Thời sự y học số 342 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ TẤT CẢ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỐNG MỤN TRỨNG CÁ
Các thầy thuốc nhắc lại rằng ngoài pilule Diane 35 có nhiều điều trị khác dành cho các cô gái.
DERMATOLOGIE. Trứng cá (acné hay viêm nang bã) thường gặp đến độ (80% những thiếu niên bị chứng này ở những mức độ khác nhau) ta có thể tự hỏi sự kiện không bị trứng cá có phải là chuyện bất thường hay không ! Nguyên nhân gây bệnh : một sự chế tạo qua mức của chất bã (sébum). Thế mà khi có quá nhiều chất bã, những lỗ nhỏ qua đó da thở (pores) bị bít lại và, bên trong, một vi khuẩn tăng sinh. Những điểm đen (point noir) và mụn trứng cá (bouton) xuất hiện.” Ta nói mụn trứng cá khi có hơn 5 thương tổn (microkyste, những nốt sần viêm) có thể thấy được. Hơn 8 trường hợp mụn trứng cá trên 10 ở mức độ từ nhẹ đến trung bình, nhưng sự cảm nhận rất khác nhau đối với mỗi người và rằng khi ta điều trị càng sớm, thì nguy cơ bị sẹo càng ít, do đó nên đi khám bệnh và không chờ đợi quá lâu “, GS Nicole Auffret, thầy thuốc chuyên khoa da (bệnh viện Necker Enfants malades) đã giải thích như vậy.tsyh342 01                                                                      (Acné vulgaire du front)

tsyh342 02Đối với những mụn trứng cá thể nhẹ, những điều trị tại chỗ là đủ : những loại thuốc với chất peroxyde de benzoyle có một tác dụng kháng viêm và những rétinoide dùng tại chỗ có một tác dụng lên những comédon (nhân trứng cá, blackhead). tsyh342 03Trong trường hợp mụn hơi quan trọng hơn, một điều trị kháng sinh bằng đường miệng (ít nhất 3 tháng với một cycline), ngoài những topique local, cũng cho những kết quả tốt, ít nhất với điều kiện dùng chúng mỗi ngày..Và không chỉ trong trường hợp poussée de bouton như vài thiếu niên ít tuân thủ… Vậy chỉ sau khi thất bại một điều trị bằng những cyclines, và trong trường hợp mụn thể nặng, mà ta có thể đề nghị một isotrétinoine. ” Từ tháng năm 2009 và xét vì tính chất gây quái thai của isotrétinoine, những điều kiện quanh việc kê đơn loại thuốc này được tăng cường với, nhất là, một xét nghiệm máu mỗi tháng để kiểm tra sự vắng mặt thai nghén “, BS Auffret đã nhấn mạnh như vậy.

                                 (Acné vulgaire kystique de la face)

Mới đây, sự thu hồi Diane 35, được quyết định nhưng không được sự nhất trí, cũng như sự không bồi hoàn của các viên thuốc ngừa thai thuộc thế hệ thứ ba và thứ tư, kể cả ở những phụ nữ không có một yếu tố nguy cơ tim mạch nào và sử dụng những viên thuốc này từ nhiều năm nay, đã gieo sự nghi ngờ ở những người sử dụng. ” Những progestatif của phần lớn những viên thuốc ngừa thai, nhưng cũng của những patch và anneau, có một tác dụng androgénique (như vậy sẽ làm trầm trọng chứng mụn trứng cá). Đó nhất là trường hợp của những viên thuốc ngừa thai thuộc thế hệ thứ nhất và thứ hai “, BS Christophe Bedane, thầy thuốc chuyên bệnh ngoài da (CHU Limoges) đã ghi nhận như vậy. Điều này làm hạn chế sự lựa chọn rất nhiều. Trong trường hợp kê toa lần đầu tiên một viên thuốc ngừa thai ở một cô gái trẻ bị mụn trứng cá, từ nay khuyên nên đề nghị một viên thuốc ngừa thai thuộc thế hệ thứ hai có chất progestatif là levonorgestrel (Leeloo, Lovalulo). Chỉ trong trường hợp thất bại, và như thế thuộc ưu tiên hai, mà sự kê đơn một viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba hoặc thứ tư (có một progestatif chống lại những tác dụng của các hormone nam) mới có thể được đặt ra, sau khi đã kiểm tra sự vắng mặt của yếu tố nguy cơ tim mạch.
Ngoài những điều trị này, khuyên nên bỏ thuốc lá, làm trầm trọng chứng mụn trứng cá ở vài người. Cũng bị nêu đích danh : ” Những của ngọt (sucreries), cũng như bánh mì và pâte hay riz à base de céréales raffinées và có thể cồn (cũng là một chất đường). Thật vậy những người Papous chỉ tiêu thụ céréales complètes không biết chứng mụn trứng cá là gì. Những người Esquimaux cũng vậy…Trừ phi khi họ đến sống trong những thành phố và theo chế độ ăn uống thuộc loại phương tây “, GS Brigitte Dreno (giám đốc của unité dermatolo-oncologie, CHU Nantes) đã ghi nhận như vậy.
