Thời sự y học số 348 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG DỊ ỨNG : TRẬN DỊCH THẾ GIỚI ĐÃ BẮT ĐẦU.
Pollen, acarien, lạc (cacahouète)…Số lượng và tần số của những bệnh lý hô hấp và đồ ăn uống, gây nên bởi các dị ứng nguyên đã tăng cao một cách ngoạn mục. Sự ô nhiễm không khí, những thay đổi khí hậu và sự công nghiệp hóa thực phẩm là những nguyên nhân. Điều tra.Một sự bùng nổ. Trong vòng 20 năm, tần số của những viêm mũi theo mùa (rhinite saisonnière) và hen phế quản đã tăng gấp đôi trong các nước công nghiệp hóa. Ở châu Âu, 87 triệu người từ nay bị những bệnh lý dị ứng và cứ 4 đứa trẻ thì có một bị liên hệ, chủ yếu bởi những dị ứng thức ăn, chàm và hen phế quản. Đó là chưa kể những dị ứng thuốc mà ta không đề cập ở đây. Tất cả mọi lứa tuổi từ nay bị liên hệ bởi điều từ nay được xem như là một “trận dịch thế giới”. Ở Pháp, cũng như ở nơi khác, tình hình đáng lo ngại : tần số của viêm mũi dị ứng (rhinite allergique) (rhume de foins) đã tăng gấp ba 25 năm qua ! Và cũng chẳng tốt lành hơn ở những nước láng giềng chúng ta. ” Ở Thụy Điển, tỷ lệ lưu hành của viêm mũi dị ứng đã chuyển từ 5% lên 8% giữa năm 1979 và 1977. Ở Đan Mạch tỷ lệ này đã gia tăng 50% giữa năm 1989 và 1977. Những tăng cao như thế có vẻ quá quan trọng để có thể chỉ quy cho sự biến đổi của những phương pháp chẩn đoán “, Thierry Chinet, thầy thuốc chuyên khoa bệnh phổi thuộc bệnh viện Ambroise Parré de Boulogne-Billancourt (Hauts-de-Seine) đã đưa ra nhận xét như vậy. Những quan sát này làm lo ngại các chuyên gia, chứng thực những ảnh hưởng quan trọng của chúng lên sức khỏe cộng đồng. ” Theo vài ước tính, tỷ lệ những người bị dị ứng sẽ đạt 50% giữa năm 2035 và 2050 “, ta có thể đọc như thế trong Le Grand Livre des allergies, được xuất bản vào tháng ba năm 2014 bởi Société française d’allergologie (SFA). Thế thì lỗi tại ai ? Hai kẻ khả nghi nổi rõ : sự ô nhiễm không khí và những thay đổi khí hậu.
SỰ SƯỞI ẤM KÍCH THÍCH SỰ SẢN XUẤT POLLEN” Sự sưởi ấm khí hậu hiện nay có thể ảnh hưởng sự dị ứng đối với phấn hoa bởi vì nó làm biến đổi những vùng phân bố của các thực vật sinh sản và kéo dài mùa nở hoa (saison de floraison). Ngoài ra, sự gia tăng của CO2 trong không khí khả dĩ làm gia tăng những lượng phấn hoa được sản xuất và tăng cường tính chất gây dị ứng của chúng”, Thierry Chinet đã chỉ rõ như vậy. Người ta cũng đã quan sát rằng lượng những dị ứng nguyên (allergène) (những chất gây ra phản ứng dị ứng) trong những hạt phấn hoa của ambroisie gia tăng với nhiệt độ. Thế mà loại cây lan tràn này, bao phủ toàn bộ các cánh đồng trong vài vùng của thung lũng sông Rhône, có những đặc điểm sinh nhiều phấn hoa : 90 triệu hạt mỗi gramme ! Và dân chúng tiếp xúc với loại cây này đã gia tăng hơn 70% giữa 2008 và 2011. Kết quả : những chi phí y tế có thể quy cho ambroisie trong vùng Rhône-Alpes hôm nay tăng lên khoảng 20 triệu euro so với 13,9 triệu năm 2014.
Nhiều công trình nghiên cứu cũng cho thấy rằng nhiệt độ có một ảnh hưởng lên thời điểm bắt đầu của sự thụ phấn (pollinisation). Trong khi mùa thường bắt đầu khoảng giữa tháng tư ở Bruxelles (Bỉ) trong những năm 1970, từ nay nó bắt đầu 30 ngày sớm hơn, gây tiếp xúc sớm hơn những người nhạy cảm. Cũng vậy, ở Anh những cây phỉ (noisetier) phóng thích những phấn hoa của chúng với 15 ngày trước so với thập niên trước đây. Mùa thụ phấn cũng được tiếp tục lâu hơn. Thời gian của thời kỳ thụ phấn của ambroisie đã kéo dài 12 ngày ở Madison (Wisconsin, Hoa Kỳ) và 27 ngày trong Saskatchewan, ở Canada. Ngoài ra, sự sưởi ấm khí hậu dường như ảnh hưởng sự phân bố địa lý của các cây sinh dị ứng (plantes allergisantes). Các loài cây ở phía Nam di cư dần dần về phía Bắc, ở đây nhiệt độ ôn hòa hơn. Đó đặc biệt là trường hợp đối với những olivier mà phấn hoa rất gây dị ứng. Một sự tiến triển có tính chất gây nên sự xuất hiện của những bệnh lý liên kết trong những vùng mà chúng chưa từng hoành hành : ambroisie như thế đã bắt đầu xuất hiện trong miền nam của Thụy Điển.
MỐI NGUY HIỂM CŨNG ẨN DẤU TRONG NHỮNG CHỖ Ở.
Sự ô nhiễm không khí cũng tỏ ra là một yếu tố làm gia trọng. Bắt đầu với những hạt mịn hiện diện trong không khí. Mới đây người ta đã chứng minh rằng sự biểu hiện của các gène trong những tế bào người có thể bị biến đổi bởi những hạt nhỏ này, gây nên những biến đổi hóa học (hyperméthylation) của ADN. Một phénomène épigénétique, không hàm ý một sự biến đổi của chính séquence d’ADN.” Ta đã có thể đặt tương quan sự hiện diện của một gène (ACSL3) hyperméthylé trong máu của cuống rốn với một sự tiếp xúc của người mẹ với những hydrocarbure aromatique polycyclique, hiện diện trong những chất phát ra từ những động cơ Diesel. Điều đó đã gây nên những triệu chứng hen phế quản ở trẻ em, BS Anne Tsicopoulos, thầy thuốc chuyên khoa phổi-dị ứng ở CHUR de Lille đã chỉ rõ như vậy. Cũng vậy, ta đã quan sát một hyperméthylation của gène FOXP3, có liên hệ trong sự phát triển của những tế bào lympho T điều hòa (một loại bạch cầu có nhiệm vụ kềm hãm phản ứng dị ứng) ở những trẻ hen phế quản bị tiếp xúc với những mức độ mạnh của ô nhiễm không khí.
NHỮNG TIẾN BỘ VỀ VỆ SINH ĐÓNG MỘT VAI TRÒ.
Các dị ứng nguyên cũng ẩn dấu bên trong các chỗ ở. Ngoài những acarien phát từ các chiếc nệm hay nấm mốc của các nhà ở ẩm ướt, từ nay phải tính đến những hợp chất bay hơi phát xuất từ các công trình đổi mới hay formaldéhyde hiện diện trong những meuble en aggloméré. Một sự tiếp xúc càng quan trọng khi các dân thành thị từ nay trải qua đến 80% thời gian của họ trong những gian phòng, ở nơi làm việc hay tại nhà, thường ít được thông khí và càng ngày càng bị cô lập.
Một hiện tượng khác cũng khả nghi để giải thích sự bùng nổ của các dị ứng (boom des allergies) : sự cải thiện vệ sinh và do đó những nhiễm trùng trong những nước phương Tây. Đó là “lý thuyết vệ sinh” (théorie hygiéniste). Sự thiếu tiếp xúc với những tác nhân nhiễm trùng (vi khuẩn, virus, ký sinh trùng) gây nên một sự kích thích ít hơn của những tế bào của hệ miễn dịch. Trái lại môi trường nông thôn, với sự hiện diện của các gia súc, có một tác dụng bảo vệ vì lẽ số lượng vi khuẩn lớn liên kết với chúng. ” Những công trình nghiên cứu, được tiến hành trên các trẻ em từ 5 đến 13 tuổi, đã chứng minh tác dụng bảo vệ của nó đối với sự xuất hiện viêm mũi và hen phế quản, nhưng cũng trong sự mẫn cảm đối với những dị ứng nguyên thức ăn và không khí “, GS Denise-Anne Moneret-Vautrin, professeur émérite của đại học Lorraine và thành viên của Viện hàn lâm y học quốc gia, đã chỉ rõ như vậy.
Ngoài những dị ứng hô hấp, những dị ứng thức ăn cũng tham gia vào tai ương toàn cầu. Bởi vì chúng đang bành trướng mạnh.” Tỷ lệ lưu hành của chúng gia tăng ở Pháp, nhất là ở những trẻ em rất nhỏ “, BS Claude Ponvert, thuộc khoa Nhi bệnh viện Necker (Paris) đã xác nhận như vậy.” Trong những nước phát triển, một dị ứng thức ăn được quan sát ở 3 đến 8% những trẻ em và 1 đến 3% những người lớn. Những tỷ lệ lưu hành biến thiên tùy theo nước, nhưng đã gia tăng trong những năm qua, BS Egidio Barbi, thuộc Viện sức khỏe bà mẹ và trẻ em Trieste (Ý) đã xác nhận như vậy. Ở Hoa Kỳ, 3,9% các trẻ em dưới 18 tuổi bị bệnh lý này, điều này thể hiện một sự gia tăng tỷ lệ lưu hành trong vòng 10 năm.”
