Thời sự y học số 359 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ BÁCH NIÊN VÀ SỨC KHOẺ TỐT : ĐIỀU ĐÓ ĐƯỢC CHUẨN BỊ RẤT SỚMtsyh359
Số những người thọ 100 tuổi hoặc hơn sẽ là 200.000 vào năm 2060.
GERIATRIE. Khi ta hỏi họ, gần 1/4 những người Pháp nghĩ là có khả năng trở bên những thọ 100 tuổi. Quá lạc quan ? Dĩ nhiên, bởi vì, trên thực tế, khoảng 200.000 sẽ đạt được điều đó từ nay đến 2060, hoặc chỉ 0,3% dân số ! Dẫu sao đó là nghìn lần nhiều hơn so với sau đệ nhị thế chiến, lúc đó chỉ có 200 bách niên.
” Những người thọ trăm tuổi nhiều hơn (số lượng tăng gấp đôi mỗi 10 năm), và trong số họ, ta bắt đầu đếm những “siêu bách niên” (super-centenaire), nghĩa là những người đã đạt đến tuổi 105.”, BS Olivier de Ladoucette, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần và lão khoa, tác giả của Le Nouveau Guide de bien vieillir và chủ tịch của Fondation pour la recherche sur Alzheimer, đã xác nhận như vậy.
Nếu ta chỉ tính một người đàn ông thọ trăm tuổi đối với 6 người đàn bà bách niên, chính người đàn ông thọ trăm tuổi có xác suất cao nhất thoát khỏi tình trạng phụ thuộc (dépendance). Quá mức 100 tuổi là một mốc đầu tiên. Là một người thọ trăm tuổi và có sức khỏe tốt là một chuyện khác. ” Một mặt, có những người bách niên phụ thuộc (centenaire dépendant), không thể tự quản lý một mình, phải ở trong một cơ sở chuyên môn và, mặt khác, có những người bách niên tự trị (centenaire autonome), có ít hay nhiều những vấn đề sức khỏe không quan trọng liên quan với sự lão hóa bình thường, nhưng không ngăn cản họ sống bình thường “, GS Thomas Vogel, phó chủ nhiệm của pôle de gériatrie của các Bệnh viện đại học Strasbourg, đã xác nhận như vậy.
Điều chứng thực đầu tiên : những nguyên nhân tử vong ở những người dưới 100 tuổi không giống với những người ở tuổi rất già. Để đi đến kết luận này, một kíp của King’s College de Londres đã quan tâm sát những nguyên nhân tử vong của các người bách niên và kết luận của công trình nghiên cứu được công bố vào tháng sáu 2013 là, ở lứa tuổi này, một nhiễm trùng phổi xảy ra trong 20% các trường hợp, so với chỉ 8,6% đối với những bệnh tim mạch và 4,4% đối với những ung thư. Ở những người thọ 80 tuổi (octogénaire), chính là điều ngược lại : hai nguyên nhân cuối rõ rệt đứng hàng đầu những nguyên nhân tử vong.” Hai nguyên nhân gây tử vong sớm này, vì rất gia tăng trong trường hợp nghiện thuốc lá hay lạm dụng khác, nên không có gì gây ngạc nhiên khi những người bách niên có sức khoẻ tốt (centenaire en bonne santé) có đặc điểm là không có những thái quá trong cuộc sống của họ. Họ đã rất ít hút thuốc và/hoặc bỏ hút rất nhanh. Và họ đã uống rượu một cách có chừng mực “, BS de Ladoucette đã nhấn mạnh như vậy.
Như thế, người bách niên không phải hoàn toàn do di truyền : di truyền chỉ ảnh hưởng khoảng 30 đến 40% trong tuổi thọ. Tỷ lệ còn lại (lối sống, tinh thần…) góp phần hơn 2/3. Là một người bách niên có sức khoẻ tốt, trước hết đó là một vấn đề tinh thần (mental) và một vấn đề lựa chọn những hành vi, nhất là thật ảo tưởng khi nghĩ rằng những “super-vieillard ” (siêu lão) này luôn luôn đã có cơ may : thật vậy, họ đã trải qua hai cuộc đại chiến và đối với nhiều người đã mất người bạn đời và/hoặc con cái của họ và/hoặc nhiều người thân. Vậy cuộc đời của họ đã không phải là một dòng sông êm đềm.
Điều chứng thực khác : những cuộc đời của các người bách niên, khi chúng được đưa ra sàng lọc, không giống nhau. Có bao nhiêu người bách niên thì có bấy nhiêu câu chuyện khác nhau. Những lý lịch của họ thay đổi, ngoại trừ rằng ta không tìm thấy những người bách niên trong số những người bị trầm cảm (personne dépressive). Điều đó được xác nhận bởi một công trình nghiên cứu của đại học Oxford (được công bố trong World Psychiatry vào tháng năm 2104), tiết lộ rằng những người bị bệnh tâm thần có một tuổi thọ bị giảm từ 9 đến 24 năm so với những người khác. Nguyên nhân : nhiều hành vi có nguy cơ (comportement à risque) hơn và một sự điều trị ít hơn những bệnh không phải tâm thần (do lơ là).” Sau cùng, mặc dầu đã có nhiều cố gắng, nhưng không thể đưa ra một portrait-robot của những người bách niên, không có đặc điểm vật lý chung đối với những người bách niên trên thế giới “, BS de Ladoucette đã nói tiếp như vậy.
Đối với GS Vogel, ” bài học mà ta có thể rút ra, đó là những người bách niên này đang sống như họ đã từng luôn sống bởi vì những thái quá và những sai lầm trong vệ sinh đời sống được trả giá ngay trước 100 tuổi “. Ngoài ra, họ có một tinh thần (mental) đặc biệt :” Đó là những người khá lạc quan, luôn luôn sẵn sàng đầu tư vào những dự án mới dù phải làm ngạc nhiên những người than cận. Những người bách niên cũng có một sự tò mò trí tuệ (une curiosité intellectuelle) nào đó đối với thế giới trong đó họ đang sống và ngoài ra họ rất được nhiều người săn sóc. Họ gây nên một sự quyến rũ (fascination) nào đó ! Họ có ý chí muốn làm và sắt đá. Họ cũng có một năng lực lớn nảy lên trở lại (rebondir) và đặc biệt bền dai (résilient), điều này đã giúp họ vượt qua những khó khăn của cuộc sống, cho cảm tưởng là họ được miễn dịch chống lại stress. Nhân cách (personnalité) đặc biệt này chắc chắn góp phần một phần không phải nhỏ vào tuổi thọ của họ. Ta không trở thành những người bách niên một sớm một chiều ! “, BS de Ladoucette đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 22/9/2014)

2/ MỘT HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ VÀO NĂM 100 TUỔI, ĐÓ LÀ LÀ ĐIỀU CỐT TỬ.
