Cấp cứu nội tiết và chuyễn hóa số 22 – BS Nguyễn Văn Thịnh

LOẠN NĂNG TUYẾN GIÁP
(DYSFONCTION THYROIDIENNE)

JEAN-LOUIS VINCENT
Chef du Service de soins intensifs
Hôpital Erasme
Bruxelles.

Bệnh nhân trong một tình trạng nặng thường có những biến đổi nhỏ của chức năng tuyến giáp, có thể thích ứng để hạn chế những nhu cầu oxy của các tế bào.
T4 là kích thích tố chinh được tiết ra bởi tuyến giáp, nhưng T3 là dạng hoạt hóa. Sự biến đổi T4 trong các mô thành T3 (dạng hoạt hóa) và “reverse T3” (rT3, dạng bất hoạt). Một sự giảm protéine porteuse và một sự giảm hoạt tính của 5-déiodonidase ở bệnh nhân nặng thường gây nên một sự giảm T3, với gia tăng rT3 (như trong tăng năng tuyến giáp).T4 thường bị giảm, nhưng chỉ vì do protéine porteuse bị giảm (euthyroid sick syndrome).
Trên thực hành, ở bệnh nhân nặng, một nồng độ T4 bình thường loại bỏ nhược năng và ưu năng tuyến giáp. Một nồng độ T4 thấp không nhất thiết có nghĩa là giảm năng tuyến giáp.
Một nồng độ TSH phải được đo đồng thời. TSH hạ (1 đến 5 mcU/mL) trong những tình trạng bình thường hay trong trường hợp giảm năng tuyến giáp thứ phát (hypothyroidie secondaire). Một nồng độ trên 20 mcU/mL chỉ một nhược năng tuyến giáp nguyên phát (hypothyroidie primaire). Một nồng độ tăng cao vừa phải (giữa 5 và 20 mcU/mL) có thể được thấy trong ” euthyroid sick syndrome” cũng như trong những dạng nhẹ của nhược năng tuyến giáp.
Nếu một nhược năng tuyến giáp được nghi ngờ, một định được T4 tự do hay rT3 phải được thực hiện. Những nồng độ này thấp trong trường hợp giảm năng tuyến giáp (nguyên phát hay thứ phát). Ngược lại một nồng độ bình thường hay tăng cao của rT3 loại bỏ chẩn đoán giảm năng tuyến giáp.
Trong trường hợp giảm năng tuyến giáp thứ phát (suy não thùy : insuffisance hypophysaire), một trắc nghiệm TRH cũng có thể được thực hiện để xác lập chẩn đoán.

I. ƯU NĂNG TUYẾN GIÁP (HYPERTHYROIDIE)
Chẩn đoán có thể được gợi ý bởi những triệu chứng lâm sàng (xem bảng) và được hỗ trợ bởi một nồng độ T4 tăng cao.

Những dấu hiệu lâm sàng gợi ý loạn năng tuyến giáp
Nhược năng tuyến giáp (hypothyroidie)
– Biến đổi trí lực (acuité intellectuelle) hay trạng thái tri giác
– Tim nhịp chậm
– Suy tim không giải thích được, với hạ huyết áp
– Giảm thông khí với tăng thán khí
– Hạ thân nhiệt
– Hạ natri huyết
Ưu năng tuyến giáp (hyperthyroidie)
– Tim nhịp nhanh không thể giải thích, rung nhĩ bất ngờ
– Lưu lượng tim cao không thể giải thích
– Kích động, vã mồ hôi dai dẳng
– Sốt không rõ nguyên nhân.
Nhiều lựa chọn điều trị có thể được xét đến
– Propylthiouracil : ức chế không những sự tổng hợp của kích thích tố giáp trạng , mà còn sự biến đổi ngoại biên của T4 thành T3. Một liều tấn công từ 600 đến 1000 mg được tiếp theo sau bởi một điều trị bởi 200 mg (4 viên 50 mg) 4 đến 6 lần mỗi ngày. Những tác dụng phụ gồm có ban đỏ dị ứng (5%), sự biến đổi của những trắc nghiệm gan và mất bạch cầu hạt (agranulocytose).
– Strumazol 20 mg mỗi 4 giờ. Iode có thể được thêm vào trong những trường hợp nặng, 1 đến 2 giờ sau khi cho liều tấn công propylthiouracil (để phong bế trước hết sự tổng hợp hormone).

B. NHƯỢC NĂNG TUYẾN GIÁP
I. LÂM SÀNG
Giảm năng tuyến giáp đôi khi được gợi ý bởi những dấu hiệu lâm sàng (xem bảng). Sự hiệu chính sinh học bắt đầu với đo nồng độ T4 và TSH.
II. ĐIỀU TRỊ
Điều trị gồm có :
– T4 (thyroxine) : 300- 500 mcg tĩnh mạch (bolus), rồi 75-100 mcg/ngày tĩnh mạch (hay bằng đường miệng). T4 không tác dụng ngay, vì lẽ nó phai được biến đổi thành T3 ; T4 có một thời gian bán hủy 7 ngày ;
– T3 : vì lẽ sự biến đổi T4 thành T3 cần một thời gian nào đó và ngay cả có thể bị biến thái, nên tốt hơn có thể bắt đầu bằng T3 (dạng hoạt tính), để có một tác dụng nhanh hơn. T3 có một thời gian bán hủy 30 giờ. Liều của T3 là 20 mcg tiêm tĩnh mạch trực tiếp, tiếp theo với 10 mcg mỗi 8 giờ, đồng thời bắt đầu T4 với một liều hơi thấp hơn (300mcg)

Référence :
Le Manuel de Réanimation, Soins Intensifs et Médecine d’Urgence.
3ème édition. 2009

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(28/1/2009)
(Review 6/12/2014)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu nội tiết và chuyễn hóa, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Cấp cứu nội tiết và chuyễn hóa số 22 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Cấp cứu nội tiết và chuyển hóa số 49 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Cấp cứu nội tiết và chuyển hóa số 50 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s