Cấp cứu nội thần kinh số 28 – BS Nguyễn Văn Thịnh

ccntk28THÁI ĐỘ XỬ TRÍ TRƯỚC MỘT CƠN ĐỘNG KINH
(DETERMINER LA CONDUITE A TENIR DEVANT LA CRISE D’EPILEPSIE)

Sophie Dupont
Unité d’Epileptologue, Hôpital Pitié-Salpêtrière
François Dolveck
SMUR Garches, Hôpital Raymond Poincaré
Dominique Savary
SMUR d’ Annecy, CHR

Thái độ xử trí sẽ không giống nhau tùy theo ta đứng trước một bệnh nhân có một cơn co cứng-co giật (crise tonicoclonique) lần đầu hay một bệnh nhân bị bệnh động kinh được biết trước. Tuy vậy, trong tất cả các trường hợp thái độ sẽ theo cùng logique :
– xác định tính chất động kinh của malaise : chẩn đoán xác định động kinh
– tìm kiếm một nguyên nhân : chẩn đoán căn nguyên động kinh (tỉ mỉ nhiều hay ít tùy theo những dữ kiện của thăm khám lâm sàng, tính chất khởi đầu hay không của cơn khiến bệnh nhân được mang đến cấp cứu) ;
– xử trí điều trị : đánh giá nguy cơ sinh tồn tức thời (menace d’état de mal : dọa trạng thái động kinh), đánh giá nguy cơ tái phát trong thời gian ngắn, quyết định nhập viện hay không, hướng bệnh nhân đến một cơ sở điều trị thích ứng trong trường hợp trở về nhà.

I. THÁI ĐỘ XỬ TRÍ TRƯỚC MỘT CƠN ĐỘNG KINH KHỞI ĐẦU (CRISE INAUGURALE) (Hình 1).Trước hết chúng ta hãy nhắc lại rằng sự xuất hiện một cơn co cứng co- giật (crise tonicoclonique) đầu tiên ở một bệnh nhân, biến cố hiếm khi xảy ra không được nhận thấy, không có nghĩa là bệnh nhân trước đó đã không có những loại cơn khác, không được chẩn đoán như là động kinh. Một công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng trong 28% các trường hợp, những bệnh nhân được khám vì có vẻ như bị một đợt động kinh đầu tiên thuộc loại co cứng- co giật, thật ra đã có từ một thời gian nào đó những cơn động kinh không hoàn toàn (crises partielles) trong khung của một động kinh cục bộ (épilepsie focale) hay những rung giật cơ buổi sáng (myoclonies matinales), gợi ý một động kinh rung giật cơ thanh xuân (épilepsie myoclonique juvénile).
1. CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH
Chẩn đoán xác định cơn co cứng-co giật, như ta đã thấy, trước hết phải bằng một vấn chẩn chi tiết bệnh nhân (nếu bệnh nhân trong tình trạng có thể trả lời) và những nhân chứng, nhằm định rõ :
– những trường hợp xuất hiện : nơi, thời điểm so với bữa ăn cuối cùng, trạng thái vật lý và tâm lý của bệnh nhân vào lúc cơn động kinh (mệt, mất ngủ, stress) ;
– những tiền sử nội và ngoại khoa của bệnh nhân ;
– ý niệm về du lịch mới đây trong một vùng dịch bệnh sốt rét hay neurocysticercose ;
– những yếu tố phát khởi : nhiễm độc rượu cấp tính, dùng chất độc, sử dụng mới đây một loại thuốc làm dễ động kinh (médicament pro-épileptogène), tình trạng mất nước (déshydratation), tình trạng nhiều nước (hyperhydratation)… ;
– mô tả chi tiết hiện tượng được cho là co giật
– tìm kiếm những đợt khác gợi ý những cơn toàn thể (cơn vắng ý thức, rung giật) hay cục bộ không được nhận biết.
