Thời sự y học số 354 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ CÁC BỆNH DO VI KHUẨN : TƯƠNG LAI NÀO ĐỐI VỚI CÁC KHÁNG SINH ?INFECTIOLOGIE. ” Nếu không có một hành động khẩn cấp và phối hợp, thế giới sẽ tiến về một kỷ nguyên sau kháng sinh (une ère post-antibiotiques), trong đó những nhiễm trùng thông thường, những vết thương không quan trọng vốn có thể điều trị từ nhiều thập niên, sẽ có thể giết chết trở lại “, BS Fukuda, phó tổng giám đốc của Tổ chức y tế thế giới, đã tiên đoán như vậy cách nay ít lâu. Cuộc khủng hoảng toàn cầu, sự gia tăng đề kháng của những vi khuẩn đối với các kháng sinh ảnh hưởng lên các vùng có mức sống thấp (Ấn độ, châu Á hay châu Phi) cũng như những nước phát triển hơn. Ở châu Âu, chúng chịu trách nhiệm mỗi năm 25.000 trường hợp tử vong và một surcout 1,5 tỷ euro.
Tại sao ngày nay sự đề kháng kháng sinh (antibiorésistance) có một tầm quan trọng đến độ G7 đã đặt nó trong số 7 đe dọa xã hội quan trọng đối với hành tinh ? ” Ngay những năm 1950, với những kháng sinh đầu tiên, ta đã thấy xuất hiện những đề kháng. Nhưng, bởi vì luôn luôn có những kháng sinh mới, nên các vi khuẩn đã trở nên đề kháng bị giết chết bởi những kháng sinh mới này. Trong những năm 1980, sự tìm kiếm những kháng sinh mới đã dừng lại. Nhưng sự tiêu thụ chúng đã tiếp tục gia tăng, và những vi khuẩn đề kháng cuối cùng đã bắt kịp các kháng sinh. Từ nay chúng ta ở bên bờ của sự đề kháng toàn bộ “, GS Antoine Andremont, nhà vi trùng học (CHU Bichat-Claude Bernard, Paris), đã giải thích như vậy.
” Các vi khuẩn không sinh bệnh (bactéries non pathogènes) có lẽ là yếu tố quan trọng của dynamique này, ông nói tiếp. Ống tiêu hóa của chúng ta, miệng của chúng ta…là những túi vi khuẩn cộng sinh (sacs à bactéries commensales) mà chúng ta chung sống. Trong trường hợp áp xe, nhiễm trùng đường tiểu hay nhiễm trùng khác, một phần kháng sinh được uống vào sẽ tấn công những vi khuẩn gây nhiễm (bactéries infectieuses), nhưng phần quan trọng sẽ tác động vào những vi khuẩn của ống tiêu hóa của chúng ta, hàng triệu lần dồi dào hơn, chọn lọc, khuếch đại những đề kháng được mang bởi những vi khuẩn vô hại này. Thường hơn, những đề kháng này sau đó được chuyển dễ dàng hơn đến những vi khuẩn gây bệnh được gặp. Như vậy vi khuẩn chí cộng sinh (flore commensale) đã trở thành một ổ đề kháng kháng sinh thật sự. ”
” LÀM MỌI CÁCH ĐỂ PHÁ VỠ NHỮNG DÂY CHUYỀN TRUYỀN “
Tình hình hiện này rất đáng lo ngại. “Trong médecine de ville, ở đây vi khuẩn E. coli chịu trách nhiệm những nhiễm trùng đường tiểu thường gặp, những giống gốc đề kháng với kháng sinh được sử dụng nhất, céphalosporines thế hệ thứ ba (C3G), đã chuyển từ dưới 1% lên 8% trong 10 năm “, GS Laurent Gutmann (HEGP, Paris) đã chỉ rõ như vậy. Vài giống gốc E.coli bắt đầu đề kháng với hầu như tất cả các kháng sinh. Ngược lại, những đề kháng của phế cầu khuẩn (pneumocoque) đã giảm nhờ tiêm chủng.
” Ở bệnh viện, là nơi sự sử dụng kháng sinh rất cao, những đề kháng với những kháng sinh thế hệ thư ba biến thiên từ 10 đến 20%. Những vi khuẩn như Pseudomonas hay Acinetobacter càng ngày càng đề kháng.” Thế mà những vi khuẩn ruột đôi khi gây nên những nhiễm trùng nghiêm trọng, những klebssiella, đã có những đề kháng với một kháng sinh de dernier recours khác, những carbapénèmes.
Và ở nơi khác lại còn nghiêm trọng hơn. Khuyên không nên du lịch chữa bệnh (tourisme médical) ở Ẩn Độ, châu Á, bởi vì mức độ lưu hành của những giống gốc đa đề kháng (souches multirésistantes) ở đó rất cao. Ngay cả không bị bệnh, ta có thể trở về từ những nước này và mang những giống gốc đa đề kháng trong ống tiêu hóa của mình và truyền chúng.
Phí tổn về người và kinh tế của những nhiễm trùng này là quan trọng. Nhưng trầm trọng hơn. Trong ngoại khoa nặng nề (chirurgie lourde), những trường hợp ghép cơ quan, trong ung thư học, trong khoa tim…Những kháng sinh là cần thiết. Hệ miễn dịch lão hóa, suy yếu ngay ở tuổi 50, nguy cơ nhiễm khuẩn gia tăng với sự kéo dài tuổi thọ.
Phải làm gì ? Hạn chế sự kê đơn kháng sinh vào những tình huống đòi hỏi, cho đúng kháng sinh, đúng liều lượng và trong thời gian đứng đắn. ” Để được như thế, ở thành phố các thầy thuốc phải có những trắc nghiệm chẩn đoán nhanh (test de diagnostic rapide) để nhận diện càng nhanh càng tốt những đề kháng và cho kháng sinh thích ứng nhất “, GS Gutmann đã đánh giá như vậy.” Ở bệnh viện, phải làm tất cả để đáp với những dây chuyền truyền, cần có những biện pháp thận trọng hơn, cách ly những bệnh nhân đa đề kháng và theo dõi họ. Những trắc nghiệm cực nhanh, chỉ những đề kháng trong vòng vài phút chẳng bao lâu sẽ có thể cho phép đương đầu tốt hơn ở khoa cấp cứu.” Nhất là cần phát động trở lại sự nghiên cứu để nhận diện những kháng sinh mới và gây hứng thú trở lại cho công nghiệp dược phẩm.