GIẢI PHÁP THÍ NGHIỆM
Sau cùng, trong những năm đến, một điều trị khác có thể được đề nghị : đó là photothérapie dynamique, mặc dầu đã được phát triển tốt ở Nhật Bản, nhưng vẫn còn là một giải pháp thí nghiệm ở Pháp. Ngoài ra phương pháp này được đề nghị trong rất ít những trung tâm (Limoges, Nantes và Caen) trong chỉ định này. Nó có thể có vai trò trong những trường hợp trứng cá thể trung bình, thậm chí nặng, luân phiên với isotrétinoine, nếu những công trình nghiên cứu xác nhận những kết quả hứa hẹn của nó. ” Photothérapie dynamique dựa trên sự gắn những chất làm nhạy cảm với ánh sáng (agents photosensibilisants) lên mô mà ta muốn điều trị (ở đây là da) và dựa vào sự kích hoạt chúng bởi một nguồn sáng. Trong trường hợp trứng cá, thầy thuốc chuyên khoa đã sử dụng MAL (méthyl ester d’acide aminolévulinique), được trình bày dưới dạng một crème để đắp lên vùng cần điều trị, trước khi hoạt hóa nó, sau một thời gian đặt, bằng ánh sáng xanh (sự tiếp xúc kéo dài 10 đến 20 phút và cho phép điều trị một vùng rất nông). Những kết quả thu được chủ yếu đáng lưu ý trên bình diện viêm của căn bệnh này. Chỉ cần một buổi điều trị là đủ, tiếp theo sau nếu cần bởi một hay hai buổi duy trì hàng năm”, GS Bedane nói tiếp như vậy. Buổi điều trị hơi gây đau (cảm giác bỏng), do đó cần tiêm một thuốc giảm đau ngay trước đó. Làm lạnh thương tổn được chiếu sáng cũng được chủ trương. Sau cùng, chủ yếu không được tiếp xúc với ánh sáng trong 24 giờ tiếp theo. Nhưng ngoài một ban đỏ và đôi khi một phù nề nhẹ, những phần tiếp theo nói chung đơn giản.
(LE FIGARO 18/3/2013)

2/ 20% NHỮNG NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH BỊ LIÊN HỆ BỞI CHỨNG TRỨNG CÁ.
Trứng cá rất thường gặp ở tuổi thiếu niên, nhưng nó không chỉ giới hạn ở thời kỳ niên thiếu. “Trong số 20% những người trưởng thành bị bệnh trứng cá thật sự, 8 trên 10 đã có vấn đề này trong thời thiếu niên. Trong trường hợp này, trứng cá của người trưởng thành chỉ là một sự liên tục của trứng cá của thời kỳ niên thiếu, với những thời kỳ thuyên giảm và những thời kỳ bộc phát, GS Brigitte Dreno (giám đốc của unité de dermato-oncologie, CHU Nantes) đã giải thích như vậy.
Nhưng đối với hai người trưởng thành trên mười, trứng cá xuất hiện mới khoảng năm 25 tuổi : vì những người này đã không bao giờ bị trứng cá trước đó, nên đơn giản khi họ thật sự khó tin vào chẩn đoán.” Và chứng trứng cá của người lớn này có thể kéo dài : ” Vào năm 45-50 tuổi, vài người trưởng thành vẫn còn bị trứng cá, BS Nicole Auffret (thầy thuốc chuyên bệnh ngoài da, bệnh viện Necker-Enfants malades) đã xác nhận như vậy.
Nhiều yếu tố làm dễ đã được nhận diện như stress, những rối loạn giấc ngủ và, đối với các phụ nữ, những sai lầm trong việc chọn lựa những mỹ phẩm : ” Phấn đánh mặt, son phấn nhiều, sự lặp lại quá nhiều lần những lớp kem phấn (masque) và những gommage, tất cả điều đó có thể dẫn đến một phản ứng của da bằng một sự tăng sinh chất bã “, GS Christophe Bedane (CHRU Limoges) đã nhấn mạnh như vậy. Hội chứng các buồng trứng đa nang (syndrome des ovaires polykystiques), được thể hiện, ngoài những vấn đề khác ra, một sự gia tăng tiết androgène, là một nguyên nhân hiếm hơn nhiều. Còn về những dao động hormone liên quan với thai nghén, chúng có thể đóng một vài trò rõ ràng vì lẽ 15% những trường hợp trứng cá bắt đầu (hay tái phát) vào cơ hội này và 60% bị nặng thêm.
Tuy nhiên đối với những người lớn vẫn còn bị trứng cá, một tin vui nho nhỏ : bệnh trứng cá này thường ở mức độ từ rất nhẹ đến vừa phải. Ngoài ra, trứng cá chủ yếu xuất hiện ở 1/3 dưới của mặt, với sự hiện diện của vài nốt viêm trong vùng xương hàm. ” Một người có da bị trứng cá chỉ được sử dụng một gel nettoyant de pH 5 (tương ứng với độ axit tự nhiên của da) và chắc chắn không phải một xà phòng pH 8, hoàn toàn không được thích ứng “, GS Dreno đã nêu lên như vậy.
ĐIỀU TRỊ KHÁNG SINH
Cũng cần tránh những sản phẩm không rửa được (như laits sans rinçage). Cần thực hiện, nhất là, những điều trị tại chỗ với peroxyde de benzoyle trong trường hợp những thương tổn viêm và/hoặc rétinoides dùng tại chỗ trong trường hợp nhân trứng cá (comédon), cho những kết quả tốt trong chứng trứng cá của người trưởng thành. Cần đắp lên toàn cả mặt và vào buổi chiều. Buổi sáng dành cho các crème hydratante không sinh mụn trứng cá (không xoa). Và đối với các phụ nữ, chỉ dùng đến những produit de maquillage đã được trắc nghiệm trên da trứng cá. Khi những biện pháp này không đủ, 3 hay 4 tháng điều trị kháng sinh bằng những cyclines có phép passer un mauvais cap, ngoại trừ trong thời kỳ thai nghén, lúc đó chỉ có những muối kẽm mới được cho phép sử dụng, bắt đầu từ tháng thứ ba của thai kỳ. Còn về ngừa thai, khi những viên thuốc của thế hệ thứ nhất hay thứ hai dường như làm gia trọng vấn đề, ta có thể đề nghị một vòng ngừa thai bằng đồng (stérilet en cuivre) (nhưng không phải là vòng ngừa thai chứa progestérone với nguy cơ làm nặng thêm trứng cá). Sau cùng, trong những trường hợp thật sự đề kháng, spironolactrone (một loại thuốc cũ được các thầy thuốc chuyên khoa tim dùng trong điều trị cao huyết áp) có thể được sử dụng bổ sung cho điều trị tại chỗ, với liều rất thấp và trong thời gian dài : chỉ có điều thường cần hai tháng để thuốc có tác dụng.