Sau đó ta sẽ tiến hành một cách hệ thống thăm khám vật ly thần kinh và tổng quát bệnh nhân để tìm kiếm :
– những dấu hiệu thần kinh khu trú : thiếu sót khu trú vận động hay cảm giác, mất ngôn ngữ (aphasie), mất dùng động tác (apraxie), bán manh bên (hémianopsie latérale), hội chứng bó tháp
– tình trạng mù mờ ý thức (obnubilation) hay lú lẫn (confusion) dai dẳng một cách bất thường sau cơn. Nếu bệnh nhân đã không nhận benzodiazépines trước khi đến khoa cấp cứu, trên nguyên tắc bệnh nhân phải tìm thấy lại một tri giác bình thường trong vài giờ sau cơn ;
– hội chứng màng não (syndrome méningé) ;
– sốt
– thăm khám tổng quát để tìm kiếm một hậu quả sau chấn thương của té ngã do cơn (bong gân, gãy xương, gãy răng)
Sau vấn chẩn và thăm khám lâm sàng, chẩn đoán cơn co cứng-co giật khởi đầu (crise tonico-clonique inaugurale) sẽ được xác lập một cách chính thức hay nghi ngờ. Khi đó cần thực hiện một bilan nguyên nhân (bilan étiologique) ở bệnh viện.
2. BILAN CĂN NGUYÊN
– Mô tả
Tất cả những thương tổn não có khả năng gây nên những cơn động kinh nhưng ở những mức độ khác nhau. Các căn nguyên thay đổi tùy theo tuổi :
+ Những tai biến chu sinh (thiếu oxy mô, nhiễm trùng, chấn thương, máu tụ) là những nguyên nhân mang lại những cơn động kinh. Những rối loạn chuyển hóa/hô hấp (giảm đường huyết, giảm canxi-huyết) tự thân có thể gây nên các cơn nhưng cũng gây nên những thương tổn não nguồn gốc của một động kinh kinh diễn thật sự. Những phacomatose và những rối loạn chuyển hóa bẩm sinh được biểu lộ chủ yếu trong thời thơ ấu.
+ Những thương tổn loại dị dạng huyết quản (malformation vasculaire) như cavernome, dị dạng động-tĩnh mạch (MAV : malformation artério-veineuse), những dị dạng vỏ não (dysplasie : loạn sản), xơ cứng hồi hải mã (sclérose de l’hippocampe) được phát hiện chủ yếu trong thời thơ ấu hay thiếu niên.
+ Các áp xe, viêm não, viêm màng não được thấy ở mọi lứa tuổi.
+ Những di chứng sau chấn thương thường gặp hơn ở thời kỳ thiếu niên và vào giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành.
+ Căn nguyên rượu (nguyên nhân rất thường gặp) chủ yếu ở tuổi trưởng thành. Lúc đầu các cơn được gây nên bởi những cai rượu lặp lại nhiều lần. Nếu ngộ độc rượu vẫn tiếp tục, động kinh có thể trở thành tự động và tiến triển độc lập.
+ Những thương tổn khối u, huyết quản và thoái hóa (như trong chứng sa sút trí tuệ) gia tăng với tuổi tác và được thấy chủ yếu ở người già đối với những thương tổn huyết quản và thoái hóa
– Bất hạnh thay không có những yếu tố cận lâm sàng đặc hiệu để chẩn đoán cơn co cứng-co giật. Tuy nhiên vài yếu tố có thể hướng định hay củng cố chẩn đoán :
+ Sự gia tăng CPK chứng tỏ tình trạng tan cơ vân (rhabdomyolyse), hậu quả của ” co giật “, tuy nhiên trị số gia tăng của CPK vẫn không đặc hiệu.
+ Định lượng prolactine, nếu được thực hiện trong vòng 20 phút sau cơn nghi ngờ, trong trường hợp tăng cao có thể hướng dẫn nhà lâm sàng bằng cách giúp phân biệt một cơn co giật động kinh (une crise convulsive épileptique) với một cơn giả (pseudocrise). Trái lại, nó không có giá trị để xác lập một chẩn đoán cơn động kinh hay ngất (syncope), vì có thể tăng cao trong cả hai tình huống.Vậy giá trị và mức độ đáng tin cậy của nó vẫn rất hạn chế và đòi hỏi thận trọng.
+ Định lượng cortisol trong máu : người ta cũng đã gợi ý rằng một sự tăng cao cortisol trong máu sau một biến cố “nghi ngờ” có thể giúp phân biệt một cơn co giật (crise convulsive) với một cơn giả (pseudocrise). Lại nữa, giá trị và mức độ đáng tin cậy của định lượng này dường như thấp.