Đối với những người đã mất thói quen sử dụng các cơ bắp của mình, khoa của GS Thomas Vogel (phó pôle de gériatrie của các Bệnh viện Đại học Strasbourg) đề nghị một consultation d’aptitude physique pour la santé (CAPS), tiếp theo sau là một programme de reconditionnement spécifique et individualisé, trong 18 buổi, mỗi buổi 30 phút. Chương trình này, được hỗ trợ bởi caisse d’assurance-maladie régionale, là một première ở Pháp.” Nó cho phép gia tăng một cách đáng kể những capacité d’endurance và những capacité maximale d’exercice, giảm sự mệt mỏi và khó thở lúc gắng sức trong cuộc sống hàng ngày. Nó cũng tạo điều kiện cho tình trạng thoải mái (bien-etre), chất lượng sống và niềm tin vào chính mình. Được chỉ định nhất là những người déconditionné về phương diện vật lý vì lớn tuổi, hoặc vì một bệnh mãn tính “, GS Vogel đã giải thích như vậy. ” Với điều kiện những người đã tham gia vào chương trình này phai tiếp tục cố gắng sau đó, (nếu không, những tác dụng tốt sẽ biến mất trong ba tháng), lợi ích là có thật.”
Đó không phải là thực hiện những kỳ công để duy trì thể lực của mình : chỉ sự việc bước 30 phút mỗi ngày và gia tăng từ từ périmètre de marche cũng đủ tạo điều kiện cho sức khỏe ở những người rất cao tuổi. ” Khối cơ (masse musculaire) tan rất nhanh ở lứa tuổi này : chính vì vậy một sự nằm liệt vài ngày, thí dụ trong khung cảnh của một nhập viện, có thể có những hậu quả tai họa. Và điều đó được kiểm chứng trong cuộc sống hàng ngày, bởi vì bất hạnh thay, vẫn còn phải làm nhiều để những lão niên có thể được đứng dậy một cách hệ thống, dĩ nhiên ngoại trừ những chống chỉ định y khoa “, GS Vogel đã lấy làm tiếc như vậy.
GIA TĂNG CÁC CƠ SỞ.
Nếu ta muốn tránh để ngày mai không có một tỷ lệ quá cao những người bách niên ở trong tỉnh trạng phụ thuộc, chính ngay từ bây giờ phải gia tăng cơ sở điều trị tinh trang décondionnement physique. Và điều này, nhất là có rất nhiều những lợi ích được chứng tỏ của sự thực hành một hoạt động đều đặn và được theo dõi về mặt y khoa ở những lão niên : giảm đáng kể tỷ lệ tử vong, giảm nguy cơ bị bệnh đái đường, bilan lipidique được cải thiện, giảm những trị số huyết áp, giảm những tai biến mạch máu não và những hội chứng động mạch vành, giảm gãy xương và té ngã và trong ung thư học, phòng ngừa ung thư vú, đại tràng, và những tại phát của chúng. Tuy nhiên một biện pháp phòng ngừa chậm được thiết đặt, mặc dầu nó có thể tránh những nỗi đau khổ và những tình trạng phụ thuộc vô ích sau đó..
(LE FIGARO 22/9/2014)

3/ “VÀO NĂM 102 TUỔI, TÔI VẪN TÒ MÒ VỀ TIẾN BỘ KỸ THUẬT”
Khi sinh ra đời vào ngày 25 tháng sau năm 1912, không ai sẽ đặt cuộc vào em bé sinh non 1,2 kg này. Thế mà tuy vậy ! 102 năm sau, Camille Lehoux vẫn còn đó. Ở nhà dưỡng lão Panvénan (Bretagne), nơi ông vào để săn sóc vợ ông không còn có thể ở tại nhà, ta có nhiều cơ hội hơn gặp Camille Lehoux trong salle d’animation hay ở phòng ăn hơn là trên giường nằm. Ở tuổi 102, một chiếc gậy trong tay ” để dùng trong trường hợp cần thiết ” và những cặp mắt xanh tươi cười, Camille Lehoux có vẻ 20 tuổi trẻ hơn. Về phương diện vật lý, gương mặt của ông rất ít nhăn. Và về phương diện tinh thần, ông vẫn có óc hơi chế giễu : ” Vì tôi không có tầm vóc lớn lắm, nên tôi chẳng làm ai quan tâm đến toi. Nhưng từ khi tôi vượt quá 100 tuổi, tôi thường xuất hiện trên báo chí địa phương ! ” ông có thói quen bông đùa như vậy.
Trong tình trạng sức khoẻ tổng quát tốt, nhưng không phải là thoát khỏi mọi vấn đề. Đặc biệt ông đã được mổ một phình động mạch chủ lớn (un gros anévrysme de l’aorte) vào năm 94 tuổi, một phẫu thuật không phải là không có nguy cơ. Cuối cùng Camille cho cảm tưởng là cũng như tất cả mọi người, nhưng ông già ít nhanh hơn : với hai mươi hay ba mươi năm chậm lại. Ngoài ra, khi ông đi dạo ở trung tâm thị trấn, nằm sát cạnh nhà dưỡng lão, vài lão niên 70, trẻ hơn ông 30 tuổi, khó nhọc theo kịp nhịp bước của ông. Đối với Camille Lehoux, không còn nghi ngờ gì nữa, chính vélo đã bảo tồn ông. ” Lúc học nghề, tôi dùng vélo của xưởng để giao những phụ tùng kim loại. Rồi vào khoảng năm 18 tuổi, anh bồ của chị tôi đã tặng tôi một xe đạp đua (vélo de ourse) để tôi không mách lại với bố mẹ tôi gì hết ! Tôi sử dụng vélo mỗi ngày để đi làm việc, rồi tôi đã tham dự những rallye và ngoài ra, giải thưởng đầu tiên của tôi là thắng được …một chiếc xe đạp !”.