(LE FIGARO 18/3/2013)

3/ TRỨNG CÁ : NHỮNG CHIẾN LƯỢC ĐỂ LÀM GIẢM SẸOtsyh342 04
Đừng đụng vào những nốt mụn trứng cá (bouton d’acné), đó đã là hạn chế những nguy cơ gây sẹo. Bằng không, tốt hơn là tác động lên thượng nguồn, nhất là khi trứng cá có nguy cơ trầm trọng : hoặc bởi vì một trong những người trong gia đình đã gặp loại vấn đề này (vai trò của yếu tố gia đình), hoặc là bởi vì trứng cá đã bắt đầu rất sớm, ngay năm 9 hay 10 tuổi và như thế trước tuổi dậy thì, hoặc sau cùng bởi vì sử dụng một điều trị được biết là gây nên những trứng cá nặng : ” Chủ yếu đó là trường hợp của vài liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée) được sử dụng trong ung thư học. Chúng gây nên những trứng cá quan trọng đến độ vài bệnh nhân từ chối tiếp tục điều trị mặc dầu những kết quả tốt lên khối u ung thư. Điều này thật càng đáng tiếc khi một xử trí chuyên khoa da song hành (với những cyclines và những điều trị tại chỗ) cho phép tránh một quyết định như thế “, GS Christophe Bedane (CHRU Limogues) đã nhấn mạnh như vậy. Những điều trị khác khả dĩ làm trầm trọng trứng cá là những điều trị dùng lithium, những dẫn xuất của vitamine B, vài loại thuốc trị bệnh Parkinson và bệnh động kinh, cũng như một liệu pháp corticoide bằng đường tổng quát. Khi đó những săn sóc vệ sinh cơ bản là cần thiết và nếu trứng cá xuất hiện, , thì phải nhanh chóng đi khám để khong cho phép thành hinh, trở nên trầm trọng và tạo thành những vết sẹo.
NHỮNG LIỆU PHÁP KHÔNG ĐƯỢC BỒI HOÀN
Bởi vì một khi những vết sẹo đã thành hình, điều đó trở nên phức tạp. ” Các da bị nhiễm sắc tố nhất đặc biệt khó điều trị “, BS Nicole Auffret (bệnh viện Necker) đã ghi nhận như vậy. Mặt khác ông phàn nàn việc thiếu những công trình nghiên cứu lớn để so sánh những phương pháp khác nhau. “Giải pháp thư nhất : excision par punch. Phương pháp này nhằm vừa ăn vào, vừa xoay, một vòng tròn kim loại nhỏ từ 2 đến 3 mm đường kính để sau đó có thể đưa sẹo lên bằng một pince và giữ nó trong vị trí này nhờ một sapradrap, thời gian để da lành sẹo. Sau đó ta có một dấu sẹo, nhưng không có những dấu sẹo như trước nữa. Trong một thì hai, thầy thuốc chuyên khoa da có thể sử dụng những laser để surfacing, với gây tê tại chỗ, hoặc lasers ablatifs (bằng CO hay erbium), hoặc non ablatifs trong trường hợp điều trị rất nông (laser Fraxel). Tùy theo tầm quan trọng của relissage, da rỉ nước trong vài ngày và có thể vẫn hồng trong một thời gian. Những kết quả là thỏa mãn, nhưng có một nguy cơ nhỏ bị nhiễm sắc tố. Dẫu sao ta có được những kết quả tốt hơn so với vài peelings : quá nông, chúng không có hiệu quả. Và quá sâu, chúng có một nguy cơ xuất hiện những sẹo mới “, GS Dreno đã nói tiếp như vậy.
(LE FIGARO 18/3/2013)

4/ ĐIỀU GÌ LÀM TA ĐỎ MẶT ?
Dầu đó là do sự giận dữ, sự xấu hổ hay khoái lạc, sự đỏ mặt trước hết là một phương tiện để truyền đạt những cảm xúc của mình.” Tất cả những cảm xúc đều có một ý nghĩa xã hội “, Antoine Pelissolo, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần thuộc CHU Henri-Mondor (Créteil) và đồng tác giả của cuốn sách ” Đừng đỏ mặt nữa và chấp nhận cái nhìn của những kẻ khác ” (Ne plus rougir et accepter le regard des autres). Tuy vậy phản ứng đôi khi có vẻ dường như nghịch lý : vì xấu hổ, ta thích độn thổ, thế mà gương mặt phản bội chúng ta. ” Trong trường hợp này ta có thể nghĩ rằng sự đỏ mặt dùng để tạo nên một sự kết nhóm chặt chẽ (cohésion de groupe), vị giáo sư đã đánh giá như vậy. Khi đỏ mặt, tôi cho người khác thấy rằng tôi công nhận đã phạm phải một điều bậy bạ “. Điều này có tính chất làm giảm bớt những xung đột.
CHO ĐẾN SỰ ÁM ẢNH.
Tuy nhiên bộ máy não (mécanique cérébrale) giải thích sự đỏ mặt vẫn còn mù mờ. Một cách sơ đồ, amygdale (hạnh nhân), nơi hội tụ những thông tin cảm xúc (informations émotionelles), gởi một message đến vùng dưới đồi (hypothalamus). Khi đó hệ giao cảm phát khởi sự sản xuất adrénaline. Hormone de stress này đến lượt gây nên sự giãn các huyết quản của mặt, làm máu dồn đến. Đó là một phản ứng phản xạ, do đó không thể kiểm soát được, như Charles Darwin đã ghi nhận điều đó vào năm 1872 : ” Không những sự đỏ mặt là không tự ý, mà sự mong muốn kềm chế nó, do lôi kéo sự chú ý của chúng ta về con người của chúng ta, lại càng làm cho chúng ta càng bị đỏ mặt hơn nữa.” Ở vài người điều đó trở thành nỗi ám ảnh. Rối loạn này được gọi là ” éreutophobie ” : sự sợ hãi ám ảnh bị đỏ mặt trước kẻ khác.