Nếu hiện tượng khuếch đại, một phần lớn chính bởi vì những phương thức chế tạo của của công nghiệp nông phẩm (industrie agroalimentaire). Bên cạnh những dị ứng nguyên cổ điển như sữa, trứng và arachide, ta chứng kiến sự xuất hiện của những dị ứng nguyên thức ăn mới, càng ngày càng được sử dụng trong những thức ăn mà trước đây ta không nghi ngờ sự hiện diện của chúng. Thí dụ sarrasin (lúa mì đen), thành phần của các galette của Bretagne, hôm nay có mặt trong những sandwich, những barre de céréales hay mì dẹt Á châu (nouilles asiatiques). Sự ghi chú về sự hiện diện của chúng không bắt buộc trên các nhãn hiệu, điều này biến chúng thành một ” kẻ thù dấu mặt ” đáng sợ.” Ta đã đếm được 23 trường hợp phản vệ nặng đối với sarrasin từ năm 2010, nhưng không một trường hợp tử vong nào đã được ghi nhận “, Réseau d’allergovigilance (RAV) đã xác nhận như vậy. Soja, được sử dụng rộng rãi bởi vì ít đắc hơn so với những protéine động vật. Soja đặc biệt hiện diện trong steak công nghiệp, những boulette de viande, “nuggets” và trong nhiều sản phẩm bio (crèmes, dessert..)
Những trường hợp phản vệ nặng đối với soja đã được báo cáo ở những người dị ứng với arachide, và những người nhạy cảm với pollen de bouleau có một nguy cơ gia tăng bị phản ứng phản vệ.
VẤN ĐỀ ĐÁNG LO NGẠI CỦA NHỮNG ISOLAT DE BLE
Vấn đề được đặt ra bởi những isolat hay hydolysat de blé (cũng được gọi là “gluten déamidé”), phát xuất từ những phương thức chế tạo được sử dụng để làm hòa tan gluten, là đặc biệt đáng quan ngại. ” Từ năm 2002 đến 2013, những isolat de blé là nguyên nhân của 1,51% những trường hợp phản vệ “, RAV đã xác nhận như vậy. Chúng hiện diện trong thịt được tái tạo (viandes reconstituées), charcuteries industrielles, saucisses-lentilles, soupe và sauce. ” Chúng minh họa tiềm năng phản vệ của prêt-à-consomer “, BS Franoise Codreanu-Morel, khoa miễn dịch-dị ứng thuộc Centre Hospitalier de Luxembourg đã xác nhận như vậy. Bệnh nhân dị ứng chịu hậu quả bởi vì không có phương tiện nào để biết sản phẩm được mua chứa bột lúa mì tự nhiên (không gây dị ứng) hay isolat de blé.” Thật vậy, một chỉ thị châu Âu buộc dán nhãn những ngũ cốc chứa gluten, nhưng không định rõ gì hơn, điều này làm cho sự loại bỏ đặc hiệu (éviction spécifique) trở nên tế nhị. Sau cùng, từ vài năm nay, những hydrolysat de blé cũng được sử dụng trong những mỹ phẩm (mascaras, crème de soins, shampooings) và có một dị ứng chéo với những isolat alimentaire.
Sự nghiên cứu tiến triển trong một kiến thức càng ngày càng tinh tế về nhưng cơ chế gây dị ứng. Những công trình nghiên cứu mới đây đã xác lập một mối liên hệ, nguồn gốc di truyền, giữa dị ứng da và thức ăn. Filaggrine, một protéine đảm bảo sự dính kết của những tế bào của biểu bì, và thiếu hụt hay không có ở những người bị eczéma (dermatite atopique), có thể là nguyên nhân của một dị ứng đối với …arachide ! Một cách đơn giản do sự đi xuyên qua da của dị ứng nguyên thức ăn rất bay hơi này, hiện diện trong không khí bao quanh ở những gia đình có một sự tiêu thụ nhiều arachide (cacahouètes, beurre de cacahouètes).
KHÔNG KHÍ BỊ Ô NHIỄM CŨNG TẠO ĐIỀU KIỆN CHO NHỮNG DỊ ỨNG THỨC ĂN.
Một khả năng thẩm thấu giải thích tại sao các crème chứa những protéine alimentaire khuyên không nên sử dụng ở những người nhạy cảm…và những người khác. Khám phá mới khác : mối liên hệ giữa dị ứng hô hấp và dị ứng thức ăn. Như thế, có thể rằng sự tiếp xúc với không khí, bị ô nhiễm trong những vùng giao thông xe cộ, gây nên, do sự nuốt vào, một nguy cơ gây cảm ứng và dị ứng thức ăn. Thật vậy những công trình nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy rằng sự nuốt vào khí ô nhiễm có thể làm phá vỡ sự dung nạp đối với vài dị ứng nguyên được chứa trong những thức ăn.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2014)

2/ NHỮNG DỊ ỨNG : CĂN BỆNH CỦA THẾ KỶ.
Được xếp loại bởi OMS như là căn bệnh của thế kỷ, các dị ứng không ngừng gia tăng. Không gì dường như làm ngừng lại căn bệnh của thế kỷ này, được duy trì bởi những lối sống của chúng ta. Điều tra.
Đối với vài người, không cần phải đi Irak mới nguy hiểm tính mạng, chỉ một tartine với beurre de cacahuète cùng đủ gởi họ đến bệnh viện và tử vong. Đối với những kẻ khác, đó sẽ là một crustacé (loài tôm cua), một mũi chích của ong vò vẻ (piqure de guêpe), một kháng sinh, một tatouage… Đối với phần lớn, nỗi đau khổ dằng dai sẽ được thể hiện bởi đôi mắt bị kích thích, mũi chảy, các mảng và ngứa, ho và khó thở, và điều này chỉ cần tiếp xúc với acarien, lông mèo, những hạt gây ô nhiễm (particules polluantes) hay phấn hoa được gió làm phân tán. Với những thời kỳ cao điểm như mùa xuân đến, mang theo bệnh sổ mũi mùa (rhume des foins), hay những cao điểm ô nhiễm như cao điểm vừa hoành hành trên một phần lớn của nước Pháp.
Không hẳn là vô hại, căn bệnh đang gia tăng lũy tiến này trên khắp hành tinh có thể được kể vào trong số những bệnh lý của thế kỷ. OMS xếp loại những dị ứng vào hàng thứ tư của các bệnh mãn tính trên thế giới. Lại còn đáng quan ngại hơn, tổ chức y tế thế giới ước tính rằng, từ nay đến 2050, cứ hai người sẽ có một bị dị ứng. Ở Pháp, hôm nay có 15 triệu người bị dị ứng, hoặc 20% dân số. Một con số gần như tăng gấp đôi mỗi 10 năm, và nhất là ở những trẻ em và những thiếu niên.Nhưng những dị ứng này đến từ đâu và tại sao có sự bộc phát đột ngột này, trong khi đó căn bệnh không từng là một chủ đề trong những năm 50, 60 và ngay cả 70 ? ” Dị ứng, đó là một đáp ứng không thích đáng và quá mức của hệ miễn dịch khi cơ thể được cho tiếp xúc với một chất lạ được nhận diện lầm là có tính chất nguy hiểm, Denise-Anne Moneret-Vautrin, giáo sư thuộc phân khoa y khoa của trường đại học Henri-Poincaré de Nancy đã giả thích như vậy. Đó là một căn bệnh do nhiều yếu tố, phức tạp, sinh ra do sự gặp gỡ của một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) với nhiều yếu tố môi trường. Nó có thể xuất hiện vào bất cứ lúc nào, ở bất cứ lứa tuổi nào.”
Thật vậy, đó là một sự suy yếu của hệ miễn dịch, được khởi động một cách không đúng lúc. Và sự loạn năng này có thể có nhiều yếu tố phát khởi. Được biết nhất và lan tràn nhất là phấn hoa (pollen). Dị ứng xảy ra theo mùa. Nó xuất hiện vào mùa xuân và biến mất vào mùa hè. Nó được biểu hiện bởi các cơn hách xì, những triệu chứng ngứa mũi, những viêm kết mạc, chảy nước mũi, với những nguy cơ bị những biến chứng và tiến triển thành hen phế quản mãn tính. Thế mà căn bệnh dường như phát triển trong khi đó không còn cây cối hay hoa lá như trước nữa. Và có lẽ ngay cả ít hơn, xét vì sự đô thị hóa gia tăng. Điều gì đã xảy ra ? Phải chăng các phấn hoa đã thay đổi ? Cơ thể của chúng ta phải chăng nhạy cảm hơn.? Các thầy thuốc chuyên khoa dị ứng cáo buộc sự ô nhiễm không khí và những hạt phát xuất từ các khí thoát (gaz d’échappement) ra từ những chiếc xe hơi. ” Những chiếc xe hơi này phóng thích NO2 (dioxyde d’azote), khí này có thể làm biến đổi cấu trúc sinh hóa của các phấn hoa và kích thích sức mạnh của chúng, GS Michel Aubier, trưởng khoa pneumologie thuộc bệnh viện Bichat, đã giải thích như vậy. Những dị ứng nguyên gắn vào các hạt được phát ra từ những động cơ Diesel cũng đi sâu vào trong bộ máy hô hấp.” Dioxyde d’azote ngay cả, theo những công trình nghiên cứu của một nhà hóa học Đức Ulrich Poschl, có thể làm trở thành dị ứng nguyên những protéine phát xuất từ các phấn hoa trước đây vô hại. Đó là điều gây lo lắng.
Lại còn nguy hại hơn ; kẻ thù ẩn mình trong các hốc kẽ giường và nẩy nở trong những nội thất của chúng ta càng ngày càng tù hãm và thường kém được thông khí. Christine Rolland, giám đốc của hiệp hội Hen Phế quản & Dị ứng, quan sát rằng : ” Nguồn gốc của sự bộc phát những dị ứng đồng phát với choc pétrolier đầu tiên. Một biến cố đưa đến những biện pháp tiết kiệm kinh tế năng lượng trong đó isolation et calfeutrage các chỗ ở. ” Những chỗ ở này đã trở thành những canh cấy thật sự trong đó vi trùng, acarien và nấm mốc tăng sinh.
Trên thực tế, sự ô nhiễm nội thất là nguyên nhân lớn nhất của những bệnh hô hấp, theo các chuyên gia dị ứng, mặc dầu không có những dữ kiện số làm cơ sở cho những quan sát của họ. Nhưng phải biết rằng trung bình chúng ta trải qua 22 giờ mỗi ngày trong không gian kín. Và trong khi trong những nhà xây cổ, không khí trung bình được đổi mới mỗi 30 phút, phải tính ít nhất 10 giờ trong một ngôi nhà hiện đại được cách biệt hẳn. Ngoài ra, khói thuốc lá, monoxyde de carbone và những chất hóa học và hợp chất hữu cơ bay hơi phát xuất từ sơn và những sản phẩm bảo dưỡng khác làm khuếch đại hiện tượng. Coctail d’allergènes xâm nhập và có hại trong nội thất hơn là bên ngoài.