” ĐIỀU GHI DẤU ẤN NƠI TÔI NHẤT ĐÓ LÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA ĐIỆN”
Chỉ có chiến tranh mới làm gián đoạn những chuyến du hành bằng xe đạp của ông, nhưng ” sau đó tôi đã tiếp tục dùng nó cho đến tuổi 55. Về sau tôi đã bắt đầu đi bộ nhiều hơn “. Không thuộc loại bị căng thẳng mặc dầu cuộc sống đã không dành cho ông những món quà, không nóng nảy (nhưng lại ghét sự giả dối trong chính trị), không bao giờ hút hơn 5 hay 6 điếu thuốc là mỗi ngày, uống rượu vang có mức độ, ăn uống lành mạnh, Camille Lehoux nói là đã có một cuộc sống hạnh phúc, nhờ người vợ của ông rất là vui tính. Hai vợ chồng ông có được một người con gái duy nhất và người con gái này cũng có một người con gái. Với tất cả những người đàn bà này quanh tôi (tôi cũng có một người chị sinh đôi), dĩ nhiên tôi là người theo chủ nghĩa nữ quyền (féministe) ! “. Và đối với Camille Lehoux, chỉ có gia đình là đáng kể : mỗi chủ nhật ông đến nhà con gái, ở đây ngoài những thú tiêu khiển khác, ông say mê chơi ô chữ : ” Còn trò chơi văn hóa tổng quát (jeu de culture générale), không ai địch lại tôi ! Nhưng điều khó khăn nhất, đó là tìm ra người để chơi.” Hôm nay, khi ta hỏi ông điều gì làm ông ngạc nhiên, đó chính là sự kiện người ta không còn khả năng ngạc nhiên nữa, rằng người ta chán chường hay hờ hững với nhiều cài tiến của cuộc sống hàng ngày : ” Điều ghi dấu ấn nhất trong cuộc đời tôi, đó là sự đi đến của điện trong mỗi nhà. Ấn vào một nút và thấy ánh sáng xuất hiện, đó là một điều kỳ diệu ! ” Và Camille Cahoux kết luận : ” Tôi luôn luôn tin vào ngày mai, mặc dầu tôi không nghĩ mình sẽ sống đến 100 tuổi.”
(LE FIGARO 22/9/2014)

4/ VIÊM PHỔI : KẺ THÙ CỦA CÁC BÁCH NIÊN
Nước Pháp sẽ có 200.000 người bách niên vào năm 2060, với những bệnh lý và những thiếu sót (déficience) cần phải thích ứng.
MORTALITE. Ở tuổi 100, không phải ung thư làm lo sợ mà là viêm phổi. Ở lứa tuổi đó, thật vậy những nguyên nhân chính được chứng nhận khi khai tử là tuổi già (vieillesse) hay viêm phổi, trong khi những người trẻ hơn chết nhiều hơn vì ung thư hay những bệnh tim mạch, theo một công trình nghiên cứu của Anh được công bố trong Plos One ngày 3/6/2014.
Để đi đến điều chứng thực này : kip của BS Catherine Evans, của King College de Londres, đã so sánh hơn 35.000 chứng từ khai tử của những người chết giữa năm 2001 và 2010 sau khi đã sống vượt qua một thế kỷ, với những giấy khai tử của những người chết giữa 80 và 99 tuổi. Ở những người bách niên , 1/3 các giấy chứng tử quy cho tuổi già (grand age) hay “fragilité” (tình trạng sức khỏe kém), trong khi ở những người 80 tuổi, chết vì già (mort de viellesse) chỉ được nêu lên trong 0,9% các trường hợp. Một sự khác nhau mà các tác giả giải thích là do khó chẩn đoán nguyên nhân thật sự, nhưng cũng do mối ưu tư của các thầy thuốc muốn nễ nang gia đình người chết.
Có gì bình thường hơn sau hơn một thế kỷ hiện hữu chết vì già ? Nhưng nếu một người bách niên trên ba được xem là chết đẹp (“de sa belle mort”), thì 1/5 (18%) chết vì một viêm phổi (so với 6% những người từ 80 đến 85 tuổi). Ngược lại, chỉ 4% những người bách niên chết vì một ung thư và 9% vì một đột qụy (attaque cérébrale), những bệnh lý này giết chết những người 80 tuổi theo thứ tự 24% và 17%. Những người bách niên cũng ít hơn nhiều chết vì những bệnh động mạch vành hay sa sút trí tuệ (démence) so với những người bát tuần. Công trình nghiên cứu cũng nêu lên rằng phần lớn những người bách niên chết ở bệnh viện, nhất là trong trường hợp viêm phổi.
” Công trình nghiên cứu này nhắc lại cho chúng ta rằng chúng ta phải thích ứng với sự bùng nổ dân số của những người trên 90 tuổi và những đặc thù của họ “, BS Bruno Vellas, coordinateur du gérontopole de Toulouse đã phân tích như vậy. Thật vậy, mỗi năm nước Pháp có thêm 1000 người bách niên. Với nhịp điệu này đến năm 2060 sẽ có 200.000 người thọ 100 tuổi.
” Chúng ta phải tuyệt đối phát hiện những người có sức khỏe yếu ớt (sujets fragiles), giai đoạn đầu của tình trạng phụ thuộc. Tình trạng sức khỏe yếu ớt (fragilité) gia tăng với tuổi tác, nhưng không phải tất cả những người bách niên đều có sức khỏe yếu ớt “, GS Bruno Vella nói tiếp. Mất cân, đi lại chậm chạp (hơn 4 giây để xê dịch 4m), giảm lực cơ, tình trạng giu giú ở nhà (sédentarité) và sự rất dễ mệt là bấy nhiêu những yếu tố báo động. ” Thường có thể can thiệp để đảo ngược tình trạng sức khỏe yếu ớt này “, GS Vellas đã giải thích như vậy.Thể dục, chế độ dinh dưỡng, điều trị một đục thủy tinh thể sẽ cho phép người có sức khỏe yếu ớt cứng cáp hơn.
Phát hiện những người có sức khỏe yếu ớt và điều trị họ càng sớm càng tốt có lẽ sẽ cho phép làm giảm tỷ lệ những viêm phổi ở những người cao tuổi và thích ứng điều trị với mỗi người. ” Chúng ta phải xem lại những cách thức điều trị những bệnh lý tùy theo những typologie của những người già. Trong trường hợp viêm phổi, nếu ta chỉ quan tâm đến giai đoạn cấp tính, mà không xét đến bệnh nhân một cách toàn bộ, dĩ nhiên tiên lượng sẽ không tốt “, GS Gilles Berrut , gérontologue thuộc CHU de Nantes đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 5/6/2014)

5/ SỰ DINH DƯỠNG, YẾU TỐ QUAN TRỌNG CỦA MỘT SỰ LÃO HÓA TỐT
Bắt đầu từ 65 tuổi, chứng béo phì (obésité) và sự gầy gò (maigreur) làm trầm trọng nguy cơ mất khả năng độc lập (perte d’autonomie).