(SCIENCE &VIE 3/2014)

5/ DOULEURS NEUROPATHIQUES : NHỮNG KẾT QUẢ TỐT VỚI KÍCH THÍCH VỎ NÃO.
GS Jean Régis, trưởng khoa ngoại thần kinh chức năng ở hôpital de la Timone (Marseille) trình bày những tác dụng lợi ích của một phương pháp mới đối với những đau mãn tính đề kháng với các loại thuốc.
Hỏi : Ông định nghĩa như thế nào loại đau được gọi là đau thần kinh (douleur neuropathique) này ?
GS Jean Régis. Có hai loại đau mà sự khác nhau tùy thuộc vào những récepteur truyền thông tin lên não bộ của chúng. Có những récepteur ngoại biên nhạy cảm với nhiệt độ, với áp lực, với một sự viêm nhiễm (như da) dẫn message douloureux qua tủy sống ; đó là những douleur được gọi là noniceptrice. Trong những trường hợp của những douleur neuropathique, không có kích thích ngoại biên cũng như dẫn truyền bình thường : đường thần kinh bị cắt. Bởi vì những dây thần kinh bình thường dẫn truyền thông tin đã bị thương tổn. Chính sự cắt đứt này gây đau lan tỏa và thường trực.
Hỏi : Xác lập chẩn đoán phân biệt giữa một douleur neuropathique và một douleur noniceptrice không phải là dễ dàng. Làm sao phân biệt được chúng ?
GS Jean Régis. Hỏi bệnh rất là quan trọng. Các bệnh nhân nói chung có cùng những loại đau : âm ỉ, lan tỏa, thường trực…được mô tả với những cảm giác rát, giật đứt (arrachement), kiến bò…Ở những bệnh nhân này, mà chất lượng sống thường rất bị biến đổi, tất cả những điều trị thuốc đã tỏ ra không có hiệu quả. Một số bệnh nhân chủ yếu bị bệnh zona, herpès, một ung thư đã ăn mòn một dây thần kinh, những bệnh nhân khác bị những nguyên nhân không được biết rõ…
Hỏi : Khi các thuốc vẫn không hiệu quả, những giải pháp nào cho những bệnh nhân có chất lượng sống bị biến đổi ?
GS Jean Régis. Đối với những trường hợp đau khu trú, ta kích thích những đường dẫn truyền bình thường để cố tái lập sự kiểm soát chúng. Khi ta găi, thì dù để bớt ngứa, ta kích hoạt cảm giác xúc giác (sensibilité tactile), điều này ức chế cảm giác khó chịu. Với phương pháp kích thích thần kinh (neurostimulation) này, được thực hiện bằng những điện cực, ta có được một sự cải thiện rõ rệt ở một số lớn các bệnh nhân.
Hỏi : Và trong trường hợp thất bại đối với những bệnh nhân, mà những đau mãn tính ở một giai đoạn nghiêm trọng hơn, đã trở nên không chịu đựng nổi, kỹ thuật mới đây đã được hiệu chính là gì ?
GS Jean Régis. Một thầy thuốc ngoại khoa Nhật Bản đã phát triển một phương thức kích thích trực tiếp vỏ não trong vùng não điều khiển một cách đặc hiệu vùng đau khu trú. Động tác mổ nhằm trổ một lỗ nhỏ qua sọ để đưa vào đó những điện cực và đặt chúng vào nơi được nhắm đến. Qua một sợi dây đi qua dưới da ở cổ, những điện cực này được nối với một pacemaker được đặt dưới xương đòn. Sau can thiệp, thầy thuốc thực hiện một điều chỉnh rất chính xác máy này nhờ một télécommande để có thể kiểm soát tốt nhất cường độ và tần số của những cảm giác đau đớn.
Hỏi : Vậy mục đích của phương thức này là làm rối message douloureux nhờ một dòng điện ?
GS Jean Régis. Vâng, bằng cách kích thích vùng vỏ não điều khiển những cử động của vùng đau.
Hỏi : Ở Pháp, bao nhiều bệnh nhân đã được điều trị bằng phương pháp kích thích thần kinh (neurostimulation) này ?
GS Jean Régis. Một công trình nghiên cứu Pháp do GS Nguyễn điều hành đã được thực hiện với nhiều trung tâm ngoại thần kinh, trên 140 bệnh nhân chủ yếu bị đứt những dây thần kinh mặt. Kết quả : với một hời gian nhìn lại 14 năm, một nửa trong số những bệnh nhân này rất thỏa mãn. Đây là lần đầu tiên một điều trị chứng minh một tính hiệu quả thật sự ở những người bị thương tổn nặng, đã cho phép giảm tỷ lệ dùng thuốc 59%.
Hỏi : Hiện nay ta có thể nhận phương pháp điều trị này ở đâu ?
GS Jean Régis. Trong những khoa ngoại thần kinh chuyên môn, chỉ điều trị những bệnh nhân được đánh giá rồi được chọn lọc bởi một trung tâm điều trị đau (centre de la douleur). Hiện có trong tất cả những thành phố lớn.
(PARIS MATCH 14/6 – 20/6/2012)

6/ CÓ THẬT LÀ MỘT TỬ TỘI BỊ CHẶT ĐẦU VẪN CÒN Ý THỨC TRONG CHỐC LÁT ?