Những người bạn của chúng ta, các động vật, cũng có phần trách nhiệm. Dầu chúng là gia súc hay ngoại lai. Dị ứng nguyên được ẩn dấu trong lông, nước miếng, và những mảnh da của chúng…Không quên những tác hại của những kẻ len lỏi mới. GS Michel Aubier nêu lên con bọ rùa (coccinelle) Harmonia Axyridis, gốc châu Á, được đưa vào trong các ngôi vườn để chống lại một cách tự nhiên những con rệp hại cây (puceron). Chúng xâm nhập các chỗ ở vào mùa đông.
Tai họa ở khắp nơi. Nó cũng ở trong các đĩa ăn. Trong các nước công nghiệp hóa, các dị ứng thức ăn (cần phân biệt với những intolérance alimentaire không làm hệ miễn dịch can thiệp và không có cùng những triệu chứng) gây bệnh 10 đến 25% những trẻ em và đến 10% những người lớn. Những dị ứng này càng xảo trá khi chúng có khả năng gây những phản ứng dữ dội như một phù Quincke hay một choáng phản vệ. Một cách chính thức ta đếm được khoảng 100 dị ứng nguyên nhưng, theo GS Denise-Anne Moneret-Vautrin : ” Mỗi thức ăn đều có nguy cơ gây một dị ứng. Những trao đổi và sự xuất hiện của những thực phẩm mới, những trái cây ngoại lai, ví dụ những kivi, đã chứng minh điều đó”. Và những phương thức chế tạo làm tăng cường hiện tượng. GS Monerte-Vautri ghi nhận một sự gia tăng tần số những khám bệnh trong những năm 1985-1990, trùng hợp với sự phát triển mạnh của thức ăn công nghiệp.” Sự kiện thêm vào những chất hay sự kiện phân lập các protéine để đưa chúng vào trong thức ăn có tác dụng âm tính lên khuẩn chí ruột (flore intestinale).”
Sau cùng, và nhất là, các thầy thuốc chuyên khoa dị ứng tự hỏi về hậu quả tai ác của một tình trạng quá vệ sinh đứng trước các mầm bệnh hay những vi trùng khác. Sự làm cho hợp vệ sinh nước uống, sự khử trùng toàn thể, sự dùng tăng cường của các kháng sinh đã tiêu diệt các vi sinh vật, dầu là chúng tốt hay xấu. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng những trẻ sơ sinh, được tiếp xúc sớm trong cuộc đời với rất nhiều vi khuẩn khác nhau, có ít những nguy cơ hơn nhiều phát triển những phản ứng dị ứng sau này. Ngoài ra các nhà nghiên cứu đã quan sát rằng những em bé được sinh bằng đường âm đạo ít bị những dị ứng hơn nhưng em bé được sinh ra bằng mổ dạ con (césarienne). Lối sống của chúng ta, mà ta mong ước ngày càng được khử trùng, trở thành điểm yếu của chúng ta (talon d’Achille). Và, thay vì được làm quen với thuốc độc, hệ phòng ngự của chúng ta bị suy yếu. Thật vậy, sự kích thích sớm hệ miễn dịch bởi vài loại vi khuẩn đóng một vai trò phòng ngừa những bệnh dị ứng.
Còn tệ hại hơn, chúng ta có thể bị chi phối bởi một môi trường gây dị ứng. ” Những công trình nghiên cứu mới đây cho thấy rằng chất lượng của môi trường trong đó một phụ nữ có thai sinh hoạt sẽ có những hậu quả lên sự tạo thành của hệ miễn dịch của đứa bé sẽ được sinh ra đời, GS Pascal Demoly, thuộc CHU de Montpellier, đã xác nhận như vậy. Khói thuốc lá, sự ô nhiễm không khí, sự tiếp xúc với các ký sinh trùng, chế độ ăn uống, các loại thuốc, có thể tác động và biến đổi sự biểu hiện của các gène của phôi thai, làm nó dễ phát khởi một dị ứng hơn.”
Tình huống, như ta thấy, tỏ ra phức tạp, điều này được xác nhận bởi thái độ lần lữa và thay đổi của những thầy thuốc chuyên về dị ứng của chúng ta. Họ mò mẫm, khuyên nên như thế này rồi lại khuyên không nên. Thí dụ, sau khi đã khuyến khích các bà mẹ thực hiện sớm hơn sự đa dạng hóa thức ăn (diversification alimentaire), họ lại khuyên điều nược lại khi chiến lược này thất bại. Cũng vậy, sau khi đã cáo giác sự tiêu thụ những sản phẩm chứa lạc (arachide) ở phụ nữ có thai, hôm nay họ lại cho rằng, dựa trên những nghiên cứu mới, sự tiêu thụ này là không nguy hiểm.
(LE FIGARO MAGAZINE 22/3/2014)

3/ DỊ ỨNG : PHÂN BIỆT ĐÚNG VÀ SAI
Nhiều ý nghĩ, định kiến hay là không, về những rối loạn của hệ miễn dịch. Điều quan trọng là phai biết chọn lựa.
PHẢI CHĂNG CHÚNG TA KHI SINH RA ĐÃ DỊ ỨNG ?
Không, nhưng chúng ta sẽ trở nên dị ứng. Thai nhi đuoc đặc trưng bởi một tình trạng miễn dịch đặc biệt, với nhiều những tế bào lympho Th2 hơn là Th1. “Profil” Th2 này đảm bảo sự dung nạp (tolérance) thai nhi bởi người mẹ mang thai, bình thường sẽ thải bỏ ” vật ghép ” này. Sau khi sinh, tiến triển dần dần hướng về profil Th1. Thế mà ở những nhũ nhi atopique, voi tố bẩm di truyền dị ứng (prédisposition génétique à l’allergie), sự cân bằng này không xảy ra. Nhưng ” thể địa ” tố bẩm này không đủ để trở thành dị ứng. Còn cần phải gặp những dị ứng nguyên (allergène), điều này có lẽ sẽ không bao giờ xảy ra.
Thì ra là môi trường trong tử cung và môi trường của thời thơ ấu đóng một vai trò quan trọng. Sự tiêu thụ thuốc lá ở bà mẹ mang thai là một yếu tố làm gia tăng sự gây cảm ứng thức ăn (sensibilisation alimentaire) ở trẻ nhỏ ; ở chúng, ta quan sát thấy trong máu của cuống rốn một tỷ lệ những tế bào lympho được gọi là điều hòa (Tregs) ít hơn. Những tế bào này ức chế những phản ứng viêm được gây nên bởi những tế bào lympho Th2. Mặt khác, sự hít vào khói thuốc lá trong ba năm đầu của cuộc sống cũng là một yếu tố làm gia tăng nguy cơ bị dị ứng thức ăn. Ảnh hưởng của dinh dưỡng của phụ nữ có thai cũng bắt đầu được nghiên cứu. Những kết quả thu được còn được tranh luận, đôi khi được tranh cãi. Ta không biết một cách chắc chắn sự cho bú có đóng một vài trò bảo vệ hay không. Ở những bà mẹ atopique, césarienne dường như làm gia tăng nguy cơ dị ứng thức ăn của nhũ nhi ; ở nó dị ứng sữa tồn tại một cách bất thường. Điều đó có thể tương quan với sự kiện là đứa trẻ được sinh ra bằng mổ dạ con có ruột vô trùng, trái với trẻ được sinh ra bằng đường âm đạo có ống tiêu hóa được cấy bởi những vi khuẩn hiện diện trong âm đạo, chứa nhiều loại vi khuẩn bảo vệ. Ngoài ra dường như sự tiếp xúc với những gia súc không phải là một yếu tố làm dễ.
CÓ DI TRUYỀN KHÔNG ?
Không có “gène dị ứng” mà sự truyền hàm ý một nguy cơ gia tăng phát triển một bệnh dị ứng. Ngược lại, đúng là có một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique), atopie, đặc biệt tạo một nguy cơ quan trọng mắc phải một pollinose hay dermatite atopique. Atopie được thể hiện bởi một sự sản xuất thừa bởi hệ miễn dịch những kháng thể IgE được hướng một cách đặc hiệu chống lại những dị ứng nguyên. Một đứa trẻ có cả cha lẫn mẹ bị một dị ứng hô hấp hay da (hen phế quản, viêm mũi dị ứng, chàm) có 60% nguy cơ chính mình bị bệnh. 30% nếu hoặc cha hay mẹ bị bệnh và 15% nếu không có một ai bị bệnh. Đối với dị ứng thức ăn, những công trình nghiên cứu trên những trẻ sinh đôi thật sự ước tính tính di truyền (héritabilité) là 81,6%. Nguy cơ dị ứng arachide được nhân lên 7 trong một gia đình có loại những tiền sử này.
Vậy nếu có một thành phần di truyền trong dị ứng, sự phân tích hoàn toàn génome và những so sánh được thực hiện với quy mô lớn giữa những người lành mạnh và bị bệnh da cho phép nhận diện vài polymorphisme génétique. Sự biểu hiện của những gène này thay đổi trong suốt cuộc đời tùy theo môi trường : những nhiễm trùng, những tiếp xúc với những dị ứng nguyên,…Những dị ứng nguyên này đặc biệt liên hệ trong phản ứng viêm đi kèm dị ứng, vai trò phòng vệ da đối với môi trường bên ngoài và sự chống lại nhiễm trùng…Sự ô nhiễm cũng ảnh hưởng lên sự biến hiện của vài gène. Như thế, sự cảm ứng (sensibilisation) gia tăng ở những nhũ nhi tiếp xúc với những chất gây ô nhiễm phát xuất từ sự giao thông xe cộ khi những nhũ nhi này mang vài polymorphisme génétique của gène của glutthion-S-transférase.