+ Điện não đồ (EEG) : Điện não đồ dĩ nhiên là thăm dò cận lâm sàng đặc hiệu nhất và đóng góp nhất để chẩn đoán cơn động kinh. 3 yếu tố phải được xét đến :
– Thời hạn thực hiện điện não đồ sau khi xuất hiện đợt lâm sàng gợi cơn động kinh : một điện não đồ được thực hiện trong 24 giờ đầu sau một cơn cho thấy những bất thường dạng động kinh (anomalie épileptiforme) trong 51% các trường hợp, trong khi đó những bất thường này chỉ được tìm thấy trong 34% các trường hợp nếu điện não đồ được thực hiện muộn hơn. Như thế tính chất sớm (précocité) của điện não đồ sau cơn (EEG post-critique) làm gia tăng “ năng suất ” chẩn đoán của nó. Tuy nhiên tính chất sớm này hàm ý một khả năng tiếp cận dễ dàng khoa cấp cứu, điều này thường không phải là như vậy.
– Chất lượng thực hiện điện não đồ : vài tác giả cho rằng ” tốt hơn là thực hiện một thăm dò có chất lượng trong laboratoire hơn là thực hiện một điện não đồ cấp cứu với ít chuyển dạo, trong thời gian ngắn và không có thủ thuật nhạy cảm hóa (manoeuvre de sensibilisation), mặc dầu được thực hiện trong 24 giờ sau cơn ” Dĩ nhiên trong trường hợp nghi ngờ trạng thái động kinh không co giật (état de mal non convulsif) hay bệnh não chuyển hóa (encéphalopathie métabolique), điện não đồ phải được thực hiện đầu cho chất lượng kỹ thuật như thế nào.
– Tính nhạy cảm của điện não đồ : Điện não đồ giữa các cơn (EEG interictal) thường có thể bình thường ở những bệnh nhân động kinh, điều này không cho phép loại bỏ chẩn đoán
3. KHÍA CẠNH THỰC HÀNH
Bilan ngoại lâm sàng được thực hiện trước một cơn động kinh mở đầua. Bilan sinh học
Hội nghị nhất trí của các thầy thuốc chuyên khoa cấp cứu Hoa Kỳ khuyến nghị, ở những bệnh nhân không có những tiền sử y khoa mà thăm khám thần kinh bình thường, một bilan tối thiểu giới hạn vào sự định lượng đường huyết, natri-huyết và beta-HCG ở những phụ nữ trẻ trong lứa tuổi sinh đẻ.
Hiệu năng của những định lượng khác được khuyến nghị một cách cổ điển như NFS-tiểu cầu, kali-huyết và một bilan đông máu không có vẻ hữu ích theo kinh nghiệm của nhiều thầy thuốc chuyên khoa cấp cứu.
Vậy ở đây ta có thể khuyến nghị ở một bệnh nhân không có tiền sử và có thăm khám thần kinh bình thường một bilan sinh học tối thiểu gồm có : natri-huyết, đường huyết, định lượng urée, creatinin-huyết, canxi-huyết, và một bandelette urinaire nhằm tìm kiếm xeton-niệu trong trường hợp cơn co giật cục bộ.
Những xét nghiệm sinh học khác sẽ được hướng dẫn bởi những dữ kiện của vấn chẩn hay của thăm khám lâm sàng :
– trong trường hợp những dữ kiện vấn chẩn nhận biết một một ngộ độc rượu cấp tính hay mãn tính hay sự sử dụng những độc chất tình cờ hay đều đặn, trong trường hợp những dữ kiện vấn chẩn gợi ý một ngộ độc rượu mãn tính (đỏ da mặt, gan to, run) hay trước một hành vi kích động hay vô cảm (un comportement agité ou apathique), ta sẽ bổ sung bilan bằng alcoolémie, một bilan gan và/hoặc tìm kiếm những độc chất (cocaine, héroine, không có benzodiazépines trong nước tiểu ở một người được cho là đã sử dụng vì những lý do X…)
– định lượng beta-HCG ở một phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ ;
– huyết thanh siêu vi hay vi khuẩn trong trường hợp sốt, hội chứng màng não ;
– huyết thanh ký sinh trùng trong bối cảnh sốt và trở về từ một có dịch bệnh đối với vài loại ký sinh trùng.