ALIMENTATION. Người ta nói ít về chứng béo phì và sự gầy gò khi chúng xảy ra ở những người trên 75 tuổi. Tuy vậy ở lứa tuổi đó, và ngay cả trước đó, theo những thầy thuốc lão khoa, nằm ở một cực của đường cong trọng lượng (courbe de poids) mở đường cho một sự lão hóa với sức khỏe kém (un vieillissement en mauvaise santé). Những kết quả của một cuộc điều tra ở Pháp ,vừa được công bố bởi Bulletin épidémiologique hebdomadaire (BEH) cho thấy rõ mối liên hệ giua béo phì hay gầy ốm và sự mất khả năng độc lập (perte d’autonomie).” Để cho mình nhiều khả năng nhất già có sức khoẻ tốt (bien viellir), lý tưởng là duy trì chỉ số khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle) trong fourchette centrale (nghĩa là giữa 22 và 25) và tránh những biến thiên trọng lượng “, GS Monique Ferry, nhà nghiên cứu thuoc Inserm và phụ trách về dinh dưỡng ở conseil scientifique của société française để gériatrie,đã nhấn mạnh như vậy.
Thế mà, theo những kết quả của ông trình nghiên cứu này, được thực hiện ở những người trên 75 tuổi, còn sống ở nhà, 1/3 trong số họ ở trong một tình huống ” nguy cơ thể trọng ” (risque pondéral). Gần 15% ở trong tình trạng gầy ốm (maigreur) (những phụ nữ, nhất là những người có một trình độ học vấn và lợi tức cao, bị ảnh hưởng nhiều hơn đàn ông) và gần 15% bị béo phì. Nếu bao gồm tình trạng tăng thể trọng (surpoids), tỷ lệ này đạt đến 50,4%.
Nếu béo phì và sự gầy ốm là có hại ở những người đang lão hóa (personnes veillissantes), đó là bởi vì hai tình trạng này thường che dấu một cách nghịch lý cùng một căn bệnh, sự kém dinh dưỡng (dénutrition) mà hậu quả đầu tiên là sự hủy bỏ những khả năng phòng vệ miễn dịch. ” Cái đầu tiên mà cơ thể ngừng sản xuất khi thiếu protéine, vitamine và các chất khoáng, đó là những kháng nguyên và những kháng thể “, GS Ferry đã giải thích như vậy. Tình trạng thiếu dinh dưỡng chịu trách nhiệm một sự gia tăng những bệnh lý nhiễm trùng mà cơ thể sẽ khó chống lại, vì thiếu “nhiên liệu”. Hiện tượng này đã được minh họa vào năm 2008 bởi một ấn bản khoa học Canada, cho thấy ảnh hưởng âm tính của sự kém dinh dưỡng lên nhưng cơ may sống còn của những bệnh nhân ung thư.
Sự thiếu ăn (carence alimentaire) sau cùng dẫn đến một sự mất khối lượng cơ và sức cơ (sarcopénie), làm trầm trọng nguy cơ mệt, té ngã và cô lập xã hội (isolement social). Nó cũng có thể gây nên một déficit cognitif, như đã được nhấn mạnh bởi một công trình mới đây của Inserm về tuổi thọ của những người Pháp. Do đó tầm quan trọng phòng ngừa suy dinh dưỡng vào lúc mà nó còn có thể đảo ngược.” Một sự mất cân, ngay cả không quan trọng, phải là một dấu hiệu báo động “, BS Isabelle Bourdel-Marchasson, trưởng khoa thuộc bệnh viện Bordeaux đã nói như vậy.
Do đó các thầy thuốc lão khoa khuyến nghị những người già phải tự cân mỗi tháng và khuyên các thầy thuốc gia đình theo dõi đường cong trọng lượng như các thầy thuốc nhi khoa đang làm với các nhũ nhi. Một tang chế, sự biến mất của một con vật nuôi trong nhà, một sự dời chỗ ở hay một bệnh cúm có thể là nguồn gốc của một décrochage. Đôi khi chính những vấn đề do răng hay tinh thần gây nên một sự ăn mất ngon. Theo GS Ferry,” Phải hành động nhanh bởi vì sự gầy ốm là nhanh hơn và quan trọng hơn khi ta càng lớn tuổi, trong khi sự phục hồi trở nên khó hơn “.
Phương trình lại còn tinh tế hơn ở những bệnh nhân béo phì, mà khả năng tự trị đã bị ảnh hưởng bởi những triệu chứng đau khớp và bệnh hư khớp. Thật vậy, cũng như đối với mọi người già, những chế độ ăn uống hạn chế (régime restrictif) bị chống chỉ định đối với họ bởi vì chúng làm hao mòn cả cơ lẫn mỡ. Do đó các thầy thuốc lão khoa cố định lại khung chế độ ăn uống (recadrage alimentaire), bằng cách nhấn mạnh vào sự tôn trọng những mốc dinh dưỡng (repères nutritionnels), ngừng ăn vặt (grignotage) và tầm quan trọng của một hoạt động vật lý hàng ngày.
” Trên thực tế, sự phòng ngừa phải can thiệp ở thượng nguồn : ở tuổi 70, thật là quá muộn để làm ốm “, GS Xavier Hébuterne, trưởng khoa dinh dưỡng lâm sàng thuộc CHU de Nice đã tóm lược như vậy. Cùng lý do, ông loại trừ chirurgie bariatique ở những bệnh nhân trên 65 tuổi.
Khi khám bệnh lão khoa (consultations de gériatrie), ở Hôpital du Mans, BS Emmanuel Alix đã nhận xét rằng ” những người già và những người thân của họ thường có những ý tưởng sai lầm về sự dinh dưỡng, điều này có thể có hại cho họ “. Thí dụ, người ta nghĩ rằng ăn lúc về già ít cần thiết hơn, trong khi trái lại cơ thể có những nhu cầu quan trọng hơn, bởi vì nó có một năng suất ít tốt hơn. Có lẽ chính điều này giải thích rằng chỉ 1/3 những người trên 75 tuổi tiêu thụ 3 sản phẩm sữa được khuyến nghị mỗi ngày, và rằng phần lớn ăn không đủ protéine, nhất là nguồn gốc động vật.