SỰ KHÁC NHAU GIỮA DỊ ỨNG VÀ SỰ KHÔNG DUNG NẠP
Chúng không liên hệ gì với nhau cả.Một dị ứng (allergie) là một đáp ứng bất thường của hệ miễn dịch đối với một protéine, một dị ứng nguyên, trên lý thuyết không độc đối với đa số những người. Những triệu chứng có thể thay đổi. Ngược lại, một sự không dung nạp thức ăn (intolérance alimentaire), được gọi là dị ứng giả (fausse allergie), không huy động hệ miễn dịch và không đe dọa tính mạng. Những triệu chứng chủ yếu là tiêu hóa.
MỘT DỊ ỨNG CÓ THỂ BIẾN MẤT MỘT CÁCH TỰ NHIÊN KHÔNG ?
Vâng, đối với vài loại dị ứng. ” Đó chủ yếu là những dị ứng sữa, lúa mì và trứng và nói chung điều đó xảy ra trước 5 tuổi “, BS Lisa Giovannini-Chami, allergopédiatre thuộc CHU de Nice, đã xác nhận như vậy. Ngược lại, những dị ứng thức ăn khác (arachide, fruits à coque, cá) thường bền lâu và dai dẳng đến tuổi trưởng thành. Những dị ứng hô hấp do pollen không biến mất nhưng có thể giảm với thời gian, khi đó những triệu chứng ít rõ rệt hơn. Nhưng có một ý tưởng sai lạc cần chống lại : sự biến mất của hen phế quản ở tuổi thiếu niên. ” Trái lại, điều quan trọng là theo dõi tốt ở lứa tuổi này một hen phế quản hay một dị ứng được biết, vì cậu thiếu niên không muốn đi khám bệnh và không luôn luôn được trang bị một kit d’urgence”, BS Thierry Haddad, allergologue (Paris) đã ghi nhận như vậy. Sau cùng, một lời khuyên nhỏ để làm biến mất gần như ” ngẫu nhiên” dị ứng đối với acariens : sống ở độ cao. Trên 1500 mét, những vi sinh vật này sẽ không sống sót..
ĐIỀU ĐÓ CÓ THỂ NGHIÊM TRỌNG KHÔNG ?
Vâng, và đôi khi ngay cả gây tử vong vì nguy cơ choáng phản vệ. Trong gần 50% các trường hợp, choáng được phát khởi bởi một dị ứng thức ăn. Nhưng trong 15 đến 20% những trường hợp, nguyên nhân là do thuốc (AINS, những chất chứa iode, các kháng sinh…), nguyên nhân thứ ba thường gặp nhất gây choáng phản vệ là các nọc độc (venin). Dầu lý do và cơ chế của những phản ứng dị ứng cực kỳ này là gì, ” ta ước tính rằng tỷ lệ tử vong của choáng phản vệ là 1 đến 3 tử vong trên 1 triệu dân, hoặc khoảng 100 trường hợp tử vong mỗi năm ở Pháp “, GS Denise-Anne Moneret-Vautri, thành viên của Hội hàn lâm y khoa, đã xác nhận như vậy. Phải thêm vào con số này khoảng 1500 trường hợp tử vong mỗi năm bởi một cơn hen phế quản. Những người bị dị ứng biết là mình bị những thể nặng phải luôn luôn có trên mình bộ đồ cấp cứu (các antihistaminiques, corticoides và adrénaline en seringue auto-injectable). Đối với các trẻ em, một PAI (protocole d’accueil individualisé) phải được đặt ở trường để vấn đề của chúng được xét đến.
TA CÓ THỂ NHẠY CẢM VỚI NHIỀU DỊ ỨNG NGUYÊN ?
Vâng. Trước hết có những trường hợp đa dị ứng (polyallergie), cần phân biệt với đa cảm ứng (polysensibilisation), trong đó “cơ thể có những phản ứng da dương tính khi làm trắc nghiệm bởi thầy thuốc chuyên khoa dị ứng nhưng đã không bao giờ có những dấu hiệu lâm sàng và không nhất thiết phát khởi một ngày nào đó một phản ứng dị ứng”, BS Thương Nhân Phạm Thị, thầy thuốc chuyên khoa dị ứng và pneumo-pédiatre thuộc bệnh viện Necker (Paris) đã giải thích như vậy. Những đa dị ứng thường bắt đầu trong thời thơ ấu và liên kết nhiều yếu tố : thức ăn, phấn hoa, động vật, acarien, hen phế quản. Cũng có những dị ứng được gọi là chéo (allergie croisée) (phân biệt với những đa dị ứng) khi một người, đã từng phản ứng với một chất, cũng đáp ứng với một chất khác có thành phần tương tự. Ví dụ hơn một nửa những người bị viêm mũi-kết mạc đó những phấn hoa của bouleau, của noisetier hay của aulne cũng phản ứng với pomme, noisette và pêche.
MỘT CAO ĐIỂM Ô NHIỄM CÓ LÀM NẶNG MỘT DỊ ỨNG HÔ HÁP KHÔNG ?
Vâng. sự ô nhiễm khí quyển, mang những dị ứng nguyên được vận chuyển bằng đường không khí (allergène aéroporté), có thể làm phát khởi những triệu chứng của những người bị một dị ứng hô hấp do những dị ứng nguyên khác như acarien, nấm mốc hay phấn hoa. Một báo cáo mới đây của Agence nationale de sécurité sanitaire de l’alimentation, de l’environnement et du travail (Anses) chỉ rằng vài chất gây ô nhiễm hóa học (polluant chimique) có thể ảnh hưởng lên bệnh phấn hoa (pollinose).Thật vậy những chất này làm gia tăng khả năng phản ứng của các phế quản sớm hơn và mạnh hơn khi chúng được tiếp xúc với phấn hoa. Cũng vậy, chúng có thể làm gia tăng sự kích thích của những niêm mạc mũi hay mắt. Thí dụ, ozone làm biến đổi những niêm mạc hô hấp và làm gia tăng tính thẩm thấu của chúng, với hậu qua một phản ứng dị ứng với những nồng độ dị ứng nguyên thấp hơn.
Ngoài ra, những chất gây ô nhiễm hóa học có thể tương tác trực tiếp với những hạt phấn hoa, đồng thời gây sự biến dạng hay làm vỡ chúng, khi đó phóng thích những hạt nhỏ mà chúng chứa. Những công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng kích thước của những mảnh vỡ này cho phép chúng đi vào trong hệ hô hấp sâu hơn là những hạt phấn hoa nguyên vẹn. Sau cùng, những chất gây ô nhiễm có thể biến đổi cả những thành phần được chứa trong những hạt này và làm gia tăng khả năng gây dị ứng của chúng.
TA CÓ THỂ DỰ PHÒNG KHÔNG ?
Vâng, ngay cả khi thể trạng di truyền có tính chất quyết định. Như BS Etienne Bidat đã phát biểu : ” Từ lâu, ta đã tin rằng bằng cách tránh một sự gây cảm ứng đối với một dị ứng nguyên, ta sẽ tránh sự phát triển những biểu hiện dị ứng. Thật ra, không phải đơn giản như vậy. Nếu sự tiếp xúc sớm những acarien đưa đến sự xuất hiện những trắc nghiệm dương tính đối với dị ứng nguyên này, nhưng không phải vì vậy mà nó gây nên một nguy cơ bị hen phế quản cao hơn. Ngược lại, ở một đứa bé đa dị ứng, nó càng tiếp xúc với dị ứng nguyên mà nó bị cảm ứng, nó sẽ càng có những dấu hiệu của bệnh.” Trên thực hành, để làm giảm những nguy cơ, phải áp dụng cho mình vài biện pháp cơ bản và tỏ ra hợp lý : tránh những mùi thơm nội thất (parfums d’intérieur), những tinh dầu (huile essentielle), thức ăn công nghiệp (nourriture industrielle) và những hydrolysat de blé hay soja được thêm vào những jambon công nghiệp. Sự phòng ngừa cũng phải bắt đầu trong thời kỳ mang thai, trước hết với ngừng thuốc lá, không những ở người mẹ mà cả những người chung quanh. Ngược lại, trái với điều được chủ trương từ lâu, không một chế độ ăn uống đặc biệt nào cần phải tuân theo trong khi mang thai hay khi cho bú : thật vậy tránh những thức ăn rất gây dị ứng (trứng, sữa, arachide) đã không mang lại những lợi ích được mong chờ. Theo những cơ chế còn chưa được giải thích, những tiếp xúc với động vật và sự tiêu thụ sữa sống là những yếu tố phòng ngừa. Một dự án châu Âu đang được tiến hành, Pasture, dường như xác nhận tác dụng bảo vệ này
TA CÓ THỂ CHỮA LÀNH KHÔNG ?
Vâng. Nhưng không có điều trị độc nhất. Dầu dị ứng nguyên là gì, sự loại bỏ dị ứng nguyên (éviction) là điều luôn luôn bắt buộc. Nếu điều đó không thể thực hiện được hay không đủ, những điều trị được gọi là triệu chứng (antihistaminiques, corticoides, các chất giãn phế quản…) làm thuyên giảm, nhưng không chữa lành, trong khoảng 80% những trường hợp bằng cách làm giảm những dấu hiệu như chảy nước mũi, nước mắt..Trong vài trường hợp dị ứng hô hấp, chỉ có sự giải cảm ứng (désensibilisation) mới cho phép một điều trị chữa lành và vĩnh viễn. 100.000 đợt điều trị được thực hiện trung bình mỗi năm ở Pháp. Tuy nhiên, ” tất cả những người dị ứng không thuộc về một giải cảm ứng và tính hiệu quả sẽ cao hơn nếu người bệnh chỉ cảm ứng với một hay hai dị ứng nguyên”, BS Haddad đã xác nhận như vậy. Những điều trị này dài lâu, gò bó, và phải được theo đuổi một cách đều đặn để có cơ may thành công. Những tỷ lệ hiệu quả thay đổi từ 100% đối với venin de guêpe đến dưới 50% đối với lông mèo. Đối với phấn hoa và acarien, tỷ lệ thành công từ 70 đến 80%.