Mục đích của bilan sinh học là loại bỏ một cơn cấp tính hay tình huống (crise situationnelle). trước khi xác lập chẩn đoán động kinh (épilepsie) không bao giờ được quên rằng bệnh động kinh được đặc trưng bởi sự lặp lại của các cơn động kinh (crises d’épilepsie). Vậy sự xuất hiện của một cơn co giật duy nhất (crise comitiale unique) buộc phải tìm kiếm những yếu tố khởi phát khà dĩ mang lại chẩn đoán những cơn riêng rẻ hay tình huống (crises isolées ou situationnelles) : lạm dụng rượu hay cai rượu (nguyên nhân rất thường của các cơn co giật), cai benzodiazépines, sử dụng độc chất, tình huống chuyển hóa cấp tính (giảm đường huyết, giảm canxi-huyết…). Đứng trước một cơn được gọi là ” bị gây nên” (crise provoquée, crise situationnelle), ta khuyến nghị loại bỏ yếu tố gây nên và không điều trị.
b. Chụp hình ảnh não (Imagerie cérébrale)
Không có sự nhất trí rõ ràng về việc thực hiện hay không một chụp hình ảnh não ở khoa cấp cứu khi đứng trước một cơn co cứng-co giật đầu tiên. Hiệu năng của chụp hình ảnh não để nhận diện nguyên nhân của cơn động kinh là rất thay đổi nhưng phải nhấn mạnh rằng phần lớn các công trình nghiên cứu đã được thực hiện với những chụp cắt lớp vi tính não mà tính nhạy cảm phát hiện các thương tổn là thấp hơn tính nhạy cảm của chụp cộng hưởng từ (IRM). Tuy nhiên, ngay cả lúc sử dụng chụp cắt lớp vi tính, ta có thể nhận diện từ 10 đến 20,3% thương tổn khu trú ở những bệnh nhân với thăm khám thần kinh bình thường đối với một cơn toàn thể co cứng-co giật đầu tiên.
Vậy những con số này tán trợ cho việc thực hiện một chụp hình ảnh não đối với mỗi cơn co giật toàn thể đầu tiên (nguyên phát hay thứ phát). Nếu ta tham chiếu những khuyến nghị được xác lập sau hội nghị của các collège Hoa Kỳ của các thầy thuốc cấp cứu, thầy thuốc thần kinh, thầy thuốc X quang thần kinh và ngoại thần kinh, ta có thể đề nghị những khuyến nghị sau đây :
– Nếu thăm khám thần kinh bất bình thường (thiếu sót thần kinh, đau đầu hay lú lẫn kéo dài…), nếu có sốt, hội chứng màng não, một bối cảnh chấn thương sọ hay tình trạng suy giảm miễn dịch, nếu bệnh nhân đang được điều trị bởi thuốc kháng đông, phải thực hiện cấp cứu một chụp hình ảnh não. Lý tưởng là một cộng hưởng từ hạt nhân hay nếu không, một chụp cắt lớp vi tính não có hay không tiêm chất cản quang có thể loại bỏ một thương tổn não có thể đe dọa trước mắt tiên lượng sinh tồn : tai biến mạch máu não, viêm não herpétique, áp xe não, viêm huyết khối tĩnh mạch (thrombophlébite), u não, xuất huyết màng não… Nếu chụp cắt lớp vi tính não bình thường phải lên chương trình một cộng hưởng từ hạt nhân não (IRM cérébrale).
– Nếu thăm khám thần kinh bình thường, nếu ta nghĩ một cơn co cứng-co giật thứ phát toàn thể (secondairement généralisé) và nếu bệnh nhân trên 40 tuổi, lý tưởng là có thể thực hiện một chụp hình ảnh não trong khung cảnh cấp cứu.Tuy nhiên có thể để bệnh nhân xuất viện không chụp hình ảnh não và lên chương trình trong một thời gian ngắn để thực hiện một IRM não (trong tuần lễ tiếp theo nếu có thể)
– Nếu những thăm khám thần kinh và lâm sàng bình thường, nếu không có lý lẽ đối với một khởi đầu cục bộ, nếu bệnh nhân trẻ và nếu một nguyên nhân chính thức được nhận diện, không cần thiết phải thực hiện một chụp hình ảnh trong khung cảnh cấp cứu, mặc dầu điều đó vẫn luôn luôn được ưa thích hơn. Tuy nhiên bệnh nhân phải ra viện với một ordonnance để chụp cộng hưởng từ não (tốt hơn là một chụp cắt lớp vi tính não) trong một thời hạn không quá 15 ngày.
Một trường hợp đặc biệt là trường hợp của khung hội chứng của động kinh toàn thể không rõ nguyên nhân (EGI : épilepsie généralisée idiopathique) trong đó ta thường công nhận rằng thực hiện một thăm dò chụp hình ảnh não là vô ích. Tuy nhiên, đứng trước một cơn đầu tiên, thường khó chẩn đoán hội chứng chính xác.