Dường như đúng là vâng : trong vài giây đồng hồ, một cái đầu bị chặt vẫn tiếp tục có một hoạt động nhận thức (activité cognitive). Câu hỏi, rùng rợn, từ lâu đã được đặt ra cho các nhà khoa học. Một cách chính xác, từ ngày 17/7/1793, khi Charlotte Corday bị đưa lên đoạn đầu đài vì ám sát Jean-Paul Marat, gương mặt của cách mạng Pháp.
Một người đồng thời không rõ tên kể lại : ” Khi chiếc đầu của Charlotte Corday rơi xuống dưới lưỡi dao định mệnh, đao phủ thủ đưa đầu bị chặt của tội nhân cho công chúng xem và đã dám giáng cho nó hai cái tát. Các đôi má ửng đỏ lên làm kinh ngạc những người nhìn. ” Thế mà đôi má của một tử thi thì không có máu. Mối hoài nghi bắt đầuxuất hiện. Thế thì phải chăng đầu của nạn nhân đỏ lên vì tức giận bởi vì cô ta vẫn còn ý thức sau khi đầu bị tách khỏi cơ thể ?
Thế là cuộc tranh căi bắt đầu. Phải chăng đó chỉ là những co cơ đơn thuần ? Vài nhà quan sát báo cáo rằng bằng cách kích thích nhẹ tủy sống của những cái đầu vừa mới bị chặt, những gương mặt của những người xấu số biểu hiện những nét nhăn mặt khiếp sợ..
MỘT THÍ NGHIỆM CHƯA TỪNG CÓ.
Vào năm 1905, bác sĩ Beaurieux đến độ thỏa thuận với tử tội Henti Languille để ông này cam kết sẽ phản ứng nếu ông ta nghe tên mình sau khi bị hành quyết : ” Khi đó tôi thấy những mí mắt được đưa lên chầm chậm, không một co thắt nào, ông đã viết như vậy. Tôi đã thấy đôi mắt rất sống động nhìn tôi. Tất cả đã kéo dài từ hai mươi đến ba mươi giây.
Cách nay 3 năm, Clementina ven Rijn và những đồng nghiệp của ông thuộc Viện não Donders ở Nimègue (Hòa Lan) đã tiếp tục vấn đề nhưng trên nhưng cơ sở thí nghiệm vững chắc hơn. Thật vậy, sự chặt đầu được thực hiện đều đều ở phòng thí nghiệm, trên vài động vật để lấy các cơ quan. Để đo lường sự đau đớn được gây nên, các nhà sinh học đã chặt đầu 9 con chuột thức tỉnh và 8 con chuột được gây mê, đồng thời ghi điện não đồ của chúng. Những biện pháp như thế, ngoại lệ, đã không bao giờ được thực hiện ! Họ đã chứng thực rằng những động vật, ngay cả khi được gây mê, vẫn có được một tri giác rất ngắn ngủi, mất đi sau 3 hay 4 giây, trước khi đi vào một trạng thái đờ đẫn (état de torpeur), rồi tiếp đến chết não (mort cérébrale), sau 17 giây. ” Mặc dầu ta không thể suy đoán trực tiếp những kết quả này của một động vật gặm nhấm lên một con người, nhưng chắc chắn rằng, đối với con người, tri thức vẫn còn tồn tại sau khi bị chặt đầu ! “, nhà sinh-thần kinh (neurobiologiste) và nhà triết học Georges Charpouthier, giám đốc nghiên cứu ở CNRS đã kết luận như vậy. Lần này đó điều phải làm đỏ mặt người đao phủ của Charlotte Corday.
(SCIENCE ET VIE 3/2014)

7/ GLAUCOME : NHỮNG SIÊU ÂM, VŨ KHÍ ĐIỀU TRỊ MỚI.
GS Philippe Denis, trưởng khoa mắt của hôpital de la Croix-Rousse (Lyon), chủ tịch của Hiệp hội glaucome của Pháp, bình phẩm những hiệu năng của điều trị cá thể hóa này.
Hỏi : Những đặc điểm của một glaucome ?
BS Philippe Denis. Đó là một bệnh ảnh hưởng lên dây thần kinh thị giác, được gây nên bởi sự gia tăng của áp lực nội nhãn. Với thời gian, những sợi thần kinh thị giác (fibres visuelles) bị thương tổn, làm giảm dần thị trường. Có hai dạng glaucome : góc mở (90% các trường hợp) và góc đóng (10%).
Hỏi : Những triệu chứng nào phải báo động ?
BS Philippe Denis : Glaucome góc mở bất hạnh thay diễn ra âm ỉ. Khởi đầu nó không gây đau hay giảm thị lực nào cả. Do đó tầm quan trọng phải thực hiện một bilan ở tuổi 40. Rất đơn giản, bilan gồm có đo nhãn áp và khám dây thần kinh thị giác nhờ soi đáy mắt. Ở một giai đoạn tiến triển, có một sự mất vĩnh viễn thị giác ngoại biên. Khi đó tất cả những người bị thương tổn đều bị phế tật. Trong trường hợp một glaucome góc đóng, áp lực nội nhãn tăng lên rất nhanh, gây nên một cách nhanh chóng đau đầu, nôn và giảm thị lực.
Hỏi : Có những yếu tố làm dễ hay không ?
BS Philippe Denis : Có nhiều yếu tố tạo thuận : 20% đến 30% các trường hợp là do di truyền và ta liệt kê nhiều trường hợp hơn ở những người bị cận thị. Tần số của căn bệnh này cũng gia tăng rất rõ rệt sau 7 tuổi. Vài sắc dân, nhất là châu Phi và châu Á, bị bệnh hơn những sắc dân khác.
Hỏi : Không điều trị, hai dạng glaucome này tiến triển như thế nào ?