Đối với GS Andremont, không còn nghi ngờ gì nữa : với một sự sử dụng đúng đắn các kháng sinh và đồng thời giảm sự sử dụng chúng ở động vật, những đề kháng sẽ giảm. ” Đó là điều duy nhất mà ta có thể làm ngay tức thời. Bởi vì không còn có giải pháp thay thế cho những kháng sinh ”
(LE FIGARO 29/9/2014)

2/ SỰ ĐỀ KHÁNG GIA TĂNG LÀM LO NGẠI OMS
INFECTIONS. Phải làm gì, tập thể hay cá nhân, để loại bỏ mối đe dọa nhiễm trùng mà ta không còn có thể điều trị nữa ? Câu hỏi nóng bỏng và mối hiểm nguy đúng là có thật, theo OMS : ” Mối đe dọa nghiêm trọng này không còn là một sự tiên đoán (prévision) nữa, nhưng đúng là một thực tế trong mọi vùng trên thế giới, và mọi người, dầu tuổi tác và dầu ở nước nào, cũng có thể bị liên hệ.”
Thường thường, đúng hơn chính sự trỗi dậy của những mầm bệnh mới (H5N1, SRAS, Mers-Cov,…) hay sự lo sợ dịch Ebola hay những virus đáng sợ khác, mới làm run rẩy các nhà khoa học. Lần này, tham vọng của OMS, xuyên qua bilan đầu tiên về đề kháng kháng sinh này, được công bố 30/4/2014, là làm cho dư luận quốc tế nhận thức rằng mối hiểm nguy tức thời nhất có lẽ trước hết phát xuất từ những mầm bệnh quen thuộc. Điều này là bởi vì tình trạng đề kháng gia tăng của chúng đối với những thuốc chống vi trùng : các kháng sinh, các thuốc kháng virus, các thuốc chống nấm, các thuốc chống ký sinh trùng.
Là nạn nhân của chính sự thành công của mình kháng sinh được kê đơn rộng rãi, điều này góp phần tạo điều kiện cho sự thích ứng của các vi khuẩn. Hậu quả trên quy mô thế giới bởi vì các mầm bệnh vượt các biên giới.”Trừ phi nhiều tác nhân liên hệ hành động một cách khẩn cấp, một cách phối hợp, nếu không thế giới tiến về một kỷ nguyên sau kháng sinh (ère postantibiotique), khi đó những nhiễm trùng thông thường và những vết thương nhẹ đã từng được điều trị từ nhiều thập niên sẽ có thể giết người trở lại “, BS Keiji Fukuda, phó tổng giám đốc của OMS về an toàn y tế đã tuyền bố hôm qua như vậy.
Ở mức cá nhân, sự sử dụng tốt những kháng sinh hàm ý sự tôn trọng vài quy tắc. Trước hết, chỉ nên dùng loại thuốc này khi một mầm bệnh được nghi ngờ. Và đó phải là một thuốc có tác dụng chống lại mầm bệnh liên hệ. Tùy theo nơi nhiễm trùng và do đó tùy theo xác suất gặp một mầm bệnh nào đó, các thầy thuốc sử dụng vũ khí có vẻ có hiệu quả nhất về mặt thống kê.
Đôi khi, một mẫu nghiệm (prélèvement) được thực hiện trước khi bắt đầu điều trị, đặc biệt nếu bệnh nhân có thể địa kém (nhũ nhi, bệnh nhân suy giảm miễn dịch..) hay tiếp xúc với những mầm bệnh có khả năng đề kháng, nhất là bởi vì bệnh nhân được nhập viện. Mẫu nghiệm sẽ được cấy và trắc nghiệm với những kháng sinh khác nhau để thích ứng điều trị ngay khi biết được kết quả. Có khi mầm bệnh có một tính nhạy cảm (sensibilité) bị giảm đối với kháng sinh, điều này cần gia tăng những liều lượng, thậm chí có khi mầm bệnh hoàn toàn đề kháng, điều này hàm ý phải thay đổi kháng sinh. Các nhà nghiên cứu phát triển những jeu de stimulation bactérienne để cho phép các thầy thuốc kê đơn tập luyện để lựa chọn đúng kháng sinh sử dụng. Ta hiểu rằng thật là nguy hiểm tự quyết định, không có ý kiến y khoa, loại kháng sinh mà ta nghĩ là cần cho.
TÔN TRỌNG NHỮNG LIỀU LƯỢNG
Huống chi khi một nhiễm trùng tái phát ít lâu sau một sự lành bệnh rõ ràng. Sự kiện một kháng sinh dường như đã có hiệu quả “lần cuối” có lẽ đúng là dấu hiệu lần này cần phải thay đổi họ kháng sinh : có thể rằng đó là một mầm bệnh đã đề kháng với điều trị trước và đã yên lặng tăng sinh cho đến khi gây nên một nhiễm trùng mới.
Nguy cơ đặc biệt hiện hữu khi ta không theo điều trị đến cùng hay nếu ta không tôn trọng những liều lượng và giờ dùng thuốc được chỉ định. Bởi vì những ngày đầu, kháng sinh phá hủy những giống gốc nhạy cảm nhất, nhưng đôi khi vào cuối điều trị mà những giống đề kháng nhất bị hủy diệt.” Rút ngắn một điều trị hay điều trị không đủ liều là cách tốt nhất để làm xuất hiện một đề kháng “, GS Pierre Faure, dược sĩ (bệnh viện Saint-Louis, Paris) và là thành viên của Viện hàn làm dược khoa, đã cảnh giác như vậy.
(LE FIGARO 2/5/2014)

3/ BIENVENUE DANS L’ERE POST-ANTIBIOTIQUES.
Pénicilline đã làm thay đổi thế giới. Những người khám phá ra nó, Alexander Fleming, đã lo sợ ngay năm 1945 : ” Không khó khăn khi làm các vi trùng đề kháng với pénicilline… bằng cách cho chúng tiếp xúc với những nồng độ không đủ để giết chết chúng.” Fleming tưởng tượng ra một ông X nào đó, điều trị một viêm họng với một liều pénicilline không đủ. Ông này truyền cho bà X những vi khuẩn đã học cách đề kháng với pénicilline. Kháng sinh này khi đó được cho bà X một cách vô ích…bởi vì bà chết vì bị viêm phổi. ” Nếu quý vị sử dụng pénicilline, hãy dùng nó với liều lượng đủ “, vị thầy thuốc đã kết luận như vậy.
Phải chăng câu chuyện này đang trở thành hiện thực ? Đã có những bệnh nhân mà không có kháng sinh nào có hiệu quả, và chết bởi điều đã bắt đầu như một nhiễm trùng thông thường. Từ nay, vài người tưởng tượng ngay cả một thế giới trong đó không có một kháng sinh nào hữu hiệu. Chìm ngập trong y khoa viễn tưởng (médecine-fiction).
Không có kháng sinh, ta sẽ chết vì đã được điều trị. Thật vậy, những điều trị chống ung thư hay trước một phẫu thuật ghép đã làm giảm tính miễn dịch của bệnh nhân. Các kháng sinh giúp họ chống lại những nhiễm trùng.