Vậy một cách tổng quát ta chủ truog thực hiện một chụp cộng hưởng từ não có chất lượng đứng trước mọi cơn đầu tiên co giật hay không trừ phi nếu cơn đầu tiên nằm trong khung hội chứng đặc trưng của một động kinh toàn thể không rõ nguyên nhân
c/ Chọc dò tủy sống
Chọc dò tủy sống không thuộc vào bian của một cơn toàn thể khởi đầu được thấy ở cấp cứu.
4 tình huống phải khiến thực hiện một chọc dò tủy sống ở cấp cứu :
– một hội chứng màng não sốt hay không sốt.
– một đau đầu dữ dội keo dài với chụp hình ảnh bình thường,
– một tình trạng suy giảm miễn dịch được xác nhận.
– một trạng thái lú lẫn kéo dài mà không tìm thấy nguyên nhân khi thực hiện bilan sinh học, quang tuyến thần kinh và điên não đồ.
Cũng phải ghi nhận rằng thường tìm thấy một pléiocytose (tăng lympho bào) trong dịch não tủy sau một cơn toàn thể co cứng co giật có thể làm trở ngại sự giải thích những kết quả
Những tỷ lệ bạch cầu được tìm thấy trong dịch não tủy nói chung ở mức vừa phải, không vượt quá 20 yếu tố, nhưng những con số cao hơn đã được báo cáo (lên đến 80 yếu tố) mà không có nguyên nhân nào đã được tìm thấy ngoài cơn động kinh.
d/ Điện não đồ
Điện não đồ là thăm dò bổ sung cần thiết cho bilan của mọi động kinh nhưng sự thực hiện nó trong những điều kiện kỹ thuật tốt thậm chí sự thực hiện nó thường có vấn đề. Nếu chẩn đoán lâm sàng cơn co giật không chút nghi ngờ, đợi một điện não đồ trong khung cảnh cấp cứu là vô ích. Vậy ta chỉ chủ trương thực hiện một điện tâm đồ ở cấp cứu trong những trường hợp rất chính xác :
– nghi ngờ một trạng thái động kinh không co giật
– nghi ngờ chẩn đoán :
– trước một tình trạng lú lẫn kéo dài hay dao động khiến sợ một bệnh não (encéphalopathie) hay một trạng thái động kinh không co giật (état de mal non convulsif).
– về sự đúng đắn của một cơn toàn thể co cứng-co giật.
Khi đó điện não đồ sẽ phải được thực hiện càng sớm càng tốt và trong những điều kiện ghi tốt với một chất lượng thu nhận tín hiệu của điện não đồ hoàn hảo.
Ngược lại phải nghĩ đến việc cho bệnh nhân, lúc ra khỏi cấp cứu, một ordonnance để thực hiện một điện não đồ chuẩn, có thể góp phần xác nhận và nhất là dinh đặc điểm chẩn đoán động kinh tốt hơn.
e/ Điện tâm đồ.
Điện tâm đồ sẽ được thực hiện trong trường hợp nghi ngất nguồn gốc do tim (syncope cardiogénique) hay ngất co giật (syncope convulsivante), trong bối cảnh dùng độc chất hay ngộ độc thuốc. Một monitoring tim sẽ cần thiết trong khung cảnh trạng thái động kinh, co giật hay không.

II. THÁI ĐỘ XỬ TRÍ TRƯỚC MỘT CƠN ĐỘNG KINH Ở MỘT BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH ĐƯỢC BIẾT VÀ ĐIỀU TRỊ.1. CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH
Cách tiến hành hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng giống hệt nhau. Tuy nhiên, khi vấn chẩn ta chú ý nhiều hơn các yếu tố đã có thể làm dễ sự tái phát :
– sự tuân thủ điều trị kém : do sự cố, cố ý (sự không tuân thủ điều trị là một nguyên nhân quan trọng của các cơn)
– mới đây đưa vào một thuốc mới có thể tương tác với thuốc chống động kinh, hay thay thế điều trị chống động kinh thường dùng bằng một générique ;
– tình trạng stress bất thường, mệt nhọc, rượu, dùng độc chất…
Ta cũng sẽ xác định xem bệnh nhân có một động kinh khó cân bằng hay không (động kinh được gọi là pharmacorésistante chiếm 30% những động kinh bán phần và 10% những động kinh toàn thể). Sau cùng, ta không bao giờ được quên rằng một bệnh nhân có những cơn động kinh thật sự cũng có thể có những cơn động kinh giả.