” Phải ghi nhớ rằng vai trò của dinh dưỡng cuối cùng can thiệp khá sớm trong quá trình lão hóa, BS Alix đã nhấn mạnh như vậy. Vậy ngay ở tuổi về hưu, hay vào lúc mãn kinh đối với các phụ nữ, phải cố gắng ăn 3 lần mỗi ngày, không được tự cấm mình vài loại thức ăn nhưng trái lại càng mở rộng catalogue alimentaire càng tốt và vun trồng khoái lạc ăn uống.”
(LE FIGARO 4/11/2013)

6/ TA CÓ THỂ LÀM CHẬM LẠI NHỮNG TÉ NGÃ KHI VỀ GIÀ ?

Professeur Jean Dubousset
Chirurgien orthopédiste
Membre de l’Académie nationale de médecine.

Tư thế đứng (station debout) và bước bằng hai chân (marche bipède) ở người là do một sự thẳng hàng hài hòa xương-khớp, được duy trì trong cử động nhờ một trung tâm chỉ huy thần kinh (commande neurologique) tự động, phản xạ, được điều biến (modulé), tự ý, trái với nhiều động vật có vú khác, thụ đắc được trong thời thơ ấu, và ngoài ra được kèm theo nhiều lần té ngã ở lứa tuổi này. Như vậy sự thăng bằng (équilibre) có thể được định nghĩa như là ” sự vững vàng trong cử động” (la stabilité dans le mouvement) “. Sự đánh mất chức năng này, từ từ hay đột ngột, tình cờ hay do tai nạn, gây nên té ngã, được là dễ bởi quá trình lão hóa.
Sự kéo dài tuổi thọ giải thích sự gia tăng hằng định của số những trường hợp té ngã liên quan với tuổi tác. Ta ước tính rằng, 1/3 những người trên 65 tuổi và một nửa những người trên 80 tuổi, té ngã ít nhất một lần mỗi năm. 90% những trường hợp gãy xương được quan sát ở những lứa tuổi này là do những té ngã : Ở Pháp ta đã liệt kê 70.000 trường hợp gãy cổ xương đùi vào năm 2010, với tỷ lệ tử vong lúc 2 năm là 20 đến 30% ở người già mặc dầu những tiến bộ đáng kể trong gây mê, những tiến bộ của những kỹ thuật ngoại khoa và của lão khoa (gériatrie). Điều này đã gây phí tổn 1 tỷ euro cho tập thể, chưa kể sự xuống cấp của chất lượng sống đối với những người bị liên hệ và bà con thân thuộc. Thế mà, chúng ta đã có thể tiên đoán rằng, trong những xã hội đang hóa già (société vieillissante) của chúng ta, số các trường hợp té ngã sẽ tăng hơn gấp đôi từ nay đến năm 2050. Vậy cần khẩn cấp ý thức rằng đó là một tín hiệu quan trọng của sự mất khả năng độc lập (perte d’autonomie), loan báo một sự té ngã không cứu chữa được. Vì vậy một té ngã không bao giờ được xem nhẹ để tránh những hậu quả về mặt lão hóa sớm (viellissment prématuré) ; trái lại phải học càng sớm càng tốt cách phòng ngừa té ngã để làm chậm lại những dấu hiệu lão hóa khác.
Một té ngã đầu tiên phải khiến đi khám thầy thuốc điều trị của mình. Vị thầy thuốc này sẽ phát biểu về những nguyên nhân của tai nạn và mức độ trầm trọng khả dĩ của chúng. Có thể đó là những yếu tố tình cờ hay ít nhất ngoại tại như một sự chiếu sáng tồi, những tấm thảm trượt, những đôi giày cũ trơn trượt, một sự bố trí vòi tắm không tốt… Chừng bấy nhiêu những cạm bẫy trong môi trường của chúng ta cần phải nhận thức để điều chỉnh chúng, thay đổi những thói quen của chúng ta…Trong lúc chờ đợi nhiều quy hoạch đô thị (aménagement urbain) hơn để phòng ngừa té ngã (những tay vịn, cầu thang cơ học, đất không trơn trượt).
Té ngã cũng có thể được làm dễ bởi một suy cơ quan (défaillance organique). Vậy các thầy thuốc sẽ yêu cầu một thăm dò sâu các chức năng giác quan và cảm giác (thị giác, thính giác, thăng bằng, cảm giác thân thể), của hệ thần kinh, của khung xương, của tim và các mạch máu, của chức năng thận, nhưng cũng của tình trạng dinh dưỡng và nội tiết. Vị thầy thuốc sẽ hỏi về những thói quen ăn uống, sự liên hệ với thuốc lá và rượu, sự tiêu thụ thuốc men. Tùy theo bilan này, ông ta sẽ kê đơn một điều trị hay chỉ cho vài lời khuyên phòng ngừa.
Ngày trước một té ngã đầu tiên, chính nguy cơ phải phòng ngừa, và điều đó ngay lúc 45 tuổi, tuổi bắt đầu lão thị. Vậy ta sẽ bắt đầu một cách tự nhiên bằng một thăm khám thị giác với một thầy huốc nhãn khoa. Vị thầy thuốc này không những sẽ phát hiện một khuyết tật thị giác mà còn phát hiện một căn bệnh, như glaucome, đục thủy tinh thể, thậm chí một DMLA. Đó cũng là lúc trắc nghiệm tình trạng thăng bằng. Vài thủ thuật đơn giản cũng đủ. Bệnh nhân phải có khả năng luân phiên đứng trong 5 giây trên một chân rồi chân kia, với các đôi mắt mở ra. Bệnh nhân cũng được bảo đứng dậy từ một chiếc ghế mà không nhờ đến tay và, nếu bệnh nhân cũng có thể bước được 4 mètre trong 4 giây và trở lại ngồi trong dưới 15 giây, khi đó không cần phải đi khám chuyên khoa TMH, y khoa vật lý, ngoại chỉnh hình hay thần kinh học…
Ta sẽ không bảo giờ nói đủ tầm quan trọng của thực hành một hoạt động vật lý…với điều kiện hoạt động này phải đều đặn, lập lại và kỷ luật và phải chú ý mang giày một cách thích đáng : bước một nửa giờ mỗi ngày, một nửa nhanh và một nửa vừa phải, xe đạp, bơi lội, nhảy múa cá nhân hay tập thể, gymnastique de santé, thí dụ tài chi. Cũng phải học ngã đúng cách và tập luyện đều đặn sự chuyển từ vị trí ngồi dưới đất qua tư thế đứng.