Dầu cho cách cho là gì (chích dưới da, thuốc giọt, những viên thuốc làm tan dưới lưỡi), điều trị kéo dài từ một đến ba năm. Những công trình nghiên cứu đang được tiến hành để biết sự giải cảm ứng (désensibilisation) đối với phấn hoa có thể phòng ngừa hen phế quản không. Các kết quả sẽ được công bố năm 2015. Còn về dị ủng thức ăn hiện không có một điều trị giải cảm ứng nào. Giải pháp duy nhất : loại bỏ thức ăn gây dị ứng và đọc chăm chú các nhãn. Nhưng một hướng đầy hứa hẹn mở ra với những patch.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2014)

4/ CÁC DỊ ỨNG LÀ MỘT YẾU TỐ PHÁT KHỞI HEN PHẾ QUẢN
GS Pascal Demoly, coordonnateur du département de pneumologie et addictologie à l’hôpital Arnaud-de-Villeneuve (Montpellier).
Hỏi : Có một mối liên hệ giữa hen phế quản và dị ứng hay không ?
GS Pascal Demoly : Vâng, vì có một mối liên hệ giữa hen phế quản và viêm mũi, chứng béo phì, bệnh do virus, sự ô nhiễm… Những mối liên hệ này, được gợi ý bởi những công trình nghiên cứu, luôn luôn khiến phải đặt cùng câu hỏi : hen phế quản là gì ? Thế mà, mặc dầu những thầy thuốc biến nhận biết những triệu chứng của bệnh và những chuyên gia mô tả cơ chế phức tạp của nó, nhưng những nguyên nhân nguyên phát vẫn không được biết rõ.
Hỏi : Hen phế quản do dị ứng có phổ biến không ?
GS Pascal Demoly : Các dị ứng là những yếu tố phát khởi thường gặp nhất và được nhận thấy ở khoảng 2/3 những trẻ em và 1/3 những người lớn hen phế quản. Khi đó ta nói là hen phế quản dị ứng (asthme allergique). Sự cùng hiện hữu hen phế quản-dị ứng này thể hiện cùng một thể địa di truyền (terrain génétiqu), được gọi là atopie. Đó là khả năng của hệ miễn dịch tiết quá mức những lượng kháng thể đặc biệt, những immunoglobuline E, đáp ứng lại những kích thích thông thường như acarien, phấn hoa… Ở một người atopique, những dị ứng nguyên chịu trách nhiệm hen phế quản, nhưng cũng viêm mũi, viêm kết mạc, eczéma và những dị ứng thức ăn. Những công trình nghiên cứu trên các trẻ sơ sinh đã chứng minh một cách rõ ràng rằng những tiếp xúc dị ứng nguyên (contact allergénique) sớm (có thể ngay cả khi còn trong tử cung) và mạnh có tính chất quyết định trong sự xuất hiện một hen phế quản dị ứng ở trẻ em.
Hỏi : Có phải tất cả những hen phế quản đều do dị ứng ?
GS Pascal Demoly : Không, những yếu tố môi trường khác có thể can thiệp ở một người atopique. Nhưng những khác nhau giữa nhưng cơ chế can dự trong những hen phế quản dị ứng và những hen phế quản mà không có một nguyên nhân dị ứng nào được tìm thấy, và phát khởi muộn hơn, không được rõ ràng. Chỉ có điểm chung : thể trạng di truyền (terrain génétique).
(SCIENCES ET AVENIR 5/2014)

5/ DỊ ỨNG THỨC ĂN Ở TRẺ EM : CHIẾN LƯỢC MỚI.
GS Jocelyne Just, trưởng khoa dị ứng nhi đồng của bệnh viện Trousseau, trình bày sự điều trị cá thể hóa được áp dụng ngay những triệu chứng đầu tiên
Hỏi : Những triệu chứng đầu tiên của dị ứng thức ăn là gì ?
GS Jocelyne Just : Những dấu hiệu đầu tiên của những dị ứng thức ăn này thường được biểu hiện rất sớm ở nhũ nhi : chúng có thể xuất hiện dưới những dạng khác nhau, bằng những đợt eczéma, mày đay (urticaire), những rối loạn tiêu hóa (mửa, ỉa chảy), một sự mất cân… Trong những trường hợp nặng hơn, những dị ứng này, gây bệnh từ 5 đến 8% những trẻ em, có nguy cơ gây nên một tình trạng khó ở, một cơn hen phế quản, một phù Quincke, một choáng phản vệ có khả năng gây chết người.
Hỏi : Làm sao ta đảm bảo rằng đó thật sự là một dị ứng ?
GS Jocelyne Just : Những triệu chứng xuất hiện trong hai giờ sau khi ăn thức ăn mà đứa trẻ vốn dị ứng. Thầy thuốc chuyên khoa dị ứng (allergologue) sau đó thực hiện những xét nghiệm cần thiết : những trắc nghiệm da (test cutané), những định lượng sinh hóa. Trong vài trường hợp, trong một nhập viện ngắn ngày.
Hỏi : Cho đến nay làm sao ta điều trị những dị ứng thức ăn này ở trẻ em ?
GS Jocelyne Just : Sự xử trí bao gồm một cách đơn giản hủy bỏ thức ăn gây dị ứng (aliment allergène) của những bữa ăn ở nhà. Cha mẹ phải luôn luôn có trong tầm tay một bộ đồ cấp cứu với những thuốc antihistaminique, đặc biệt hơn những corticoides, thậm chí adrénaline auto-injectable.
Hỏi : Sự loại bỏ (éviction) này có đủ để ngăn cản tiến triển của những dị ứng này không ?
GS Jocelyne Just : Sự loại bỏ này thường nhất có hiệu qua ở nhà, nhưng nó không ngăn cản sự xuất hiện những tai biến khi dùng bữa ăn hay những collation (bữa ăn nhẹ) ở trường, ở nhà nguoi bạn, ở tiệm ăn…Mặt khác, thức ăn công nghiệp chứa những chất dinh dưỡng được ngụy trang, thí dụ những món ăn saucisse agrémentée de lait de vache, một dị ứng nguyên rất thường gặp. Trong khi một tỷ lệ những dị ứng thức ăn biến mất một cách ngẫu nhiên trong thời thơ ấu (hầu như tất cả những dị ứng với sữa bò và trứng trong hai năm đầu và chỉ 20% đối với arachide vào khoảng 6 đến 7 tuổi), vài dị ứng sẽ tồn tại, tạo nên một handicap trong đời sống hàng ngày.
Hỏi : Để làm dừng lại tiến triển của những vấn đề dị ứng thức ăn này ngay những triệu chứng đầu tiên, chiến lược mới là gì ?
GS Jocelyne Just : Người ta đã nhận thấy rằng hủy bỏ một cách triệt để thức ăn gây dị ứng ở tất cả những người dị ứng có một nguy cơ làm gia trọng. Phương pháp mới nhằm điều trị mỗi trẻ em bằng cách cho nó một điều trị ” à la carte” tùy theo phénotype. Hỏi : Mục đích của những điều trị cá thể hóa này ?
GS Jocelyne Just : Dị ứng là hậu quả của một sự đánh mất sự dung nạp của hệ miễn dịch (une perte de tolérance du système immunitaire). Mục đích của liệu pháp mới này là tái lập lại sự dung nạp này. Một công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí khoa học “The Lancet ” giới thiệu một bước tiến trong điều trị những trường hợp dị ứng thức ăn nghiêm trọng. Liệu pháp này (được thực hiện bởi một thầy thuốc dị ứng chuyên khoa) nhằm cho đứa trẻ một cách đều đặn những lượng tăng dần thức ăn gây dị ứng để hệ miễn dịch của nó dần dần có thể chấp nhận thức ăn này và không phản ứng nữa một cách có hại khi phát triển một cơn. Kỹ thuật induction de tolérance này được thực hiện trong những khoa bệnh viện chuyên về allergologie. Trong vài trường hợp dị ứng gia đình nghiêm trọng, bắt buộc phải thực hiện một sự phòng ngừa ở những em bé. Để cho phép sự dung nạp miễn dịch (tolérance immunitaire) thành hình, phải đa dạng hóa các thức ăn (diversification des aliments) ngay ở lứa tuổi 4 đến 6 tháng.
Hỏi : Protocole của công trình nghiên cứu đã chứng minh lợi ích của chiến lược của ông là gì ?
GS Jocelyne Just : Công trình nghiên cứu so sánh (étude comparative), được công bố trong “The Lancet”, đã được tiến hành bởi đại học Cambridge trên 99 trẻ em bị dị ứng nặng đối với arachide (hiện diện trong những sản phẩm tiêu thụ như cacahuètes, plats préparés, confiseries…). Một nửa những bệnh nhân đã nhận mỗi ngày những lượng rất nhỏ những hạt arachide. Vào cuối công trình nghiên cứu, các bệnh nhân có thể dung nạp những liều mỗi ngày 800 mg, hoặc 5 cacahuète. Những công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành để xác nhận những kết quả rất đáng phấn khởi này, không có những tác dụng phụ. Điều trị này được dành cho những dị ứng thức ăn nghiêm trọng và được thực hiện trong những khoa chuyên môn.
(PARIS MATCH 3/4-9/4/2014)

6/ SỰ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ ĐE DỌA SỨC KHỎE NHƯ THẾ NÀO ?
Điều chứng thực làm lạnh xương sống : theo OMS, sự ô nhiễm không khí làm chết sớm 2 triệu người trên thế giới mỗi năm ! Trong cùng tinh thần, chương trình Aphekom, dành cho sự ô nhiễm không khí ở châu Âu, nhấn mạnh rằng sống gần một con đường tắc nghẽn xe cộ (hơn 10.000 chiếc xe mỗi ngày) sẽ là nguồn gốc của 15 đến 30% những trường hợp mới hen phế quản trẻ em (asthme infantile). Những quan sát càng không chối cãi được khi những nhà khoa học vất vã mới hiểu rõ cách tác dụng của sự ô nhiễm này.
Tuy vậy vài yếu tố hiện diện trong khí quyển đứng hàng đầu để giải thích tính độc của không khí. Chúng phát xuất từ khói của các nhà máy, từ những máy đốt (incinérateur) những chất phế thải nội trợ hay công nghiệp và từ sự lưu thông xe cộ. Những chất gây ô nhiễm này chủ yếu là khí đốt (gaz) và những hạt (particule), acide (SO2, aérosols…) hay những chất oxy hóa (ozone, NO2). Thế mà những acide là những loại hóa học phản ứng nhanh với những loại khác đồng thời bỏ một nguyên tử hydrogène ; những chất oxy hóa cũng rất phản ứng bởi vì chúng trao đổi một cách dễ dàng những điện tử với những phân tử khác.