BS Philippe Denis : Glaucome góc mở tiến triển một cách chậm chạp, qua nhiều năm, nhưng phải điều trị càng sớm càng tốt bởi vì thương tổn của thị trường không thể đảo ngược được. Còn glaucome góc đóng, đó là một cấp cứu : nếu điều trị chậm sẽ đưa đến mù lòa. Trong những nước phát triển những trường hợp này hiếm xảy ra bởi vì, ngay những triệu chứng đầu tiên, sự điều trị luôn luôn rất nhanh.
Hỏi : Những điều trị quy ước là gì ?
BS Philippe Denis : Vào giai đoạn đầu, ta sử dụng những thuốc nhỏ mắt chứa các prostaglandines hay những betabloquant làm giảm sự sản xuất của thể dịch (humeur aqueuse) hay làm dễ sự loại bỏ chúng. Ở một giai đoạn trung gian ta nhờ đến laser, có tác dụng làm dễ sự bài xuất của thể dịch. Trong những trường hợp đề kháng, ngoại khoa, bằng một đường rạch dưới mí mắt trong thành của nhãn cầu, sẽ cho phép sự chảy của thể dịch.
Hỏi : Ta có được những kết quả nào với những liệu pháp này ?
BS Philippe Denis : Với các thuốc giọt mắt, ta kềm hãm tiến triển của bệnh trong 80% các trường hợp. Laser và ngoại khoa cho phép có được 70% đến 80% của cùng những kết quả này. Những ngoại khoa bị những nguy cơ nhiễm trùng, xuất huyết nhãn cầu, đục thủy tinh thể, và đường rạch nhỏ gây nên một vết sẹo ở phần trắng của mắt làm tắt đường dẫn lưu. Trong 20% các trường hợp, áp lực nhãn cầu tăng lên trở lại và có sự tái phát.
Hỏi : Do đó đối với những bệnh nhân đề kháng này, lợi ích có một điều trị mới. Kỹ thuật bằng siêu âm này là gì ?
BS Philippe Denis : Đó là sử dụng những sóng siêu âm có cường độ cao (mạnh hơn nhiều nhưng sóng của các siêu âm cổ điển) để phá hủy một phần các tuyến (procès ciliaire) tiết thể dịch. Hậu quả : sự sản xuất thể dịch giảm và áp lực nhãn cầu trở nên bình thường. Can thiệp này (dưới gây tê tại chỗ) được thực hiện nội trú trên một bệnh nhân được làm thư giãn bằng một thuốc an thần và chỉ kéo dài hai phút. Mắt được giữ mở bằng một cái banh mi nhỏ và các siêu âm được bắn ra nhắm vào những thể mi (procès ciliaire).
Hỏi : Với kỹ thuật này, những kết quả có được là gì ?
BS Philippe Denis : Ta không thể chữa lành glaucome nhưng kềm hãm rất hiệu quả sự tiến triển của nó để ngăn cản sự hủy hoại của dây thần kinh thị giác. Một công trình nghiên cứu mới đây đã được thực hiện bởi nhiều kíp nghiên cứu Pháp trên 70 bệnh nhân bị một glaucome góc mở ở một giai đoạn trung gian. Sau một năm nhìn lại, ta đã đánh giá nhãn áp giảm 30% : một sự giảm tương tự với sự giảm có được với ngoại khoa và với một tolérance rất tốt. Những kết quả này đã được trình bày ở Viện Mắt Hoa Kỳ và phải được công bố trong thời gian sắp tới.
Hỏi : Từ khi nào, điều trị bằng những siêu âm này được sử dụng ?
BS Philippe Denis : Từ khoảng 12 tháng. Đặc biệt được chỉ định trong những trường hợp glaucome đề kháng với những điều trị quy ước, điều trị bằng siêu âm này tạo nên một vũ khi điều trị mới.
(PARIS 6/2-12/2/2014)

8/ NHỮNG CHẤT TĂNG DỤC (APHRODISIAQUE) CÓ MỘT HIỆU QUẢ THẬT SỰ KHÔNG ?
Vô số những sản phẩm hứa hẹn tăng dục (doper le désir sexuel) khiến ta tin rằng điều đó có thể xảy ra. Nhưng ở đây phải phân biệt hai điều : một mặt là sự ham muốn (désir) ; mặt khác là bộ máy cơ thể (mécanique corporelle). Thế mà, về sự ham muốn nói riêng, những bằng cớ khoa học, chứng minh rằng những chất này làm gia tăng sự ham muốn, không hiện hữu. ” Không một chất nào được phân tích chứng minh một cách thuyết phục những hiệu quả kích dục (stimulation sexuelle) “, Jacques Diezi, giáo sư danh dự về dược lý và độc chất học thuộc đại học Lausanne (Thụy Sĩ), cũng là tác giả của La pharmacologie d’Aphrodite, đã xác nhận như vậy. ” Loại ” chất tăng dục” (aphrodisiaque) không hiện hữu trong những tác phẩm dược lý, ông đã nhắc lại như vậy. Và trên những chất này ta đã không thực hiện một chứng cớ nào về những hiệu quả, thí dụ, những thử nghiệm so sánh có kiểm tra (essais comparatifs contrôlés), như người ta đòi hỏi đối với một loại thuốc mới.” Vậy, nhiều lắm, tác dụng của chúng trên dục tính (libido) chỉ là placebo.
NHỮNG TÁC DỤNG THUẦN CƠ HỌC.
Tuy vậy vài trong số những chất này ” giãn những huyết quản của các thể hang của các cơ quan sinh dục ; chúng cũng có thể gia tăng sự sản xuất những tinh trùng hay cả những nồng độ testostérone. Một cách rõ ràng, chúng có một tác dụng lên cơ thể, nhưng đó không phải là những chất tăng dục (aphrodisiaque), nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy. Ngoài ra, chính nhờ tác dụng của chúng lên bộ máy sinh dục (mécanique sexuelle) mà các sản phẩm như gừng (gingembre), nghệ (safran), quả lựu (grenade) hay hàu (huitre) nổi tiếng.