Y khoa điều trị tăng cường (médecine intensive) cũng không thua kém. Nó cũng sử dụng những loại thuốc này để loại bỏ những vi khuẩn mà nó có thể đưa vào cùng với những cathéter và những thiết bị y khoa khác được đưa vào trong thân thể bệnh nhân. Cũng như ngoại khoa khi thực hiện những động tác đa dạng như mổ tim, mổ lấy thai hay cấy một prothèse. Các nhà kinh tế của y tế Anh đã tính toán rằng không có các kháng sinh, sự đặt một khớp giả ở háng sẽ giết chết một bệnh nhân trên 6. ” Nếu chúng ta đánh mất kháng sinh, chúng ta sẽ đánh mất năng lực làm tất cả điều đó “, vào năm 2013 Tom Frieden, giám đốc của Center for Disease Control (CDC) Hoa Kỳ đã lấy làm lo ngại như vậy.
Cuộc sống hàng ngày chứa đầy những tình huống có nguy cơ. Không có kháng sinh, những vết chợt có thể gây chết người, sinh đẻ sẽ trở nên nguy hiểm, một viêm tai đơn giản có thể gây điếc. OMS ước tính rằng những thuốc này đã mang lại cho chúng ta thêm 20 năm hy vọng sống. Nhưng theo Cơ quan dược phẩm châu Âu, 25.000 người chết mỗi năm ở châu Âu vì những nhiễm trùng do những vi khuẩn đề kháng, và những trường hợp nhiễm trùng này gây phí tổn 1,5 tỉ euro mỗi năm cho Liên hiệp châu Âu.
Vậy phải chuẩn bị cho kỷ nguyên sau kháng sinh (ère post-antibiotique). Trước hết bằng cách không làm nhiễm trùng những người có sức khỏe mỏng manh : những biomatériaux (vật liệu sinh học) có thể cho phép tạo những prothèse “sạch”, và khoa học vật lý cố tạo những điều kiện ngoại khoa tối ưu (những condition hyperbare, kiểm soát nhiệt độ, sử dụng laser và ánh sáng cực tím…)
Để tấn công vào hệ miễn dịch, vài nhà nghiên cứu tìm cách “booster” hệ miễn dịch. Những nhà nghiên cứu khác cố tìm hiểu một cách sâu sắc những vi khuẩn, để dạy chúng đừng giết người nữa. Vào tháng ba, một kíp nghiên cứu Pháp-Anh tiết lộ trong Nature cấu trúc của guồng máy cho phép vài vi khuẩn gởi những tác nhân gây bệnh của chúng vào trong những tế bào ký chủ.
Phagothérapie, đã bị bỏ rơi bởi Tây y từ khi các kháng sinh được khám phá, đang làm quan tâm trở lại những nhà nghiên cứu. Đó là sử dụng những phage, những virus này tấn công một cách đặc hiệu những vi khuẩn. Một dự án châu Âu đã được khởi động vào tháng sáu 2013 để điều trị những người bỏng nặng bị nhiễm trùng da. Các virus có lẽ sẽ cứu nhân loại.
(LE FIGARO 2/5/2014)

4/ TÌM KIẾM NHỮNG THUỐC CHỐNG NHIỄM TRÙNG MỚI.
Bên cạnh các kháng sinh, những hướng nghiên cứu khác được thăm dò để chống lại những nhiễm trùng. Được sử dụng từ lâu trong những nước Đông Âu cũ, các bactériophage gây nên một sự quan tâm trở lại ở Pháp, ở đây chúng đang được nghiên cứu và chẳng bao lâu một thử nghiệm có kiểm tra sẽ được thực hiện. Chính các virus gây nhiễm các vi khuẩn và tiêu huỷ chúng.” Các bactériophage có một kháng khuẩn phổ rất hẹp, một tính đặc hiệu rất lớn đối với vài giống gốc (souche) trong cùng một loài vi khuẩn. Đó là một ưu điểm để nhắm đích một giống gốc sinh bệnh chính xác, mà trước hết phải nhận diện”, Laurent Debarbieux (Viện Pasteur) đã giải thích như vậy.
Những bactériophage này được phân lập, được làm tinh khiết và được đặc trưng từ môi trường tự nhiên. ” Các tác dụng của chúng rất đặc hiệu. Những kết quả tốt nhất có được với một coctail chứa từ 5 đến 10 phage khác nhau, được hướng chống lại giống gốc vi khuẩn (souche bactérienne). ” Nơi nhiễm trùng phải có thể tiếp cận được để các bactériophage đến tiếp xúc trực tiếp với những vi khuẩn được nhắm đến. Ở Pháp, một số các thầy thuốc sử dụng chúng trong trường hợp bế tắc kháng sinh, thí dụ đối với những nhiễm trùng xương khớp, đôi khi với những kết quả gây ngạc nhiên. Nhưng để dự kiến một sự sử dụng rộng lớn hơn, chúng phải thỏa mãn những yêu cầu về chất lượng của giới hữu trách. ANSM theo dõi rất sát sự pha chế các bactériophage. Chúng sẽ được sử dụng trong một cuộc thử nghiệm đầu tiên ở châu Âu, dưới sự chỉ đạo bởi bệnh viện quân sự Percy (Clamart). Thử nghiệm này, Phagoburn, sẽ đánh giá sự dung nạp (tolérance) và tính hiệu quả của các bactériophage được sử dụng ngoài một kháng sinh, trong điều trị bỏng bị nhiễm trùng bởi những vi khuẩn E.coli và Pseudomonas. Sự tuyển mộ những bệnh nhân đầu tiên sẽ được bắt đầu.
NHỮNG KẾT QUẢ HỨA HẸN
Những bactériophage cũng được trắc nghiệm trên mô hình động vật, với những kết quả đầy hứa hẹn, trong điều trị những nhiễm trùng gây nên bởi Pseudomonas aeruginosa, thường gặp trong mucoviscidose. Nhưng đối với Laurent Debarbieu, sự việc thật rõ ràng : ” Các phage có thể mang lại, trong trường hợp thất bại điều trị, một giải pháp bổ sung mới. Nhưng chúng không hề là một giải pháp thay thế cho các kháng sinh.”
Hướng nghiên cứu khác, ghép microbiote fécale để tái lập một khuẩn chí ruột có hiệu quả khi bị những nhiễm trùng tái phát gây nên bởi Clostridium đề kháng với các kháng sinh. Lại nữa, sự chuẩn bị transplant cần những thử nghiệm lâm sàng, và 3 hay 4 đơn yêu cầu đã được đệ trình cho ANSM theo chiều hướng này, đối với những nhiễm trùng cấp tính hay mãn tính.
Vài loại kháng sinh mới, hay những đường cho thuốc cũng đang được thử nghiệm nhưng cần phải chờ kết quả. Trong số những đường hướng thăm dò khác, tối ưu hóa các kháng sinh bằng cách liên kết chúng, hoặc là với những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal) được hướng chống lại những phân tử của thành vi khuẩn (nhưng với phí tổn cao), hoặc với những peptide antibactérienne, nhưng những peptide này thường tỏ ra khá gây thất vọng trong trị liệu học ở người. Những phương pháp tối ưu khác, thí dụ nhờ những kim loại có tính chất chống nhiễm trùng như đồng hay bạc, cũng được xét đến.
