thường nhắm vào hệ glutamatergic, giúp cải thiện khả năng tư duy và làm giảm sự bồn chồn của bệnh nhân. Sau cùng, thuốc dưỡng thần có thể giúp ích cho bệnh nhân. Thí dụ thuốc chống trầm cảm có thể làm giảm tính vô cảm và sự kích động của bệnh nhân.

(Theo Ça m’intéresse, 01/2014)
BS NGUYỄN VĂN THÔNG

Bài này đã được đăng trong Khoa học ngày nay. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s