Một vệ sinh đời sống tốt là một vốn chắc chắn chống lại lão hóa. Ăn đúng cách bằng cách chú ý một cung cấp dinh dưỡng đủ mỗi ngày các chất đạm (1g/kg), calcium (1200mg) và vitamine D (800 đến 1200 UI khi càng lúc càng già) ; hạn chế và giảm sự sử dụng liên tiếp những thuốc như những thuốc giảm đau hay những thuốc ngủ và, trong trường hợp bệnh mãn tính, chú ý không thêm vào những thuốc cần thiết, những loại thuốc khác vô ích, thậm chí nguy hiểm. Trong tất cả các trường hợp, hãy ưa thích hơn những thuốc có tác dụng ngắn sau khi đã cân nhắc lợi ích điều trị và nguy cơ những tác dụng phụ. Sau cùng và chủ yếu, hãy duy trì một hoạt động trí tuệ, vui chơi , nghệ thuật hay nghề nghiệp càng lâu càng tốt. Đừng cắt đứt những liên hệ gia đình và xã hội : chính chúng làm anh đứng vững trong cuộc sống.
(LE FIGARO 8/9/2014)

7/ CUỘC CHẠY ĐUA ĐỂ CHẨN ĐOÁN NHANH BỆNH EBOLA ĐANG TIẾN TRIỂN
Một trắc nghiệm của Pháp có khả năng phát hiện virus Ebola trong vòng dưới 15 phút.
DỊCH TỄ HỌC. Những trắc nghiệm nhanh (tests rapides), đó là mong muốn của các kíp y tế ở Guinée, Sierra Leone và Liberia. May mắn thay những trắc nghiệm này sắp sửa xuất hiện. Được hiệu chính bởi CEA (Commissariat à l’énergie atomique) cùng với công ty Vedalab, chuyên môn trong những chẩn đoán nhanh, eZyscreen có khả năng phát hiện virus trong vòng chưa được 1/4 giờ, từ một giọt máu. Và điều này, với một phí tổn 10 euro, hoặc 20 lần ít hơn chẩn đoán hiện nay căn cứ trên một phân tích bởi PCR (réaction en chaine par polymérase), một trắc nghiệm cần nhiều thời gian hơn và cần những máy móc to lớn. ” Điều đó sẽ thay đổi cục diện là không phải có kết quả trong 6 giờ với những trắc nghiệm cổ điển mà chỉ trong 1/4 giờ mà thôi “, GS Jean-François Delfraissy, người phụ trách điều hành chống Ebola ở Pháp mới đây đã giải thích như vậy.” Trắc nghiệm của chúng tôi đã được hợp thức hóa trên những mẫu nghiệm, Laurent Bellanger, thuộc CEA, đã giải thích như vậy. Chúng tôi còn cần phải có được sự hợp thức hóa lâm sàng trên thực địa ở Guinée từ nay đến cuối năm.” Về phía các kíp anglo-saxon (phụ trách Liberia và Sierra Leone), tình hình dường như lờ mờ hơn. Trong khi đó, công ty Hoa Kỳ Corgenix, từ 6 tháng nay, có một trắc nghiệm nhanh tương tự, ” nhưng trắc nghiệm này vẫn luôn luôn không được hợp thức hóa bởi OMS để được trắc nghiệm trên thực địa”, chủ tịch công ty Doug Simpson lấy làm lo sợ. Nec plus ultra của chẩn đoán là một trắc nghiệm có khả năng phát hiện virus trước khi xuất hiện các triệu chứng. Nhưng hiện nay không có một trắc nghiệm nào nhạy cảm như thế.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2014)

8/ NHỮNG NHỮNG TẾ BÀO THẦN KINH XÁC ĐỊNH NƠI CHỐN (NEURONE DE GEOLOCALISATION).
Trong não bộ, có những tế bào rất đặc thù, chỉ dành cho trí nhớ về những nơi chốn (cellules de lieu) và những chặng đường (cellules de grille). Sự khám phá những tế bào thần kinh này đã mang lại giải Nobel về sinh lý học hay y học cho người Mỹ John O’ Keefe (74 tuổi) và những người Na Uy May-Britt Moser (51 tuổi) và Edvard Moser (52 tuổi). Vào năm 1971, John O’Keefe, thuộc University College de Londres, nghiên cứu, với những điện cực, hồi hải mã (hippocampe) (một cấu trúc ở đáy não) của những con chuột xê dịch trong một khoảng được vây quanh (enceine). Ngạc nhiên : vài tế bào thần kinh chỉ được kích hoạt ở một nơi chốn nhất định. Hoạt động của những tế bào này, được gọi là nơi chốn (cellules de lieu), tùy thuộc vào những chỉ số giác quan (indices sensoriles) được phát hiện trên thực địa bởi con chuột khi nó thăm dò nơi chốn lần đầu tiên. Vậy con vật này có khả năng tạo thành ” trí nhớ không gian ” (mémoire spatiale) của một nơi chốn.
Để đánh giá sự hoạt động tốt của trí nhớ không gian này, người Anh Richard Morris, làm việc trong phòng thí nghiệm của O’Keefe, sau đó vào năm 1981 đã hiệu chính một test de navigation, trong đó con chuột bơi trong một chất dịch mờ đục và tìm lại một chỗ đứng (plate-forme) nhờ những mốc thị giác bên ngoài. Vào năm 2005, vợ chồng Moser, cũng làm việc ở cùng phòng thí nghiệm, định rõ cơ chế bằng cách khám phá trong cortex entorhinal (kế cận hồi hải mã), những tế bào khác được kích hoạt tùy theo đoạn đường được thực hiện. Những tê bào này, được gọi là cellules de grille, thiết lập một trame géométrique trong không gian. Chúng cho phép con chuột bị bỏ vào trong một mê cung, tìm lại đúng quãng đường sau khi đã ghi nhớ những hành động của chúng trong không gian và thời gian.
THÍ NGHIỆM ĐƯỢC HỢP THỨC HÓA Ở NGƯỜI VÀO NĂM 2013.