(LE FIGARO 29/9/2014)

5/ EBOLA : VIRUS CÓ KHẢ NĂNG ĐẾN PHÁP
Pháp là nước thứ hai bị đe dọa nhất sẽ có một trường hợp bệnh nhập cảng, sau Ghana.
EPIDEMIE. Từ lâu bị đe dọa, sự xuất khẩu ngoài Tây Phi sốt xuất huyết Ebola đã trở nên một thực tế với trường hợp được chẩn đoán đầu tiên ở Hoa Kỳ. Pháp cũng không tránh khỏi, và ngay cả đặc biệt có nguy cơ bị virus Ebola, theo công trình dự đoán thống kê được tiến hành từ vài tháng nay bởi các nhà nghiên cứu của Northeastern University (Boston). Theo công trình này nước Pháp là nước có nguy cơ đứng thứ hai bị một trường hợp sốt xuất huyết Ebola trong 18 ngày đến. Nguy cơ bị nhiễm virus ở châu Âu là có thật : một aide soignante Tây Ban Nha đã mắc phải bệnh trong lúc săn sóc một nhà truyền giáo được hồi hương từ châu Phi vào tháng chín.
Alesandro Vespignani và équipe của ông đã điều biến (modélisé) sự lan tràn của virus trên thế giới bằng cách dựa vào nhiều tham số : những liên lạc bằng đường hàng không với những nước bị dịch bệnh, số những trường hợp được liệt kê và thời kỳ ủ bệnh. Những kết quả đầu tiên của họ, được công bố đầu tháng chín, đã đặt Pháp ở vị trí thứ bẩy của những nước bị nguy cơ lây nhiễm nhất, sau Ghana (thứ nhất) và Vương Quốc Anh (thứ hai), nhưng trước Hoa Kỳ (thứ 13). Tài liệu khoa học này được kèm theo bởi một site Internet (http://www.mobs-lab.org/ebola.html), được cập nhật đều đặn, theo những dữ kiện của OMS về những trường hợp và những tử vong ở Liberia, ở Guinée và ở Sierra Leone, trung tâm của dịch bệnh.
Chính như thế mà Pháp, từ vài ngày nay, đứng thứ hai của danh sách, sau Ghana, với một nguy cơ sẽ thấy một trường hợp nhập cảng trên lãnh thổ của mình từ nay đến cuối tháng mười, được ước tính là 20%. Từ đầu tháng chín, xác suất thấy một trường hợp xuất hiện trong những nước có những mối liên hệ mạnh với Tây Phi, như Pháp hay Bỉ, gia tăng một cách hằng định”, Alessandro Vespignani đã bình luận như vậy. Nhà nghiên cứu giải thích rằng một nấc quan trọng đã được vượt qua cách nay một tháng. ” Khi đó nguy cơ thấp hơn, khoảng 5%, và chúng tôi nghĩ rằng cộng đồng y tế sẽ đầu tư để thắng căn bệnh trong những nước bị dịch. Nhưng điều đó đã không xảy ra, hay một cách không đủ, và như chúng tôi đã tiên đoán, ta vừa ghi nhận trường hợp được xuất khẩu đầu tiên.”
NHỮNG KIỂM SOÁT BẤT LỰC Ở PHI TRƯỜNG MONROVIA
Ở Phi trường Roberts de Monrovia, thủ tục vẫn không thay đổi. Trước khi đi vào trong hall, một kíp y tá mặc quần áo bảo vệ, lấy nhiệt độ của mọi hành khách rồi ghi chép cẩn thận. Sốt là một trong những dấu hiệu đầu tiên của nhiễm virus. Sau đó hành khác phải điền một mẫu đơn, trên đó vị hành khách này phải khai danh dự là đã không tiếp xúc với một trường hợp Ebola bị nghi ngờ nào trong 3 tuần qua. Sau khi hoàn thành những thể thức này, cánh cửa lên máy bay được mở ra. ” Điều đó chẳng ích lợi gì nhiều”, một viên chức quản lý phi trường đã công nhận như vậy.
Điều đó đã không ngăn cản, cuối tháng bảy vừa qua, Patrick Sawyer, bỏ trốn ở Nigeria khi biết mình bị nhiễm virus. Doanh nhân người Liberia này đã làm phát khởi một ổ nhiễm ở Lagos và ở Port-Harcourt, nhưng may mắn thay chế ngự được. Sự tăng cường kiểm soát ở phi trường cũng không phát hiện được Thomas Eric Duncan. Vào cuối tháng chín, hành khách 40 tuổi này đã đi từ Monrovia đến Hoa Kỳ, qua ngã Bruxelles, nhưng không hay biết gì về mối hiểm nguy mà anh ta sẽ gieo rắc cho những người khác. Hôm nay anh ta đã được nhập viện trong một tình trạng nguy kịch ở Dallas.
NHỮNG CHUYẾN BAY BỊ ĐÌNH CHỈ.
Những công ty hàng không còn phục vụ tuyến đường Liberia, Royal Air Maroc và Brussel Airlines, mặc dầu vậy đã không thay đổi chính sách, trong khi Air France hay những công ty địa phương như Asky đã đình chỉ các chuyến bay. Nhưng những cổng lấy nhiệt độ (portique de prise de température) đã được thiết đặt lúc hành khách đến.
” Nếu các hành khách không thật thà, hiển nhiên là họ có thể lên máy bay không có vấn đề. Nhưng không có cách nào tránh được”, một nhà dịch tễ học đã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, Liên hiệp quốc, cũng như những acteurs humanitaires chống lại sự đình chỉ những chuyến bay. Theo họ, điều đó sẽ còn làm ứ nghẽn hơn nữa các nước bị dịch và làm trầm trọng thêm tình hình.
Trong khung cảnh này, nước Pháp sẽ có thể nhận một trường hợp Ebola. Trong khi không có một đường bay nào với Liberia hay Sierra Leone, một đường bay trực tiếp được mở với Guinée, nước khác bị nhiễm virus Ebola. Các hành khách cũng có thể đến được Paris qua một nước khác mà không bị phát hiện. ” Đó là một thực tế, nhà dịch tễ học đã công nhận như vậy. Nhưng phải ghi nhận rằng người nào đó đang ủ bệnh không làm lây nhiễm và do đó không nguy hiểm. Một bệnh nhân khai báo sẽ không qua được những kiểm soát.”
Khả năng những trường hợp nghi ngờ trốn được cho thấy những thiếu sót trong việc theo dõi căn bệnh, nhất là ở Liberia. Như thế, tất cả những người tiếp xúc với một người bệnh được khai báo được theo dõi hàng ngày trong 3 tuần để kiểm tra rằng họ không bị bệnh và không truyền virus. Trên thực tế, sự theo dõi này rất lý thuyết , thậm chí phần lớn không hiện hữu. Ví dụ, Thomas Eric Duncan, sau khi đã đi kèm một người thân bị bệnh, đã thoát được tất cả radar trong một trung tâm. Và câu chuyện có thể sẽ được lặp lại. Sự khám phá một tử thi, hôm chủ nhật, trong một đường phố của thủ đô Monrovia, đã không dẫn đến một cuộc điều tra nào. Giới hữu trách và các cơ sở y tế thật ra bị tràn ngập bởi quy mô của dịch bệnh mặc dầu từ ít lâu nay trận dịch dường như dậm chân tại chỗ trong thủ đô Libéria.