Theo một công trình nghiên cứu được công bố cách nay hai năm bởi những nhà nghiên cứu của đại học Queen Margaret d’Edimbourg (Vương quốc Anh), quả lựu làm gia tăng 24% nồng độ testostérone, kích thích tố được tiết ra chủ yếu ở đàn ông bởi các tinh hoàn, nhưng cũng ở phụ nữ bởi các buồng trứng. Một năm trước đó, những nhà nghiên cứu của đại học Guelph (Canada), đã cho thấy rằng gừng và nghệ làm dễ sự chảy dồn đến của máu (và do đó gây cương cứng) nhờ những tính chất giãn mạch của chúng. Các con hàu, rất giàu chất kẽm, một oligo-élément cần thiết cho sự sinh tinh trùng, góp phần vào quá trình sản xuất các tinh trùng. Vậy cũng như Viagra, những sản phẩm có tiếng tăng dục này có thể có một tính hiệu quả thật sự trong việc làm gia tăng những hiệu năng sinh dục (performances sexuelles)… nhưng không được lẫn lộn với ý niệm ham muốn nhục dục (désir sexuel).
(SCIENCES ET VIE 4/2014)

9/ TÔI CHỈ CÓ NHỮNG KHOÁI LẠC CỰC ĐỘ ÂM VẬTtsyh342 05

tsyh337 6Những khoái lạc cực độ âm vật và âm đạo giống nhau nhiều : đó là một phản xạ y hệt, mặc dầu điều được cảm nhận khác nhau. Trong trường hợp thứ nhất, một kích thích của âm vật (clitoris) làm phát khởi khoái lạc cực độ (orgasme). Trường hợp thứ hai được phát khởi bởi một kích thích âm đạo. Tuy vậy, hai khoái lạc cực độ này sau đó diễn ra theo cùng cách : đó là những co thắt không tự ý và nhịp nhàng của các cơ của vùng sinh dục, đặc biệt các cơ quanh âm đạo. Vậy khoái lạc cực độ âm vật hay âm đạo đều liên quan đến âm đạo, siết lại từ 3 đến 12 lần liên tiếp…Các nhà chuyên gia về sinh dục (sexologue) do đó nói khoái lạc cực độ có điểm phát xuất âm vật hay âm đạo mà cơ quan chấp hành (effecteur) (cơ từ đó phát xuất những đáp ứng đối với những kích thích nhận được từ nhưng cơ quan giác quan) luôn luôn là âm đạo.
Khoái lạc cực độ âm vật thường xảy ra hơn nhiều khoái lạc cực độ âm đạo. Hơn 90% các phụ nữ biết đến khoái lạc cực độ âm vật. Trong khi chỉ 1/3 biết được khoái lạc cực độ âm đạo gây nên bởi những cử động qua lại của dương vật. 1/3 khác có thể có một khoái lạc cực độ trong khi pénétration nếu âm vật được kích thích cùng lúc. Và 1/3 các phụ nữ đã không bao giờ có khoái lạc cực độ âm đạo (orgasme vaginal)…Mặc dầu họ có thể cảm thấy một khoái lạc âm đạo (plaisir vaginal). Vì thế cô hoàn toàn đại diện cho những phụ nữ không có vấn đề gì đặc biệt !
Hãy kiểm lại những cảm giác của cô
Hãy bắt đầu bằng cách yêu cầu người bạn trai của cô vuốt ve âm vật trong khi pénétration. Điều đó có thể giúp cơ thể của cô thiết đặt một “chiếc cầu” khoái lạc nhằm nhận biết và xác định những kích thích âm đạo như là những nguồn của khoái lạc cực độ.
Hãy thăm dò những cảm giác âm đạo. Hãy khiến người bạn trai của cô thay đổi những khoái lạc gây nên bởi những cử động qua lại của dương vật : những cử động rất chậm hay rất nhanh, bằng cách xen vào những cử động rất nông hay rất sâu, hay những di chuyển gây sức ép lên các thành của âm đạo thay vì trượt theo trục..
Hãy khám phá phần trong của âm đạo và tất cả những bề mặt của nó
Điều đó có thể được thực hiện lúc ve vuốt.
Điều mà cô có thể làm..
Hãy tránh tìm kiếm khoái lạc cực độ âm vật trước khi pénétration. Thật vậy, đối với vài phụ nữ, có một thời kỳ đề kháng (péridode réfractaire), trong đó sau một khoái lạc cực độ, sự kích dục trở nên gần như không thể thực hiện. Vì thế một khoái lạc cực độ âm vật vào lúc đầu một giao hợp có thể ngăn cản sự xuất hiện một khoái lạc cực độ âm đạo.
Hãy tập trung vào những điều được cảm nhận bên trong âm đạo : nhiệt ? Nhột ? Ớn lạnh ? Nặng ? Hãy chú ý đến tất cả những cảm giác này, nếu lúc đầu, dường như cô cảm thấy chúng ít mạnh hơn so với những cảm giác âm vật mà cô cảm thấy lúc được kích thích.
Và rồi thì, cô hãy tập luyện, trong khi pénétration, co thắt âm đạo của cô quanh dương vật của người bạn trai. Đó là một bài tập nhằm làm dễ một cách đáng kể sự xuất hiện của khoái lạc cực độ.
(TOP SANTE 5/2013)

10/ TẾ BÀO LEYDIG, TỪ ĐỘNG VẬT LƯỠNG CƯ ĐẾN NGƯỜI.
tsyh342 06Những tế bào tiết testostérone, đó là một khám phá quan trọng ! Nhưng ai biết rằng sự khám phá này tiếp theo sau sự khám phá những tế bào tuyến (cellules glandulaires) của cá và của mô liên kết của lớp tôm cua (crustacé), bởi một người đàn ông lúc đầu say mê đời sống biển và phương pháp soi kính hiển vi (microscopie) ?