Những chất này đi vào trong phổi đến tận các phế nang, những túi nhỏ ở tận cùng các phế quản và ở nơi đây xảy ra những trao đổi khí. Lúc đầu khí và các hạt bị chìm trong niêm dịch bảo vệ, được tiết ra bởi những tế bào biểu mô lót thành phế quản, và chúng biến đổi thành phần của niệm dịch này. Hậu quả : niêm dịch trở nên tấn công đối với những tế bào biểu mô, phản ứng bằng cách sản xuất những chất trung gian, những cytokine. Những chất trung gian này phát khởi một phản ứng miễn dịch : chúng lôi kéo những tế bào bạch cầu có khả năng phá hủy những chất gây ô nhiễm bằng cách làm bất hoạt chúng hay tiêu hóa chúng. Nhưng những bạch cầu khi đó phóng thích những chất gây nên một phản ứng viêm. Các mô phù nề, những phế quản co thắt lại, hô hấp trở nên khó hơn… Bệnh phế quản rình rập. ” Ở những người lành mạnh, sự ô nhiễm gây nên một tăng phản ứng khí quản (hyperactivité bronchique), Roger Marthan, thuộc Centre de recherche cardio-thoracique (Inserm, Bordeaux) đã mô ta như vậy. Sự ô nhiễm làm gia trọng những bệnh lý như hen phế quản, nhưng ta chưa biết nó có trực tiếp gây bệnh hay không.”
HỆ MẠCH MÁU BỊ TẤN CÔNG.
Những viêm phế quản xảy ra liên tiếp (bronchites à répétition) làm thoái hóa chất lượng sống và có nguy cơ làm gia tốc tiến triển của những bệnh phổi. Sự tích tụ trong những tế bào những loại hóa học oxy hóa cuối cùng có thể làm thoái hóa ADN và gây nên ung thư. ” Nhưng những tác dụng dài hạn khó nghiên cứu hơn nhiều, và vẫn còn không được biết rõ “, Roger Marthan công nhận như vậy. Các nhà nghiên cứu cũng nghi ngờ các thuốc trừ sâu chịu trách nhiệm những rối loạn nội tiết có thể gây mất khả năng sinh sản (infertilité).
Sau hệ phổi, những chất gây ô nhiễm tấn công hệ tim mạch, ở đây tác dụng của chúng có thể gây hủy hoại. ” Chúng ta chưa biết những chất gây ô nhiễm có đi vào trong tuần hoàn máu ở các phế nang phổi hay không hay không biết có phải chính sự viêm phế quản lan rộng đến hệ mạch máu “, Roger Marthan công nhận như vậy. Dẫu sao những huyết quản, cho phép thu nhận oxy ở những phế nang phổi, vẫn chịu một phản ứng viêm trước sự hiện diện của những chất gây ô nhiễm. Thế mà, phản ứng của chúng trong trường hợp bị tấn công là sinh ra những chất tạo điều kiện cho sự đông máu. Nguy cơ tạo nên những cục máu đông làm gia tăng nguy cơ những bất thường của tuần hoàn : nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, đau thắt ngực… Chính những rối loạn này chịu trách nhiệm phần lớn trong số 2 triệu tử vong hàng năm thống kê bởi OMS.
Thế thì có nên ẩn náu ở nhà để tránh sự ngộ độc ? Không, bởi vì không khí của trong nhà, nơi chúng ta trải qua hơn 80% thời gian của chúng ta, cũng chứa nhiều chất có hại. Observatoire de la qualité de l’air intérieur thống kê nhiều loại. Những dị ứng nguyên, được mang bởi các động vật hay những acarien, gây nên những dị ứng. Những chất độc thần kinh (substance neurotoxique) (như toluène của những hồ keo, nhưng sơn hay vernis) làm rối loạn hệ thần kinh. Những chất gây ung thư, như acétaldéhyde (trong gỗ thô) làm tổn hại ADN và dẫn đến ung thư. Kết luận : giữa hai điều xấu, tốt hơn là chọn cái ít xấu hơn…và thông gió.
(SCIENCES & VIE : QUESTIONS ET REPONSES)

7/ 10 CHẤT GÂY DỊ ỨNG THƯỜNG GẶP NHẤT
Dị ứng đang chờ đợi bạn là dị ứng nào ? Từ acarien đến archide, từ phấn hoa đến hyménoptères, đó là những dị ứng nguyên thường gặp nhất. Nhận diện chúng cho phép tránh chúng tốt hơn.
1. ACARIENS
Tùy theo nước, chỉ acarien không thôi chịu trách nhiệm từ 65 đến 90% những trường hợp hen phế quan trẻ em. Những côn trùng tí xíu này, không thấy được bằng mắt trần, thuộc lớp nhện (arachnides), hiện diện hàng triệu con trong những chỗ ở của chúng ta. Một gramme bụi có thể chứa từ 2.000 đến 10.000 acariens.
Chúng sống trong 2-3 tháng nhưng sinh sản rất nhanh trong những điều kiện nhiệt (nhiệt độ từ 20 đến 30 độ C) và ẩm ướt thuận lợi. Ta phân biệt nhưng acraien de stockage và những acarien pyroglyphide. Những acarien đầu ưa thích những kho thóc, những vựa lúa và những kho giữ hàng hóa và đặc biệt ảnh hưởng vài nghề nghiệp, những công nhân nông nghiệp hay những người làm bánh. Những acarien pyroglyphide ẩn náu trong giường, moquette, tapis, peluche và chịu trách nhiệm phần lớn những viêm mũi và những hen phế quản dị ứng của dân chúng. Thường, những dị ứng này kèm theo một sự không dung nạp escargot, crevette, crustacées và dán.
2. PHẤN HOA (POLLENS)
Đó là một trong những dị ứng thường gặp nhất và dễ nhận diện nhất. Dị ứng được thể hiện bởi những cơn hách xì, ngứa mũi, viêm kết mạc và những vấn đề hô hấp. Đó là bệnh rhume des foins nổi tiếng. Bệnh phấn hoa (pollinose) đôi khi được thể hiện bởi hen phế quản và có thể là nguồn gốc của những biến chứng như viêm xoang, hay viêm phế quản. Dị ứng liên quan 15 đến 20% dân số Pháp, mỗi vùng có những phấn hoa gây bệnh đặc hiệu. Chính như thế mà ta chứng thực nhiều phản ứng đối với những phấn hoa từ cây bách (cyprès) trong miền Đông Nam, những phấn hoa từ cây bouleau ở miền Bắc và miền Đông, những phấn hoa của ambroisie trong thung lũng sông Rhone.
Những rối loạn bắt đầu vào tháng hai-ba với sự xuất hiện của những phấn hoa từ các cây (pollens d’arbre). Kẻ thù là vô hình, sự xuất hiện cũng như sự tập trung của nó biến thiên mỗi năm, tùy theo thời tiết. Những nhiệt độ mùa đông vừa phải, những cơn mưa dồi dào và một thời gian có ánh nắng mặt trời tối thiểu là những điều kiện thuận lợi cho một sự sinh sản tối ưu phấn hoa. Ta chứng thực ngày càng nhiều những dị ứng chéo (allergie croisée) ở những người bị dị ứng phấn hoa. Thí dụ những người bị cảm ứng với pollen de bouleau cũng thường cảm ứng với những cây thuốc họ hoa hồng (rosacées) (pomme, pêche, cerise, abricot)
3. THỨC ĂN
Tất cả các nước công nghiệp biết thế nào là một sự gia tăng mạnh nhưng dị ứng thức ăn. Ở Pháp, người ta ước tính tần số của nó là 4,7% ở trẻ em và 3,2% ở người lớn. Trong số những dị ứng thường gặp nhất, dị ứng sữa bò (PLV : protéine du lait de vache) xuất hiện rất sớm, với những bình sữa đầu tiên, và được biểu hiện bởi mày đay, mửa và những vấn đề tiêu hóa. Tuy nhiên, trong 80 đến 90% những trường hợp, sự gây cảm ứng (sensibilisation) này biến mất trước 3 tuổi, với điều kiện tránh mọi tiếp xúc với dị ứng nguyên. Điều này không phải dễ bởi vì sữa bò hiện diện trong fromage, yaourt, những bánh ngọt và ẩn dấu trong những thức ăn hay những tá dược (excipient) có chất cơ bản là lactose. Ngoài ra, ta chứng thực những dị ứng chéo (allergie croisée) với những loại sữa khác, cũng như với đậu nành (soja), lạc (arachide) và trứng. Trứng cũng ở trong số những dị ứng nguyên thức ăn quan trọng, đối với trẻ em cũng như đối với người lớn. Những protéine gây dị ứng nằm trong lòng trắng hơn là trong lòng g đỏ và thường gây nổi mày đay hay chàm (eczéma).Thường dị ứng trứng tự nó biến mất. Gluten cũng ngày càng gây những nạn nhân. Chất này không chịu được đối với 60.000 người ở Pháp và ta ước tính 240.000 số những người phát triển một sự không dung nạp nhưng không có những triệu chứng rõ rệt. Những triệu chứng này thay đổi tùy theo cá thể, nhưng thường nhất là những triệu chứng tiêu hóa : nôn, đau bụng, mửa, tuy nhiên với nguy cơ phản vệ cấp tính (anaphylaxie aigue) gồm hen phế quản, choáng và chết đột ngột. Dị ứng này càng gây phế tật khi nó càng dai dẳng. Đó là dị ứng thường gặp nhất sau 3 tuổi. Arachide, cũng như 14 thành phần (ingrédient) khác (gluten, trứng, sữa, cá, moutarde, đậu nành, sésame, crustacé, céleri, fruits à coque, mollusques) phại khai báo bắt buộc trên mọi thực phẩm, kể cả dưới một dạng được biến đổi.