Thế thì ở người ? Vào năm 2013, một thí nghiệm ngoạn mục đã xác nhận tầm quan trọng của các tế bào nơi chốn (cellules de lieu) đối với trí nhớ của chúng ta. Các thầy thuốc ngoại khoa đã có thể ghi hoạt động của chúng ở những bệnh nhân được mổ vì động kinh. Còn hơn thế nữa, những tế bào này được tái kích hoạt chỉ với sự nhớ lại những nơi đã được thăm viếng. Vậy hồi hải mã (hippocampe) đúng là nơi của trí nhớ liên kết với các nơi chốn, trí nhớ giai đoạn (mémoire épisodique) cần thiết cho sự sống còn.
(SCIENCES ET AVENIR 11/2014)

9/ ĐIỀU TRỊ CHỐNG BỆNH ALZHEIMER : TÍNH HIỆU QUẢ TUY TẠM THỜI NHƯNG ĐƯỢC CHỨNG MINH.
BS Bernard Croisile, trưởng khoa tâm lý thần kinh (neuropsychologie) của bệnh viện thần kinh Lyon, tác giả của “Alzheimer. Que savoir ? Que craindre ? Qu’espérer ? “, nhấn mạnh trong cuốn sách của ông về lợi ích của một trị liệu bằng thuốc.
Hỏi : Những biến đổi não nào đưa đến sự xuất hiện của bệnh Alzheimer ?
BS Bernard Croisile : Bệnh lý này là do sự hiện diện của hai protéine phát triển một cách bất thường trong não bộ. Protéine amyloide tích tụ thành các mảng (plaques) giữa các neurone, và độc tính của nó phá hủy dần dần các neurone. Protéine tau, tạo thành những soi than kinh của các neurone, làm tan rã dần dần cấu trúc của chúng và làm biến đổi sự dẫn truyền.
Hỏi : Những triệu chứng nào phải báo động ?
BS Bernard Croisile : Những rối loạn trí nhớ, mặc dầu được đánh giá thấp bởi người bệnh nhưng được phát hiện bởi những người thân cận. Thí dụ, người bệnh quên sau vài phút những điều đã được nói và trong giờ tiếp theo sau đó nhiều lần đặt lại cùng câu hỏi. Bệnh nhân không thể tìm lại đường ở một nơi mặc đầu quen thuộc. Những triệu chứng khác thường kèm theo những dấu hiệu đầu tiên này, như vài rối loạn ngôn ngữ, hành vi…
Hỏi : Làm sao để không lẫn lộn những triệu chứng quên này với những triệu chứng quên, thường xảy ra do lớn tuổi ?
BS Bernard Croisile : Những dấu hiệu thông thường của quá trình lão hóa được nhận thức bởi những người già, nhưng không ảnh hưởng lên khả năng độc lập (autonomie) của họ : không tìm lại một tên riêng, không nhớ là đã đóng cửa hay chưa, hay không nhớ cái đã được đi tìm kiếm trong một căn phòng là những triệu chứng quên thường gặp. Để đảm bảo một chẩn đoán bệnh Alzheimer, ta có thể thực hiện những trắc nghiệm trong “Consultations mémoire”. Sau đó chụp cộng hưởng từ (IRM) cho phép phát hiện một sự teo lại của hồi hải mã (atrophie de l’hippocampe). Trong vài trường hợp không điển hình, chọc dò tủy sống xác nhận chẩn đoán.
Hỏi : Sau khi chẩn đoán đã được thực hiện, những điều trị hiện có là gì ?
BS Bernard Croisile : Chúng phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Ở tất cả các giai đoạn, ta kê đơn các loại thuốc. Khi bệnh Alzheimer nhẹ, ta liên kết với điều trị thuốc một điều trị với orthophoniste và psychologue. Khi bệnh tiến triển hơn, ta đề nghị, ngoài điều trị thuốc, một placement en accueil de jour.
Hỏi : Các thuốc tác dụng như thế nào ?
BS Bernard Croisile : Có 4 loại thuốc. Chúng không chữa lành bệnh, nhưng can thiệp vào các triệu chứng. 3 trong các loại thuốc này tăng cường chức năng của một chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmetteur), quan trọng đối với trí nhớ, acétylcholine. Loại thứ tư làm giảm kích thích của một chất trung gian thần kinh (neuromédiateur), glutamate, chịu trách nhiệm nhiều rối loạn hành vi.
Hỏi : Tính hiệu quả của những thuốc này bị hoài nghi, vì sao ?
BS Bernard Croisile : Tính hiệu quả tuy chỉ tạm thời, nhưng 40% các bệnh nhân có được một sự cải thiện. Ta chứng thực sự biến mất của các ảo giác (hallucinations), một sự giảm rõ rệt tình trạng lo âu và sự tiêu thụ những thuốc chống trầm cảm, sự tái tục một đời sống xã hội. Tùy theo từng cá thể, sự thuyên giảm kéo dài vài năm, đôi khi đến 5 năm.
Hỏi : Tại sao những kết quả này thường bị tranh cãi ?
BS Bernard Croisile : Tôi không hiểu được điều đó, vì lẽ nhiều tài liệu xuất bản đã chứng minh rằng những loại thuốc này mang lại một sự thoải mái thật sự bằng cách cải thiện những triệu chứng. Chúng tôi có nhiều lời chứng của những gia đình quan sát thấy một lợi ích. Tiếng xấu này giải thích tại sao các bệnh nhân đến khám quá muộn và căn bệnh của họ tiến triển nhanh hơn.
Hỏi : Công trình nghiên cứu mới nhất nào đã chứng minh những ưu điểm thật sự của sự điều trị bằng thuốc này ?
BS Bernard Croisile : Năm 2013, một kíp nghiên cứu Ý đã công bố một phân tích méta, tập hợp những kết quả của 40 công trình nghiên cứu quốc tế. 30 liên quan acétylcholine và 6 mémantine, tác dụng chống lại những rối loạn hành vi. Công trình nghiên cứu này đã xác nhận rằng hai họ thuốc này mang lại một cải thiện đáng kể lên những vấn đề nhận thức (problèmes cognitifs), những khó khăn chức năng của cuộc sống hàng ngày và những rối loạn hành vi, đồng thời làm chậm sự xuất hiện của chúng.
Hỏi : Làm sao có thể ngăn ngừa sự thoái hóa não bộ này ?
BS Bernard Croisile : Bằng cách theo một chế độ ăn uống Địa Trung Hải (régime méditerranéen), bằng cách điều trị những yếu tố nguy cơ mạch máu, bằng cách thực hành đều đặn những hoạt động vật lý và tinh thần. Những kết quả của các công trình nghiên cứu, được thực hiện ở Thụy Điển, Anh, Hòa Lan và Hoa Kỳ đã chứng minh tính hiệu quả của những biện pháp phòng ngừa này, được trình bày nhân hội nghị thế giới về bệnh Alzheimer vừa qua.