Ở OUGANDA, MỘT NGƯỜI CHẾT VÌ MARBOURG, VIRUS “BÀ CON” CỦA EBOLA.
Hai virus giống nhau đến độ cái chết của một người nạn nhân của sốt xuất huyết Marbourg, ở Ouganda, có một âm vang đặc biệt với dịch bệnh Ebola ở Tây Phi.
Một kỹ thuật viên quang tuyến của bệnh viện Kampal bị chết hôm 28/9. Người này đã bắt đầu bị bệnh hôm 17/9 ; sau khi đã nhận điều trị anh ta trở về làm việc trước khi bị nhập viện hôm 23/9. Tình trạng của anh ta dần dần suy sụp và một sốt xuất huyết đã được nghi ngờ hôm 27/9 ; những xét nghiệm chỉ xác nhận sốt Marbourg hôm 30/9, hai ngày sau khi anh ta mất. Phát triển cùng những triệu chứng, người em đã được cách ly, nhưng trong trường hợp này virus Marburg đã chưa được xác nhận.
Giới hữu trách Ouganda nói đã áp dụng tất cả những biện pháp để tránh sự lan truyền của virus : một kíp những nhà dịch tễ học đã được gởi đến những nơi mà nạn nhân lui tới, và 80% những người tiếp xúc với nạn nhân đã được nhận diện và “được cách ly phòng ngừa”, theo Bộ y tế Ouganda. Giới hữu trách kêu gọi dân chúng báo cáo mọi trường hợp nghi ngờ, và nhân viên bệnh viện phải được đào tạo. ” Hãy bình tĩnh nhưng cảnh giác, tổng thống Ouganda đã yêu cầu như vậy trong một thông điệp trên Twitter. Hãy tránh bắt tay và hãy hợp tác với những người làm công tác y tế.”
ĐẾN 88% NHỮNG TRƯỜNG HỢP TỬ VONG.
Những biện pháp thận trọng như th là cần thiết, bởi vì virus de Marburg không gì khác hơn là ” họ hàng” của virus Ebola. Virus này đã được nhận diện lần đầu tiên vào năm 1967, khi xảy ra một trận dịch trong số những nhà nghiên cứu ở Đức và ở Serbie.Những nhà nghiên cứu này đã bị lây nhiễm bởi những loại khỉ xanh được nhập cảng từ Ouganda.
Từ đó, OMS liệt kê ” những cơn bộc phát dịch bệnh và những trường hợp lẻ t”, trong đó có hai trận dịch, năm 1998 và 2000 ở Cộng hòa dân chủ Congo (128 trường hợp tử vong) và năm 2005 ở Angola (329 trường hợp tử vong). Tỷ lệ tử vong có thể lên đến 88% những trường hợp.
Cũng như đối với Ebola, ký chủ tự nhiên của virus là một con dơi. Thời kỳ ủ bệnh từ 2 đến 21 ngày và sự truyền virus giữa người với người được thực hiện qua những dịch cơ thể của các tử thi hay những người bệnh có triệu chứng (và qua tinh dịch cho đến vài tuần sau khi lành bệnh).
Cũng như đối với Ebola, không có thuốc hay vaccin nào chống lại sốt xuất huyết Marbourg : chỉ có những điều trị tăng cường mới cho phép tránh sự suy sụp của người bệnh.
(LE FIGARO 7/10/2014)

6/ EBOLA SOUS HAUTE SURVEILLANCE A LYON
VIROLOGIE. Virus Ebola đang ở nước Pháp, ở Lyon. Ở đó, nó sát cạnh với những “cousin” của nó Lassa, Marburg, Nipah, Machupo, Hendra… Đằng sau những tên ngoại lai này, ẩn dấu những virus giết người đáng sợ. Cả thảy khoảng 10 virus, nguyên nhân của sốt xuất huyết, viêm não thể tối cấp (encéphalite foudroyante), thế mà đối với những virus này không có một điều trị hay một vaccin nào. Nhưng đừng hoảng sợ ! Những virus này không có một cơ may nào thoát khỏi cái pháo dài tiếp nhận chúng, Laboratoire P4 Inserm-Jean Mérieux.
Được thành lập bởi Charles Mérieux năm 1999, đây là nơi duy nhất ở Pháp : đó là một laboratoiure de haut confinement dành cho sự nghiên cứu những tác nhân gây bệnh độc lực nhất của hành tinh. ” Hoạt động của chúng tôi là nguy hiểm nhưng không có nguy cơ “, Hervé Raoul, giám đốc phòng thí nghiệm đã xác nhận như vậy.
Chính vì vậy mà mức độ an toàn trong bunker này không thua gì những nhà máy nguyên tử. Các khách thăm viếng được giữ cách xa. Còn những nhà khoa học , chỉ có một nhóm nhỏ mới có thể được vào. ” Chúng tôi có khoảng 20 nhà nghiên cứu và những kỹ thuật viên dành cho phòng thí nghiệm, thêm vào đó khoảng 30 nhà nghiên cứu được đào tạo làm việc ở đó “, Hervé Raoul đã giải thích như vậy. Bởi vì P4 de Lyon là một công cụ dành cho toàn bộ cộng đồng khoa học : nó được đặt dưới quyền sử dụng của những kíp nghiên cứu, đại học hay công nghiệp, Pháp hay nước ngoài.
Đằng sau những tấm kính kín là những astronaute được nối liền với trần nhà bởi những dây câble vàng. ” Các nhà nghiên cứu được trang bị bởi những scaphandre và được giữ surpression để bảo vệ hệ họ chống lại sự lây nhiễm” Hervé Raoul đã chỉ rõ như vậy. Còn những tuyau ? Đó là những “narguilé” nhằm tiếp tế cho họ khí thuần chất. Phòng thí nghiệm được giữ giảm áp (dépression) để ngăn cản một sự ” trốn thoát ” của virus. Vào phòng thí nghiệm đòi hỏi một sự chuẩn bị kỹ lưỡng : cởi hết quần áo, mặc sous-vêtements chỉ dùng một lần, điều chỉnh scaphandre, douche chimique với pulvérisation… Một thao tác mất 30 phút lúc vào cũng như lúc ra.
Một khi đã vào bên trong, mỗi thao tác tương ứng với một protocole rất chính xác. ” Những điều lệ an toàn phải được áp dụng nghiêm túc, những người phụ trách biosécurité theo dõi việc thực hiện. Điều đó không hề là một trò đùa lý thuyết (plaisanterie théorique), Hervé Raoul đã nhấn mạnh như vậy. Như vậy chẳng ai vào một mình trong phòng thí nghiệm. Và không thể ở đó lâu hơn nửa ngày liền, để tránh mọi sự giảm chú ý có thể dẫn đến một sai lầm thao tác : một động tác sai trái nhỏ nhất có thể dẫn đến tai họa.