4. NHỮNG ĐỘNG VẬT NUÔI TRONG NHÀ
Những gia súc, sau các phấn hoa và acarien, là những tác nhân quan trọng của những dị ứng hô hấp. Những dị ứng nguyên lan tràn qua lông, nước miếng, mồ hôi, những mảnh da. Những dị ứng nguyên của mèo tỏ ra đặc biệt mạnh và vững bền vì lẽ động vật để lại nhiều tồn dư nhiều tháng sau khi ra đi. Nhưng tất cả những động vật nhỏ của nhà (hamster, thỏ, những động vật gặm nhấm) cũng có thể là nguồn của những phản ứng dị ứng, cũng như những động vật chăn nuôi (bò) và để chạy đua (ngựa), nguyên nhân của những dị ứng nghề nghiệp ở những thú y sĩ, những nhà chăn nuôi hay những nông gia. Những triệu chứng giống hệt với những triệu chứng của viêm mũi, đôi khi được kèm theo bởi những đợt mày đay cấp tính, thậm chí (hiếm hơn) bởi một phù Quincke. Phòng ngừa tốt nhất vẫn là loại bỏ (éviction)
5. THUỐC MEN
Các kháng sinh, và nhất là pénicilline và những dẫn xuất của nó hay những sulfamides, là những chất chính có liên quan bởi những phản ứng dị ứng. Nhưng những thuốc kháng viêm không phải stéroide, như ibuprofène, aspirine, những thuốc gây mê (curares), những thuốc chủng ngừa, những chất cản quang iode được sử dụng để thực hiện vài thăm dò X quang cũng có khạ năng làm phát khởi một phản ứng dị ứng, mặc dầu trước đây chúng được dung nạp tốt. Thường nhất, những triệu chứng được đặc trưng bởi nổi ban da sau vài ngày điều trị, nhưng một choáng phản vệ có thể xảy ra. Kinh nghiệm trải qua năm 1998 bởi Jean-Pierre Chevènement, khi đó là bộ trưởng nội vụ, vẫn còn trong tâm trí. Được nhập viện để mổ một túi mật không quan trọng, ông là nạn nhân của một dị ứng với curare và rơi vào hôn mê sau một ngừng tim. May mắn thay những tai biến nghiêm trọng này là ngoại lệ.
6. MỐC
Từ 5 đến 10% dân số dị ứng với mốc (moississures). Ta nhận thấy khắp nơi, ở bên trong cũng như bên ngoài những chỗ ở. Chúng thường được mang bởi không khí, được hít bởi tất cả mọi người và gây nên những đợt viêm mũi, viêm kết mạc và hen phế quản. Trong số 80.000 loại nấm, 4 loại đặc biệt có liên quan trong những phản ứng dị ứng. Các Aspergillus phát triển trên những chất hữu cơ đang bị phán hủy, trong đất, bụi bặm, quần áo, những máy điều hòa (climatiseur), những máy làm ẩm (humidificateur)… với một cao điểm sinh sản vào mùa thu và mùa đông. Đó là những nấm mốc đáng sợ nhất. Nhiệt, sự ẩm ướt và sự thiếu thông khí tạo điều kiện cho sự phát triển của chúng. Alternaria cũng có tính chất kích thích. Những nấm ngoại thất này phát triển tốt trong mùa hè, trên rơm và rạ, nhưng cũng xuất hiện trong nội thất của những chỗ ở trên da thuộc, trên vải dệt hay thực phẩm. Không được quên Penicillium. Chúng phát triển suốt năm, trên những vật liệu hay thực vật đang phân hủy, cũng như Cladosporium gắn vào cây cối, nhất là mùa hè.
7. HYMENOPTERES.
Những nọc độc của các hyménoptères (guêpes, abeilles, frelons, kien) đôi khi gây những dị ứng nghiêm trọng. Mỗi năm ta ghi nhận 3 đến 5 trường hợp tử vong. Đừng hoảng sợ nếu phản ứng được thể hiện chỉ bởi một phù nề ở nơi bị chích. Ban đỏ không nghiêm trọng và sẽ biến mất trong 24 đến 48 giờ. Ngược lại, chóng mặt, mày đay, nôn hay khó thở là những dấu hiệu của một phản ứng dị ứng cần gọi cấp cứu. Ta điều trị dị ứng này bằng những thuốc antihistaminique, nhưng phải biết rằng sự giải cảm ứng (désensibilisation) có hiệu quả trong hơn 95% các trường hợp.
8. LATEX
Phát xuất từ nhựa của cây Hevea brasiliensis, latex là thành phần của nhiều sản phẩm thông dụng (gant, kính bơi lội, các đồ chơi và những dụng cụ y khoa…) Sự dị ứng này liên quan đến từ 1 đến 5% dân số. Tỷ lệ lưu hành của nó gia tăng ở những người đặc biệt tiếp xúc, chiếm 5 đến 22% những người dị ứng. Những triệu chứng xuất hiện vài phút sau khi tiếp xúc : viêm kết mạc, viêm mũi, hen phế quản, mày đay, phù Quincke, và đôi khi choáng phản vệ. Trong 1/3 các trường hợp, những người dị ứng latex cũng bị những dị ứng thức ăn chéo với nhiều trái cây và rau xanh như avocat, concombre, chuối, kixi, nho…
9. CÁC MỸ PHẨM
Sự tiếp xúc với những mỹ phẩm, nước hoa, xà phòng, thuốc gội đầu (shampoing) có thể gây nên một tác dụng phá hoại : đỏ da, eczéma, mày đay.. Dị ứng chủ yếu do những chất bảo quản và những chất nhũ hóa (émulsifiant) chứa những dị ứng nguyên tổng hợp (thí dụ citronellal). Vài chất đã được biết và được ghi trên nhãn, nhưng những chất khác mới xuất hiện gần đây. Đó là trường hợp của một chất bảo quản mới, methylisothiazolidone (MIT), được sử dụng rộng rãi trong các thuốc xức tóc thay thế parabens, bị cáo buộc là những chất làm rối loạn nội tiết (perturbateur endocrinien). Theo Société française de dermatologie, nó gây nên một số ngày càng gia tăng những kích thích và eczéma, đôi khi với khó thở và những kích thích niêm mạc
10. NICKEL
Những vật dụng như fermeture à glissière, những nút quần jean, những gọng kính đeo, những bijou fantaisie, những nịt quần…là nguồn gốc của dị ứng tiếp xúc. Thủ phạm : nickel, nhưng cũng chrome hay cobalt. Nickel gây nên nhiều nạn nhân ở những môn đồ của piercing. Thủ phạm được nhận diện nhanh chóng bởi sự xuất hiện những viêm da trong những vùng trực tiếp tiếp xúc với vật kim loại.
(LE FIGARO MAGAZINE 22/3/2014)

8/ PATCH, TIỀN PHONG CỦA NHỮNG ĐIỀU TRỊ MỚI
Laboratoire Pháp DBV phát triển một miễn dịch liệu pháp da (immunothérapie cutanée) có hiệu quả chống lại những dị ứng đối với arachide và sữa. Patch này sẽ được thương mãi hóa trong 5 năm đến.
Tất cả phát xuất từ một ý tưởng độc đáo : sử dụng da để giao tiếp với hệ miễn dịch suy yếu và cải tạo nó. Kết quả, sau 10 năm nghiên cứu : một con tem bé nhỏ dính hình tròn và trong suốt tương tự những patch được sử dụng để cai thuốc lá hay ngừa thai. Được phát minh năm 2002 và được đặt tên Viaskin, đó là một độc quyền thế giới của phòng thí nghiệm Pháp DBV. Trong vòng chưa đầy 5 năm nữa, những người không chịu được lạc (cacahouète) hay sữa sẽ là những bệnh nhân đầu tiên có thể dán nó lên da. Đó là một tin vui bởi vì, cho đến nay, không có một khả năng nào để giải mẫn cảm (désensibilisation) đối với những dị ứng thức ăn. Một giải pháp duy nhất : tránh dị ứng nguyên với cái giá phải đọc tỉ mỉ những nhãn hiệu. Hay trong vài trường hợp, sự thiết đặt những protocole phức tạp được gọi là miễn dịch liệu pháp bằng đường miệng (immunothérapie orale). Đó là sự đưa vào dần dần những lượng rất nhỏ những hạt arachide trong thức ăn. Một phương pháp rất cần thận trọng và được thực hiện trong những trung tâm chuyên môn hiếm hoi, với sự kiểm soát y khoa sát vì lẽ nguy cơ choáng phản vệ (choc anaphylactique).
Vậy patch chỉ là một phương pháp mới mà các chuyên gia đã mệnh danh là ” immunothérapie épicutanée” (Epit), bên cạnh những phương pháp, truyền thống hơn, được gọi là dưới lưỡi hay dưới da, được sử dụng chống lại những nọc độc của hyménoptère, acarien, lông mèo hay phấn hoa. Nguyên tắc là như sau : cho đều đặn một liều vi thể kháng nguyên (ở đây vài chục microgramme) xuyên qua da. ” Chúng tôi đã hiệu chính một máy nhằm đặt các dị ứng nguyên dưới dạng những giọt, trên một film de polymère “, Pascale Ehouarn, giám đốc phát triển công nghiệp và phụ trách sự sản xuất những patch tương lai đã xác nhận như vậy. ” Trên film, kháng nguyên dưới một dạng khô và bất hoạt và được duy trì ở đó bằng những lực tĩnh điện”, bà nói tiếp.
NGUY CƠ CHOÁNG PHẢN VỆ ĐƯỢC GIẢM.
Một khi được đặt trên biểu bì, với sự ra mồ hôi, những hạt khô hòa tan và tương tác trong hai đến sáu giờ với biểu bì. Và đặc biệt hơn với những tế bào miễn dịch được gọi là Langerhans, di chuyển về phía những hạch bạch huyết , trụ sở của những tế bào chịu trách nhiệm tính miễn dịch. ” Vài vùng của cơ thể như nách ở người lớn và lưng ở trẻ em, có nhiều những tế bào Langerhans hơn những vùng khác”, Pierre-Henri Benhamou, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa đã xác nhận như vậy. ” Phương pháp này chủ yếu tránh mọi sự đi qua trong đường máu, điều này làm giảm một cách đáng kể nguy cơ phản ứng phản vệ “.