Trong tiền bệnh viện, nếu bệnh nhân được biết là bị bệnh động kinh đang được điều trị, cơn xảy ra ngắn và một nguyên nhân phát khởi cơn đã được tìm thấy và có thể được điều trị hay loại bỏ. Có thể giữ bệnh nhân ở nhà với những lời dặn dò theo dõi và gọi lại centre 15 nếu cơn tái phát. Một thăm khám tai nhà hay ở thầy thuốc điều trị phải được xét đến một cách nhanh chóng. Trong những trường hợp khác bệnh nhân được biết là mắc bệnh động kinh này sẽ được gởi đến cấp cứu của khu vực, để theo dõi và thực hiện bilan. Nếu không có những yếu tố đe dọa, sự vận chuyển đến phòng cấp cứu sẽ có thể thực hiện bằng transport sanitaire privé, secouriste pompier hay một équipe của một hiệp hội những người cứu thương
2. CHẤN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN
Bilan biologique ” tối thiểu” để tìm kiếm một tình huống chuyển hóa làm phát khởi sẽ giống nhau. Vấn đề có thể được đặt ra là việc định lượng các thuốc chống động kinh ở một bệnh nhân động kinh được điều trị. Ta có nguy cơ vấp phải hai điều trở ngại :
– giờ lấy máu không thích đáng đối với những thuốc không có galénique à libération prolongée, làm khó việc giải thích đúng đắn sự định liều lượng mà các chuẩn được xác lập bởi những mẫu nghiệm máu được lấy buổi sáng lúc nhịn đói.
– những xét nghiệm định không disponible en routine đối với
những thế hệ những thuốc chống động kinh mới.
Sự nghi ngờ không tuân thủ điều trị sẽ là nguyên nhân duy nhất trên thực hành buộc phải thực hiện một định lượng những thuốc chống động kinh. Sự thực hiện cấp cứu một thăm dò chụp hình ảnh thần kinh não chỉ được biện minh trong khung cảnh một bối cảnh gợi ý : thăm khám thần kinh bất thường (thiếu sót thần kinh, đau đầu hay lú lẫn kéo dài…), sốt, hội chứng màng não, bối cảnh chấn thương sọ não mới xảy ra hay tình trạng suy giảm miễn dịch, điều trị kháng đông đồng thời, sự biến đổi loại cơn thường lệ (thí dụ : những cơn toàn thể co cứng co giật nguyên phát được đi trước bởi một triệu chứng gợi ý một cơn cục bộ).
Những chỉ định thực hiện một chọc dò tủy sống, một điện não đồ và một điện tâm đồ sẽ giống với trường hợp một cơn động kinh đầu tiên.

III. XỬ TRÍ ĐIỀU TRỊ CẤP CỨU
Đứng trước một cơn động kinh đã được biết, có thể có hai tình huống điều trị :
– cơn đã dừng lại trong vòng dưới 5 phút ; khi đó cần theo dõi bệnh nhân và đánh giá nguy cơ tái phát, chỉ điều này mới quyết định, khi nguy cơ cao, sự kê đơn một benzodiazépine. Trong khi cơn diễn biến, cần bảo vệ bệnh nhân tránh những thương tổn chấn thương, đừng ngăn cản những cử động, sự thiết đặt một canule de Guedel trong cơn co giật không còn được khuyến nghị nữa.
– cơn đã không dừng sau 5 phút hay đã tái phát mà bệnh nhân không tỉnh lại sau cơn trước, khi đó chúng ta ở trong tình huống trạng thái động kinh co cứng-co giật (état de mal épileptique tonicoclonique), sẽ cần nhờ đến cấp cứu những phương tiện điều trị thích hợp.
Trong tất cả các trường hợp, không nên quên điều trị nguyên nhân gây động kinh nếu nó được nhận diện.

Actualités en Médecine d’Urgence
Urgence et Neurologie
Journée Scientifiques de la Société Française de Médecine d’Urgence
Nantes 3,4 et 5 octobre 2007

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(26/5/2014)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu nội thần kinh, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Cấp cứu nội thần kinh số 28 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Cấp cứu lão khoa số 18 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s