Chính vì vậy để có thể đặt chân vào khu vực này, những nhà nghiên cứu phải theo một đào tạo 3 tuần. Để vào khu động vật (animalerie), vùng “nhạy cảm nhất” của phòng thí nghiệm, cần bổ sung thêm ba tuần nữa. Còn sự thao tác trên động vật không được giao cho ai khác. Chính các nhà nghiên cứu và những kỹ thuật viên của P4 phải thực hiện lấy. ” Chúng tôi có những biện pháp an toàn bổ sung, nhất là để bảo vệ các bàn tay. Những cộng tác viên của chúng tôi biết thực hiện những cuộc phẫu thuật với những gant de boxe ! “, Hervé Raoul đã kể như vậy.
TĂNG GẤP ĐÔI NHỮNG KÍP NGHIÊN CỨU
Hôm nay, phòng xét nghiệm nghiệm lớn nhất châu Âu P4 ở tuyến đầu trong cuộc chiến đấu chống lại dịch Ebola : chính ở Lyon mà cách nay vài tháng souche của virus đang hoành hành ở Tây Phi đã được nhận diện. Mỗi tuần, phòng thí nghiệm nhận 3 hay 4 mẫu nghiệm máu để phân tích, so với khoảng một chục mỗi năm trong thời kỳ bình thường. ” Chúng tôi nhận những mẩu nghiễm máu từ các nước tiếp cận với những nước bị xâm nhập bởi Ebola “, Hervé Raoul, giám đốc của phòng xét nghiệm nghiệm đã giải thích như vậy. Đối với những nước trong đó virus hoành hành, các phân tích được thực hiện tại chỗ. Nhưng cũng ở đó phòng xét nghiệm nghiệm của Lyon được thỉnh cầu : ở Guinée, một phòng xét nghiệm nghiệm lưu động hoạt động nhờ những cộng sự viên của những P4 châu Âu. ” 4 đến 5 người đi công tác trong một thời gian từ 3 tuần đến một tháng. Xét vì quy mô và thời gian của trận dịch, vài người cộng tác viên của chúng tôi đã đi đến hai lần “, Hervé Raoul đã xác nhận như vậy.
Những hoạt động của P4 không giới hạn vào việc nhận diện virus. Đó cũng là một phòng thí nghiệm nghiên cứu. Thường thường, 3 đến 4 kíp nghiên cứu virus Ebola. Trong những tuần đến số équipe sẽ được tăng gấp đôi. ” Một plan de bataille đang được soạn thảo. Những nhà nghiên cứu cơ bản và những nhà lâm sàng xác định những ưu tiên dưới sự chỉ đạo của Alliance pour les sciences de la vie et de la santé “, Hervé Raoul đã giải thích như vậy. Ưu tiên là nhận diện những thuốc đã được cho phép thương mãi hóa và có thể được trắc nghiệm trong phòng thí nghiệm P4. ” Bởi vì phải hành động nhanh và bởi vì chúng tôi sẽ không có thời gian để đào tạo những nhà nghiên cứu, nên chính những équipe của P4 sẽ thực hiện những thao tác “, Hervé Raoul đã loan báo như vậy.
(LE FIGARO 5/9/2014)

7/ TẠI SAO VIRUS LÀM LO NGẠI CÁC CHUYÊN GIA.
Vào đầu những năm 1980 các chuyên gia đã nhầm khi không đoán rằng virus sida sẽ gây hơn 30 triệu người chết. Dĩ nhiên, họ đã đánh giá quá cao những mối nguy của các virus cúm gà (grippe aviaire), dẫn đến một psychose mondiale trong những nước có thể phải trả giá đắc. Nhưng các chuyên gia, mặc dầu bị giới truyền thống thúc đẩy để đưa ra những tiên đoán liều lĩnh, vẫn cần cần thiết để đánh giá những điều có thể xảy ra. ” Các chuyên gia có ích giúp chúng ta đạt đến những giới hạn của những kiến thức của chúng ta”, Norbert Gualde, giáo sư miễn dịch học và tác giả của L’Epidémie et la démorésilience (2011) đã nói như vậy..
Trước hết một điều chứng thực virus học. ” Đó là mot virus à ARN, điều này có nghĩa rằng xác suất biến dị của nó cao hơn “, ông ta đã giải thích như vậy. Ngoài ra, những nhà nghiên cứu công tác về souche d’Ebola hiện đang lưu hành (Zaire Ebola) đã ghi nhận những biến dị nhanh của virus. Vậy thì có phải sợ ” mutation catastrophe” cho phép nó có được khả năng lan truyền bằng đường không khí ?
” Hôm nay không có một luận cứ nào để nói rằng virus đã thay đổi về mặt khả năng truyền bệnh (transmissibilité) hay về mặt độc lực (virulence : năng lực giết chết), GS Arnaud Fontanet, trưởng đơn vị dịch tễ học về những bệnh mới phát khởi (maladie émergente) thuộc Viện Pasteur, đã nói như vậy. Sự công bố bởi tạp chí Nature vào năm 2012 của các nhà nghiên cứu Canada, gợi ý khả năng của một sự lây truyền bằng đường không khí của Ebola từ heo đến macaque đã không thuyết phục các chuyên gia.
U tối hơn là động lực (dynamique) của dịch bệnh. ” Điều mà tôi nhận thấy đáng lo ngại, đó là trận dịch hiện nay không được chế ngự. Điều đó làm gia tăng những khả năng thích nghi của virus “, tổng giám đốc OMS Magaret Chan đã rung chuông báo động hồi tháng tám : ” Sẽ là cực kỳ bất cẩn khi các nhà cầm quyền quốc gia và cộng đồng quốc tế cho phép virus Ebola lưu hành rộng khắp và trong một thời gian dài trong population humaine.”