Được trình bày vào đầu tháng ba ở hội nghị dị ứng Hoa Kỳ, American Academy of Allergy, Asthma &Immunology, được tổ chức ở San Diego (Californie), phương pháp đã chứng tỏ nhiều ưu điểm : sử dụng đơn giản, không phải mài mòn (abrasion) da, tính hiệu quả, sự dung nạp tốt và dĩ nhiên tính vô hại. Bấy nhiêu những ưu điểm, vào năm 2012, đã cho phép chương trình phát triển lâm sàng của patch nhận một fast track (coup d’accélérateur) của Food and Drug Administration, cơ quan dược phẩm Hoa Kỳ. Một thủ thuật sẽ cho phép patch được đánh giá ưu tiên bởi giới hữu trách Hoa Kỳ để tham cứu hồ sơ nhằm thương mãi hóa trên thị trường rất quyến rũ Hoa Kỳ. Nơi đây sẽ có dispositif này trước Pháp và châu Âu.
Bởi vì, giữa beurre de cacahuète à tartiner, các hạt lạc (graine d’arachide) của apéritif và huile, bên kia Đại dương sự tiêu thụ trung bình khoảng 1,5 kilo mỗi năm và mỗi người dân. Kết quả : số những trường hợp dị ứng với arachide đã tăng gấp ba trong vòng 10 năm và ta ghi nhận khoảng 100 đến 150 trường hợp tử vong mỗi năm. Hiện nay cuối giai đoạn 2 thử nghiệm lâm sàng, patch Viaskin đã được trắc nghiệm trên hơn 200 bệnh nhân, tuổi từ 6 đến 55 và được phân bố trong 5 nước (Canada, Hoa Kỳ, Pháp, Hòa Lan, Ba lan). Hai loại patch đang được phát triển : một đối với arachide (Viaskin Peanut), vào mùa thu này sẽ bắt đầu những thử nghiệm được gọi là giai đoạn 3 (những trắc nghiệm trên một số lượng những bệnh nhân lớn hơn) và một patch khác đối với sữa (Viaskin Milk) mà những thử nghiệm vừa mới bắt đầu ở những trẻ em nhỏ.
Những kết quả đầu tiên của Viaskin Peanut là đáng phấn khởi : những người bị dị ứng, lúc đầu thử nghiệm, không thể nuốt một chút đậu phụng nào, sau 18 tháng đã có thể nuốt gần hai cacahouète mỗi ngày không nguy cơ. Điều trị dự kiến đặt mỗi ngày một con tem trên da, kéo dài 3 năm, như tất cả những désensibilisation, thời gian cần thiết để cải tạo hệ miễn dịch.
Bây giờ DPV có ý định đi xa hơn sữa và lạc. Sự liên minh mới đây của DPV và Stallergènes, leader của liệu pháp miễn dịch dưới lưỡi (immunothérapie sublinguale), khiến tiên đoán những phát triển về những dị ứng hô hấp, chống lại pollen de bouleau hay de l’ambroisie…Một patch chống lại acarien ngay cả được xét đến. Được cho trước 5 tuổi, nó sẽ phòng ngừa hen phế quản dị ứng. Vẫn còn một ẩn số đáng kể : giá cả. Ở Hoa kỳ, “tổn phí” của một bệnh nhân dị ứng lạc được ước tính 4000 dollar mỗi năm. Thiết bị này vậy còn đáng giá hơn…những hạt đậu phụng.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2014)

9/ ANH ẤY MUỐN LÀM TÌNH DƯỚI ÁNH SÁNG…Cô hay biết rằng cô không phải là người duy nhất : nhiều phụ nữ không cảm thấy được thoải mái trước một sexualité en pleine lumière. Vậy đó là một vấn đề rất thường được đặt ra trong đôi lứa và sự dè dặc của cô không có gì kỳ lạ.
Điều mà cô có thể làm…
Cô hãy tự hỏi cô về những hạn chế của mình. Hãy bắt đầu tự hỏi tại sao cô thích làm tình trong bóng tối hơn. Cô có cảm thấy bị mặc cảm không ? Nếu có, bởi điều gì ? Do vẻ người của cô, đôi vú của cô, thể trọng của cô, vài vùng của cơ thể ? Cô có sợ để cho anh ta thấy sự kích dục được biểu lộ trên gương mặt của cô ? Cô có sợ cái nhìn của anh ta lên thân thể của cô ? Hay phải chăng cô không thích nhìn thân thể của anh ta ?
dr-solanoCô hãy hiểu những ham muốn của anh ta. Tại sao người bạn trai của cô thèm muốn làm tình dưới ánh sáng. Điều đó sẽ mang lại cho anh ta cái gì ? Có thể câu trả lời sẽ là, một cách đơn giản, rằng anh ta nhận thấy thân thể của cô rất đẹp và gợi ham muốn và rằng, đối với anh ta, nhìn nó sẽ là một khoái lạc bổ sung. Và còn hơn thế nữa, như đối với một trong những bệnh nhân của tôi đã kể lại cho tôi : ” Khi tôi còn là một thiếu niên, tôi hằng mơ ước nhìn một người đàn bà hoàn toàn trần truồng và nhất là một người đàn bà thèm muốn tôi, đến độ bây giờ, khi nhìn vợ tôi dưới ánh sáng, đó là thực hiện một mơ ước niên thiếu tuyệt vời…Tôi hạnh phúc hoàn toàn khi nàng chấp nhận ! ”
Hãy bước lại gần nhau. Trước khi trả lời người bạn trai một cách trực tiếp là không và trước khi kết thúc sự tranh luận, hãy thử đối thoại… Cô hãy cố lan luot đặt những ham muốn và những nỗi sợ hãi cửa cô dưới ánh đèn. Đôi khi, điều đó lại còn làm xích lại gần nhau hơn là chỉ trần truồng cả hai dưới thanh thiên bạch nhật !
Nhìn là một con đường đưa đến sự kích dục nam giới. Chính vì điều đó mà một người đàn ông thường muốn ánh sáng hơn, một cách đơn giản để sự kích thích, và do đó sự cương cứng của anh ta đến một cách dễ dàng. Ở những người đàn bà, thính giác nhiều hơn, điều đó thường được thể hiện bằng những lời nói âu yếm hay những chữ nói lên lòng ham muốn. Vậy người đàn bà khi làm tình họ cảm thấy ít hơn sự cần thiết phải nhìn người bạn trai của mình.
Hãy tìm kiếm một thỏa hiệp. Sau cố gắng thông hiểu lẫn nhau này, hãy tìm kiếm một giải pháp cụ thể. Có lẽ cô có thể mang một chemise de nuit hơi trong suốt được không ? Hay cô có thể chấp nhận một ánh sáng rất dịu, như ánh sáng của một ngọn nến, làm tôn vẻ đẹp của da hơn ? Hay chấp nhận một ít ánh sáng trong vài tư thế và không trong những tư thế khác ? Hay tại sao không bắt đầu bằng cách bịt mắt anh ta lại ? Hay bịt mắt của chính cô lại !
Trong tất cả các trường hợp, cô hãy nhớ rằng vẻ thẩm mỹ của thân hình không phải là điều đáng kể nhất trong tình dục. Khi một người đàn ông ham muốn một người đàn bà, anh ta thấy cô ta một cách khác, với một con mắt làm cô ta đẹp hơn, dầu cô ta có những khuyết tật nhỏ. Thế mà ai chẳng có ? Điều gây kích dục, đó không phải là sự hoàn mỹ, mà là sự hiện diện của thân hình của cô, tính dâm dục (sensulité) của nó, sự động đực (chaleur), sự dịu dàng (douceur), sự mật thiết (intimité) của nó…
(TOP SANTE 11/2013)

10/ D-DAY : GÂY MÊ, CẤP CỨU : NHỮNG KỸ THUẬT Y KHOA MỚI ĐẾN VỚI ĐỒNG MINH.Ngoài những thầy thuốc và những soignant, chính những kỹ thuật thường không được biết đến ở Pháp cũng ” đổ bộ ” với quân Đồng Minh, để sau đó xuất hiện khá nhanh trong thực hành của những thầy thuốc dân sự. Là thầy thuốc trẻ tham chiến trong binh lực tự do Pháp, GS Ernest Kern (1908-1969), trong chiến tranh, đã khám phá, ở Anh, những máy gây mê mới en circuit fermé. Với tư cách médecin ambulancier (thầy thuốc tải thương) ông tham gia đổ bộ Normandie, trước khi đi kèm các đội quân Pháp đển tận trung tâm của nước Đức.
Lấy làm phấn khởi bởi những kỹ thuật hiệu quả hơn nhiều những masque d’Ombredanne truyền thống, và ngoài ra cho phép một thông khí hỗ trợ, GS Kern, ngay khi giải phóng, chủ trương rằng các bệnh viện Paris nên được trang bị những máy này…nhưng ông vấp phải một bức tường, những ” ông chủ lớn” của thời kỳ đó, cho rằng chúng hoàn toàn không có lợi. Cuối cùng, bằng tài chánh riêng của mình, ông mua một trong những máy này và cho phổ biến ở Pháp. Trở nên giáo sư ở Cochin, ngày nay ông được xem như là cha đẻ của gây mê hiện đại ở Pháp. Kể lại giai thoại này trong hồi ký của mình, ông viết rằng tình hình cũng không tốt hơn trong nước khác mà ông đã từng thăm viếng sau chiến tranh, ở đây những kỹ thuật mới này trước hết gây nên những châm biếm và khinh bỉ.
Ngoài những kỹ thuật mà các Đồng minh mang lại, chiến tranh đánh dấu sự đào tạo những thầy thuốc trẻ của thời kỳ đó. Nhiều người trong số họ tham gia Kháng chiến, rồi trong quân đội giải phóng. Nhiều tên tuổi lớn của y khoa cấp cứu đã tạo những vũ khí đầu tiên của mình, và kinh nghiệm này nuôi dưỡng thực hành về sau này của họ, như trường hợp GS Pierre Huguenard, du kích kháng chiến về sau trở thành một trong những “cha đẻ” của SAMU français. Cũng vậy, traumatologie routière, phát triển song hành với sự gia tăng nhanh chóng của những tai nạn đường xá từ năm 1950, cũng phát xuất trực tiếp từ kinh nghiệm thu được trong ngoại khoa thời chiến, trong những nước anglo-saxon cũng như ở Pháp và ở Đức
(LE QUOTIDIEN DU MEDECIN 5/6/2014)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(8/7/2014)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to Thời sự y học số 348 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 492 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 492 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  3. Pingback: Thời sự y học số 502 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s