Cấp cứu nội thần kinh số 31 – BS Nguyễn Văn Thịnh

HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH NÃO
(THROMBOPHLÉBITE CÉRÉBRALE)

E. Marret
Service d’Anesthésie-Réanimation
Hôpital Tenon, Paris
M. Samama
Service d’Anesthésie-Réanimation
Hôpital Jean Verdier, Bondy

Huyết khối tĩnh mạch não (TPC : thrombophlébite cérébrale) là một bệnh hiếm. Tần số là 240 trường hợp mỗi năm ở Pháp. Những dấu hiệu lâm sàng là dấu hiệu của một agression cérébrale không đặc hiệu, đi từ đau đầu đơn thuần đến hôn mê, hay là những dấu hiệu lâm sàng của một thiếu sót thần kinh khu trú. Chụp cắt lớp vi tính não chỉ mang lại chẩn đoán trong khoảng 1/3 các trường hợp, và chính angio-IRM mà ngày nay ta đòi hỏi để chẩn đoán.

I. NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÁM PHÁ
Đau đầu đơn thuần hay hôn mê sâu với tăng áp lực nội sọ, mọi mức độ trầm trọng lâm sàng đều có thể.
3 loại trường hợp cần tìm kiếm để hỗ trợ cho chẩn đoán này :
– một nhiễm trùng tại chỗ-vùng, viêm tế bào của mặt, tràn mủ dưới màng cứng (empyème sous-dural) hay áp xe não, viêm màng não ;
– một thương tổn tại chỗ, chấn thương sọ, dị dạng huyết quản (malformation vasculaire) (hơn là angiome) ;
– sau cùng một trạng thái tiền huyết khối (thrombophile), dầu đó là một bất thường của équilibre coagulolytique, dùng thuốc ngừa thai oestroprogestatifs hay tình trạng thái nghén-hậu sản.

II. CHẨN ĐOÁN
Chụp cắt lớp vi tính không tiêm chất cản quang là bình thường : ta có thể thấy trực tiếp huyết khối của một xoang tĩnh mạch (dấu hiệu delta, có thể thấy tốt nhất trên phim chụp cắt lớp vi tính với tiêm chất cản quang, với opacification thành của xoang tĩnh mạch dọc trên (sinus longitudinal supérieur) và dạng vẻ ít mật độ hơn của huyết khối, tạo một hình tam giác). Ta cũng có thể thấy một thiếu máu cục bộ, mà khu vực vỏ não bất thường làm nghi ngờ nguồn gốc tĩnh mạch.
Nếu chụp cắt lớp vi tính không mang lại chẩn đoán, và nếu vẫn nghi ngờ chẩn đoán viêm huyết khối tĩnh mạch não, chính chụp hình ảnh bằng chụp cộng hưởng từ mà ta sẽ nhờ đến, và đặc biệt là angio-IRM. Angio-IRM cho thấy sự hiện diện của huyết khối và sự vắng mặt tuần hoàn trong vùng liên hệ.
Tuy nhiên có những âm tính giả và một chụp hình ảnh bất thường mặc dầu rất nghi ngờ trên phương diện lâm sàng cần phải chụp động mạch.

III. ĐIỀU TRỊ
Điều trị triệu chứng không có gì đặc thù : bảo vệ đường khí của một bệnh nhân hôn mê, đánh giá và kiểm soát áp lực nội sọ.
Héparine với liều kháng đông là điều trị quy chiếu và vẫn được chỉ định ngay cả với sự hiện diện của những vùng xuất huyết não (ischémie veineuse). Điều trị tiêu huyết khối (fibrinolyse) có những chỉ định ngoại lệ và vẫn không được đánh giá đúng. Nguy cơ của một xuất huyết biến chứng một thiếu máu cục bộ tĩnh mạch phải được cân bằng với lợi ích khả dĩ của điều trị này.
Điều trị những ổ nhiễm trùng phải được thực hiện (dẫn lưu ngoại khoa, kháng sinh liệu pháp). Sự lựa chọn một kháng sinh điều trị mà không có kết quả vi trùng học là khó : céphalosporine thế hệ thứ ba loại céfotaxime hay ceftriaxone liên kết với métronidazole, hay pénicilline M nếu điểm khởi phát ở da hay mũi xoang.
Tóm lại, tiến triển thuận lợi không di chứng trong 60% các trường hợp, và tỷ lệ tử vong khoảng 10%.

Référence : Pratique de la réanimation et de la médecine d’urgence. 2002

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(22/11/2014)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu nội thần kinh, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s