Chủ đề đáng lo ngại khác, sự kiện rằng, trong những nước mà nhân vật lực được huy động, thiếu những yếu tố khoa học để phân tích một cách thật sự những biến dị của virus. ” Virus đang thích nghi với ký chủ mới của mình, con người. Nhưng hôm nay, không gì cho phép biết được là điều đó sẽ được thực hiện theo hướng khả năng truyền bệnh hay độc lực “, GS Fontanet đã nhấn mạnh như vậy. ” Virus không tạo dịch bệnh, GS Gualde đã nhắc lại như vậy. Điều gây nên dịch, đó là sự gặp gỡ của virus với con người.” Bất hạnh thay, sự gặp gỡ này, trong trường hợp Ebola, không chỉ xảy ra trong các làng mạc xa xôi, mà còn trong những thành phố, thậm chí trong các thủ đô. Và mặc dầu ta biết ngăn chặn Ebola như thế nào (nhận diện một cách nhanh chóng các trường hợp, cách ly các bệnh nhân và những người tiếp xúc) sự vận dụng vẫn tế nhị ở châu Phi. ” Chúng ta không được cho virus có cơ hội tạo cho chúng ta những bất ngờ khác”, BS Margaret Chan đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 19/9/2014)

8/ VIRUS EBOLA TÁI XUẤT HIỆN Ở CHÂU PHI : TRẬN DỊCH MÀ CHẲNG AI MUỐN THẤY XUẤT HIỆN
Châu Phi đang đương đầu với dịch bệnh Ebola nghiêm trọng nhất từng được ghi nhận. Virus của sốt xuất huyết, gây chết người trong hơn một nửa các trường hợp và không có một điều trị hay vaccin nào để chống lại nó, trong vòng 6 tháng đã gây hơn 1552 trường hợp tử vong trên 3069 trường hợp được thống kê ở Guinée, ở Liberia, ở Nigeria và Sénégal, so với 431 trường hợp vào lúc phát dịch đầu tiên và quan trọng nhất (1976)
Để cố kềm chế dịch bệnh, hôm 12/8, OMS đã chấp nhận, với tính cách ngoại lệ, sự sử dụng quy mô lớn những thuốc và vaccin mà tính hiệu quả và những tác dụng phụ đã chưa được đánh giá ở người.
Chưa từng có, quyết định này đã đưa ra nhiều câu hỏi. Sự khám phá virus mặc dầu cách nay 30 năm, nhưng làm sao ta đã có thể đi đến tình trạng này ? Sciences et Vie đã nhìn lại để đưa ra những yêu tố nhằm trả lời cho câu hỏi gây bận tâm đối với công nghiệp thuốc.
TẠI SAO TRẬN DỊCH EBOLA NAY LAN RỘNG ĐẾN THẾ ?
Nếu dịch bệnh giết người như vậy, đó là do hai yếu tố kết hợp. Trước hết độc lực của souche virale liên hệ. Một phân tích được thực hiện ngay tháng ba bởi kíp của Sylvain Baize, chuyên viên về Ebola ở phòng thí nghiệm P4 Lyon, đã phát hiện rằng một souche mới rất gần về mặt di truyền (97%) với souche “Zaire” (nước trong đó nó đã xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1976). Thế mà, souche này được biết là độc lực nhất : tỷ lệ tử vong của nó biến thiên từ 60 đến 90% theo các nhà dịch tễ học, so với 40 đến 70% đối với souche “Soudan”, hay 25 đến 50% đối với “Bundibugyo”. Mặc dầu, đã hơi biến dị, souche mới ít gây chết người hơn (khoảng 54%) so với souche Zaire thật sự “, Sylvain Baize đã xác nhận như vậy.
Mặt khác, lần đầu tiên Ebola đánh vào Tây Phi. Vậy dân chúng ít hay biết những biện pháp vệ sinh cần tôn trọng đứng trước virus lan truyền do tiếp xúc với những động vật hoang dã bị lây nhiễm (dơi, khỉ…) và những dịch sinh học của các bệnh nhân (mồ hôi, máu, những chất mửa) ; những cơ sở y tế cũng quá ít.
Sau cùng, sự tôn trong những lễ nghi mai táng địa phương nhằm rửa thân thể của người chết, (trong trường hợp Ebola, bị nhiễm bởi những dịch rất gây nhiễm), bởi những người thân trong gia đình đã góp phần làm lan tràn virus. Kết quả : thay vì khu trú ở vài làng hay thành phố, như trong những trận dịch trước, nó lan tràn một cách không kiểm soát được.
Sylvain Baize và các đồng nghiệp đã có thể đi ngược lên chaine de transmission qua một điều tra tỉ mỉ. ” Tất cả phát xuất từ làng Méliandou, ở đông nam của Guinée, nhà nghiên cứu đã nói như vậy. Ở đó, “bệnh nhân zéro”, một bé trai 2 tuổi bị nhiễm virus vào tháng 12/ 2013 (có lẽ do một động vật hoang dã không được nhận diện) và chết từ đó, đã gây nhiễm nhiều người thân. Những người này đã truyền virus trong những vùng xa xôi khác.” Rồi từ làng này qua làng khác, từ thành phố này qua thành phố kia (mà khi đó không ai nghi ngờ về tầm nghiêm trọng của tình hình), vào cuối tháng ba virus đã đến Conakry (có hơn 1 triệu dân), rồi Liberia và Sierra Leone láng giềng vào tháng sau, Nigeria cuối tháng bảy và Sénégal cuối tháng tám.
TẠI SAO KHÔNG MỘT LOẠI THUỐC HAY VACCIN NÀO ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM SỚM HƠN Ở NGƯỜI ?
Câu hỏi này càng làm các nhà nghiên cứu vướng víu khi vào lúc này ít nhất 3 “ứng viên” thuốc và vaccin đã cho thấy những kết quả hứa hẹn ở khỉ, về mặt di truyền rất gần với người…Trong số chúng : vaccin ZMapp, được tiêm vào đầu tháng tám cho hai humanitaire người Mỹ bị lây nhiễm (và đã hồi phục từ đó) và được sử dụng ở Liberia ngay cả trước khi OMS tuyên bố cho phép dùng một thuốc như thế. Được hiệu chính bởi công ty Hoa Kỳ Mapp Biopharmaceutical, coctail gồm 3 kháng thể chống Ebola này (nhằm hủy diệt virus bằng cách gắn lên bề mặt của nó) đã được trắc nhiệm thành công trên macaque năm 2012 (xem thêm TSYH số 351 bài số 2)
Cùng tình huống đối với vaccin rAd5-GP, cũng được quảng bá vào đầu tháng tám khi một nhà khoa học của OMS đã thông báo sự thương mãi hóa nó vào năm 2015 (thông báo được cải chính bởi géant pharmaceutique GSK (GlaxoSmithKline). Được phát triển cùng với Viện quốc gia các bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ, vaccin này chứa một virus vô hại đối với người, adénovirus của con tinh tinh (chimpanzé), được biến đổi về mặt di truyền để chứa trên bề mặt của nó một protéine d’Ebola (“glycopotéine”) “vaccinante”. Nó cũng tỏ ra có hiệu quả ở macaque, và điều này, ngay năm 2000 !
Một vaccin hứa hẹn khac, VSV-EBOV, phát xuất từ một phòng thí nghiệm Canada, đã được sử dụng ở Châu Phi sau khi OMS cho phép. Nhưng cũng như Zmapp và rAd5-GP, vaccin này đã không bao giờ được trắc nghiệm đến cùng ở người…
Một trong những lý do là thiếu kinh phí dành cho nghiên cứu chống Ebola, vì lẽ thu nhập tài chánh thấp”, Sylvain Baize đã phàn nàn như vậy. Ngoài sự kiện là một mầm bệnh của những nước nghèo, virus này, giữa năm 1976 và 2012, “chỉ” gây bệnh cho 2387 người, trong khi VIH gây nhiễm hơn 6000 người mỗi năm chỉ riêng ở Pháp.