(PARIS MATCH 9/10-15/10/2014)

10/ DMLA : CHẨN ĐOÁN MỚI ĐỂ ĐIỀU TRỊ SỚM HƠN
GS José-Alain Sahel, trưởng khoa mắt thuộc hôpital des Quinze-Vingts và Fondation Rothschild, Giám đốc của Viện thị giác, giải thích kỹ thuật mới nhất này, cho phép gia tăng những cơ may bảo tồn thị giác.
Hỏi : Định nghĩa của DMLA là gì ?
GS José-Alain Sahel : Căn bệnh này, sự thoái hóa điểm vàng do lớn tuổi (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’age), gây thương tổn trung tâm võng mạc. Mà võng mạc cho phép chúng ta nhận diện những khuôn mặt, đọc, nhìn Tivi… DMLA là do sự lão hóa dần dần của những quang thụ thể (photorécepteurs). Những neurone này có nhiệm vụ nhận ánh sáng và biến đổi nó thành những tín hiệu và những tín hiệu này được truyền lên não. Những quang thụ thể này bị biến thái dần dần với thời gian, và ở hoàng điểm (macula), những mảnh vỡ tích tụ. Nếu chúng vượt qua một ngưỡng nào đó, ta bị bệnh ; 25% những người trên 75 tuổi bị bệnh DMLA.
Hỏi : Ngoài tuổi tác, có những yếu tố tạo thuận không ?
GS José-Alain Sahel : Có những yếu tố bẩm sinh : nhiều gène đã được nhận diện. Và những gène khác bị mắc phải, trong đó một sự tiếp xúc rất mạnh ánh sáng (nhất là ánh sáng xanh), thuốc lá..
Hỏi : Ông hãy mô tả cho chúng tôi những dạng khác nhau của DMLA
GS José-Alain Sahel : Thể sớm (forme précoce) là thể trong đó những mảnh vụn tích tụ dưới võng mạc, và thể ướt (forme humide), là thể trong đó một sự tăng sinh của những huyết quản bất thường có khả năng gây nên phù hay xuất huyết. Cũng có thể khô (forme sèche), tương ứng với một sự teo lại của các quang thụ thể. Chẩn đoán thường nhất được thực hiện khi bị giảm thị lực hay khi biến dạng những hình ảnh : những đường thẳng có vẻ bị nhấp nhô.
Hỏi : Thăm khám chuẩn là gì ?
GS José-Alain Sahel : Thăm khám đáy mắt được thực hiện ở thầy thuốc nhãn khoa. Trong trường hợp có những dấu hiệu nghi ngờ, ta bổ sung bằng một thăm dò khác : một OCT (tomographie par cohérence optique). Nó cho phép thấy những mảnh vỡ, một phù nề, những tân huyết quản. Thăm dò OCT này cần thiết để chỉ định một điều trị và theo dõi nó. Điều quan trọng là phát hiện càng sớm càng tốt sự xuất hiện của một DMLA : chẩn đoán càng sớm thì cơ may làm chậm lại tiến triển của bệnh càng lớn.
Hỏi : Tùy theo những thể khác nhau, những điều trị hiện nay là gì ?
GS José-Alain Sahel : Đối với những bệnh nhân bị những thể sớm (forme précoce), ta cho những bổ sung vitamine, những antioxydant và những lời khuyên vệ sinh đời sống. Sự điều trị này cho phép làm chậm lại 20% tiến triển của DMLA. Đối với những bệnh nhân bị thể ướt (forme humide), ta cho một điều trị dựa trên những kháng thể : những anti-VEGF phong bế sự tăng trưởng của các huyết quản và làm giảm phù nề. Nếu bệnh được chẩn đoán ở một giai đoạn sớm, điều trị này ổn định bệnh trong 90% các trường hợp. Đối với thể khô (forme sèche), ta vẫn còn ở giai đoạn thử nghiệm. Ta khuyên những buổi phục hồi để sử dụng tốt hơn thị giác ngoại biên, vẫn còn được gìn giữ.
Hỏi : Nguyên tắc của máy mới cho phép nhìn thấy sớm hơn sự tạo thành của một DMLA ?
GS José-Alain Sahel : Đó là một phương thức phát xuất từ một kỹ thuật quang học được phát triển bởi các nhà thiên văn học để các kính viễn vọng có thể phát hiện những vì sao và những hành tinh. Nguyên tắc là đo và điều chỉnh những biến dạng khi chúng đi xuyên qua bầu khí quyển. Đối với các thầy thuốc nhãn khoa, đó không còn là một kính viễn vọng nữa, mà là một máy phát hiện những bất thường cấu trúc của mắt ở mức tế bào.
Hỏi : Ông hãy nói cho chúng tôi những ưu điểm của kỹ thuật mới nhất này ?
GS José-Alain Sahel : Ta có thể thấy sớm hơn sự tạo thành của những mảnh vỡ, sự thương tổn của những quang thụ thể và, điều rất là quan trọng, đó là điều trị sớm hơn và theo dõi tiến triển của bệnh. Khi toàn bộ những quang thụ thể bị tiêu huỷ, sự giảm thị giác trung ương (vision centrale) là không thể đảo ngược.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào được thực hiện với chẩn đoán bằng quang học thích ứng (optique adaptive) này ?
GS José-Alain Sahel : GS Michel Paques, người tiền phong tầm cỡ quốc tế, hiện đang tiến hành nhiều công trình nghiên cứu ở Hôpital des Quinze-Vingts. Hai công trình khác đang được tiến hành ở Hoa Kỳ. Một kíp của Tokyo cũng đã phát động những thử nghiệm, và một công trình nghiên cứu rộng rãi châu Âu đang được dự kiến. Kỹ thuật này đang phát triển mạnh !.
Hỏi : Ở đâu ta có thể nhận đuoc thăm dò cho phép một chẩn đoán sớm hơn này ?
GS José-Alain Sahel : Các trung tâm đã được trang bị máy mới này : ở Paris, những hôpital des Quinze-Vingts và Labiboisière, ở tỉnh, các CHU de Besançon, Grenoble, Montpellier, và những bệnh viện khác.
(PARIS MATCH 6/11-12/11/2014)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(19/12/2014)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s