Melchior Leydig, viên chức theo đạo ki tô giáo và Margareta vợ ông theo đạo Tin lành, là những bố mẹ hạnh phúc của 3 người con, trong đó con trai duy nhất, Franz sinh năm 1821 ở Rothenburg (Đức). Cha nào con nấy, Franz theo đạo thiên chúa giáo và những thú tiêu khiển của cha : thực vật học (botanique) và nghề nuôi ông mật (apiculture). Ông nhận chiếc kính hiển vi đầu tiên vào năm 12 tuổi và trải qua phần lớn thời gian rồi rảnh mắt dán vào vật kính. Ông theo học trường latin địa phương rồi học triết ở Munich trong hai năm trước khi theo học y khoa ở Wurzburg, ở đây ông nhận văn bằng tiến sĩ y khoa lúc 26 tuổi. Để trả tiền học, ông làm trợ giáo sinh lý học (assistant en physiologie) và đồng thời giảng dạy mô học (histologie) và phôi thai học (embryologie) trong cái đang còn trong giai đoạn phôi thai của Institut de Microscopie, nghành khoa học còn rất ít phát triển. Các sinh viên còn nhớ lâu những bài giảng có minh họa trên bảng đen của ông.
SỰ ĐAM MÊ ĐỘNG VẬT HỌC
Rất nhanh, ông trở thành phó giáo sư đại học về cơ thể học (maitre de conférence en anatomie) rồi giáo sư đặc biệt (professeur extraordianaire) vào năm 34 tuổi. Từ vài năm, sau một chuyến du lịch ở Sardaigne và Naples, ông say mê đời sống dưới biển và những động vật không xương sống. Cuộc du lịch này, cũng như món quà của kính hiển vi đầu tiên của ông, sẽ hướng định vĩnh viễn đời ông. Ông được bổ nhiệm làm giáo sư động vật học và cơ thể học so sánh ở Đại học Tubingen và xuất bản ” Manuel d’Histologie de l’homme et des animaux “, một đóng góp đáng chú ý cho hình thái học so sánh (morphologie comparée). Trong phần nhập đề, Leydig duyệt xét lại những phát triển chủ yếu của lịch sử mô học, kể cả sự khám phá và định nghĩa tế bào vào đầu thế kỷ 19. Leydig cũng tỏ lòng kính trọng những nhà cơ thể học đương thời, đặc biệt Johannes Peter Muller, với công trình về các tuyến.
NHỮNG TẾ BÀO LEYDIG :
Ngoài tầm quan trọng lịch sử của nó, cuốn sách của Leydig mô tả một tế bào tiết (cellule sécrétoire) lớn, được tìm thấy trong biểu bì cá và những động vật lưỡng thê. Tế bào niêm mạc này không đổ các chất tiết lên bề mặt của biểu mô, trái với điều mà Leydig nghĩ. Leydig thấy ở đó một tế bào làm trơn (cellule lubrifiante) : thật vậy, động vật (nhất là triton) tiết một độc chất phòng thủ xuyên qua những pointe thoracique nhỏ. Tế bào đầu tiên mang tên Leydig này được tiếp theo sau bởi khám phá một tế bào khác sẽ cướp mất danh tiếng tế bào này : tế bào kẽ (cellule interstitielle), một cấu trúc chứa một réticulum endoplasmique và những hạt kết tinh và mỡ, hiện diện trong các ống sinh tinh (tubule séminifère) và những vách liên kết của các tinh hoàn. Ông có trực giác là đã khám phá nguồn testostérone có khả năng xác định những tính chất sinh dục năm thứ cấp. Ông mô tả một cách tinh tế cấu trúc này, kể cả tính chất nội tiết của nó, vào năm 1850, trong chuyên luận thứ hai sẽ làm ông nổi tiếng ” Về cơ thể học của những cơ quan sinh dục nam và những tuyến hậu môn của những động vật có vú”.
DANH TIẾNG VÀ DANH DỰ.
Leydig trở thành giáo sư cơ thể học so sánh (anatomie comparée) ở Đại học Bonn vào năm 1875, lúc 54 tuổi. Đồng thời ông không những là giám đốc của Viện Cơ thể học (Institut Anatomique) mà còn của Viện bảo tàng và của Viện động vật học. Ông cũng trở thành Geheimer Medizinalrat, một tước vị có từ thời vương quốc và hàm ý một chức năng chuyên gia và cố vấn y khoa chính thức của chính quyền. Ông được nhận vào éméritat (quy chế giáo sư ưu tú) vào năm 66 tuổi và về hưu trong thành phố quê ông, ở đây dân chúng ngã mũ chào khi ông đi qua. Franz cưới con gái của một thầy thuốc ngoại khoa nhưng không có con. Trong suốt cuộc đời trưởng thành của mình, ông được công nhận, vinh danh và là thành viên của một số lớn những hiệp hội y khoa và khoa học như Hiệp hội hoàng gia Luân Đôn, Académie impériale des sciences de Saint-Pétersbourg và Viện hàn lâm khoa học Nữu Ước. Ông là Docteur Hororis Causa en Sciences của Đại học Bologne và được phong tước. Sự đóng góp của ông lên đến hơn 200 bài báo khoa học, ngoài vài chuyên luận vẫn còn rất nổi tiếng.
Ông qua đời vào năm 87 tuổi, suy yếu vì bệnh cúm. Sau khi ông mất, những khám phá của ông sẽ vẫn còn im lìm trong ít nhất 100 năm trước khi chúng được vinh danh đến độ đặt tên ông cho khối u nói chung hiền tính, phát xuất từ những tế bào cùng tên.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 13/12/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(8/5/2014)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to Thời sự y học số 342 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 508 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 512 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  3. Pingback: Thời sự y học số 515 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s