” Sự dậm chân tại chỗ của công tác nghiên cứu chống Ebola cũng liên kết với khía cạnh đặc biệt không thể tiên đoán được của dịch bệnh và do số lượng những trường hợp được đăng ký trước cơn bộc phát hiện nay “, nhà nghiên cứu nói tiếp. Thế mà để đánh giá một điều trị, phải thực hiện trên nhiều ngàn bệnh nhân.
Còn về các vaccin, phải tiêm chúng cho những người mà ta biết rằng họ có những nguy cơ lớn bị lây nhiễm sau đó bởi virus được nhắm đến.
Ngoại trừ, ” trái với những bệnh chưa có vaccin khác, trong đó có sida, những quần thể có nguy cơ bị Ebola không được nhận diện một cách rõ ràng, những trận dịch xuất hiện cho đến này đều bộc phát một cách bất ngờ và gần như khắp nơi ở châu Phi “, Sylvain Baize đã nhấn mạnh như vậy.
Giải pháp duy nhất : trắc nghiệm những thuốc chống Ebola lúc xảy ra một trận dịch lớn. Như trận dịch hiện nay.
GỞI NHỮNG ĐIỀU TRỊ THÍ NGHIỆM PHẢI CHĂNG ĐỦ ĐỂ LÀM DỪNG LẠI DỊCH BỆNH ?
Mặc dầu sự chấp nhận bởi OMS các điều trị và những vaccin thí nghiệm đã tạo nên một hy vọng lớn ở châu Phi, nhưng than ỏi những loại thuốc này, một mình chúng, sẽ không có thể ngăn chặn cơn bộc phát hiện nay. ” Hướng này đáng lưu ý nhưng bị hạn chế “, Jean-François Delfraissy, giám đốc của viện vi trùng học và bệnh truyền nhiễm (Paris) đã xác nhận như vậy.
Vì những lẽ đã rõ : mặc dầu những điều trị này có hiệu quả và an toàn trên quy mô lớn, và mặc dầu tất cả những phòng xét nghiệm liên hệ chấp nhận theo ý kiến của OMS (thí dụ cho đến nay hãng GSK đã không tuyên bố…), các stock vẫn không đủ để điều trị tất cả những người bị nhiễm bởi virus (3069 vào 28/8/2014) hay có nguy cơ (nhiều triệu). Thí dụ, Hoa kỳ đã chỉ có thể gởi 10 đến 12 liều sérum ZMapp ! Không nghĩa lý gì..Còn Canada, nước này đã chỉ có thể hiến 800 đến 1000 liều vaccin. Một giọt nước so với phạm vi của dịch bệnh…Và không thể sản xuất nhiều hơn : phải cần nhiều tháng để chế tạo vài trăm liều ZMapp.
Vậy các mẫu thuốc được cho chỉ được sử dụng cho vài người…được chọn lọc bởi giới hữu trách y tế địa phương và ta không biết sẽ có những kiểm soát ở những nơi này hay không. Ngày 16/8, Liberia loan báo đã điều trị 3 nhân viên y tế với ZMapp, như thế biểu thị một “ưu tiên” đối với nhân viên y tế hơn là đối với các bệnh nhân.
Sau đó, điều trị các bệnh nhân và tiêm chủng không đủ để ngăn chặn trận dich này. ” Cũng phải phá vỡ dây chuyền truyền bệnh giữa người với nhau để tránh những trường hợp mới “, Sylvain Baize đã nhấn mạnh như vậy.
Giải pháp ở đây có tính chất y tế hơn là y khoa : ” Phương tiện hiệu quả nhất để làm ngừng trận dịch là nhận diện những trường hợp Ebola để cách ly chúng và điều trị chúng, đồng thời truy tầm đối với mỗi trường hợp những người đã tiếp xúc. Cũng phải giáo dục dân chúng về những pratique funéraire có nguy cơ và đảm bảo rằng nhân viên điều trị kiểm soát nghiêm túc những nhiễm trùng trong các bệnh viện, CDC (Centre américain de controle et de prévention des maladies) đã xác nhận như vậy trên Internet. Cũng như vậy mà tất cả những trận dich trước đã được ngăn chặn.”
(SCIENCES ET VIE 10/2014)

9/ MỘT MẪU NGHIỆM MÁU ĐỦ ĐỂ NHẮM ĐÍCH TỐT HƠN UNG THƯ.
Tìm một điều trị chống ung thư thích ứng nhất đối với mỗi bệnh nhân chỉ nhờ một xét nghiệm máu : đó là lời hứa hẹn của một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu của đại học Havard (Hoa Kỳ). Thật vậy, mỗi bệnh nhân có những ung thư có profil di truyền rất đặc biệt, phản ứng tốt ít hay nhiều với vài điều trị. Do đó hiện nay một hướng nghiên cứu nhằm cá thể hóa những điều trị, bằng cách trắc nghiệm chúng trước trên những mẫu những tế bào ung thư được lấy ở các bệnh nhân. Nhưng những tế bào có được từ sinh thiết khó tồn tại ngoài môi trường của chúng. Do đó các nhà nghiên cứu đã cố gắng thu hồi những tế bào ung thư được tách ra từ những khối u và lưu thông trong máu. Những tê bào này được nghĩ là tồn tại tốt hơn in vitro. Và những kết quả đáng phấn khởi : các nhà khoa học đã cấy được những tế bào ung thư phát xuất từ những bệnh nhân bị một ung thư vú. Như thế họ đã có thể phát hiện những gène có liên hệ trong tiến triển của căn bệnh và trắc nghiệm tính hiệu quả của những điều trị khác nhau trên những canh cấy này. Bây giờ vấn đề còn lại là cải thiện kỹ thuật này và xác nhận rằng những trắc nghiệm này tiên đoán một cách đáng tin cậy tính hiệu quả của những điều trị một khi được áp dụng cho các bệnh nhân.
(SCIENCES ET VIE 10/2014)

10/ RĂNG CHE DẤU MỘT NGUỒN BẤT NGỜ NHỮNG TẾ BÀO GỐC
Nếu ta đã biết rằng tủy răng (pulpe dentaire) (phần bên trong nhất của răng) chứa một lượng nhỏ những tế bào gốc (cellules souches), nguồn gốc của chúng vừa được phát hiện bởi những nhà nghiên cứu Thụy Điển : chúng phát xuất từ những dây thần kinh của răng. Thật vậy những tế bào thần kinh di chuyển một cách đều đặn đến tủy răng, để trở lại trạng thái những tế bào chưa được biệt hóa (cellules indifférenciées). Một sự bất ngờ thật sự đối với những nhà khoa học. Hiểu cơ chế của quá trình này có thể mở đường cho một cách chế tạo mới những tế bào gốc này, rất hữu ích để điều trị nhiều loại bệnh.
(SCIENCES ET VIE 10/2014)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(28/10/2014)

 

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s