Cấp cứu sản phụ khoa số 1 – BS Nguyễn Văn Thịnh

ccspk1

HIẾP DÂM VÀ LẠM DỤNG TÌNH DỤC
(SEXUAL ASSAULT AND SEXUAL ABUSE)

1/ ĐỊNH NGHĨA PHÁP LÝ CỦA HIẾP DÂM ?
– Hiếp dâm (tấn công tình dục) là một phán quyết pháp lý chứ không phải là một chẩn đoán y khoa.
– Định nghĩa pháp lý gồm 3 yếu tố : quan hệ nhục dục (carnal knowledge), thiếu sự thỏa thuận (lack of consent), và cưỡng ép hoặc sợ bị làm hại.
– quan hệ nhục dục với một nạn nhân (nam hoặc nữ) mà không có sự thỏa thuận, bằng cách làm sợ hãi bị hại, dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lừa gạt. Quan hệ nhục dục gồm có giao hợp hoàn toàn bằng đường âm đạo, hậu môn hay miệng ; đưa dương vật vào không hoàn toàn hay đưa ngón tay vào âm đạo, vuốt ve mơn trớn (fondling) hoặc đụng chạm một cách cố ý ; hoặc cưỡng ép nạn nhân phải mơn trớ vuốt ve hay đụng chạm bộ phận sinh dục của người hãm hiếp. Thiếu sự thoả thuận (lack of consent) là một khía cạnh quan trọng của tội lỗi : các nạn nhân không thỏa thuận (nonconsenting victims) gồm có trẻ vị thành niên và các nạn nhân bị ngộ độc, bị cho uống chất ma túy, đang ngủ hoặc thiếu khả năng về tâm thần.
– Theo quy định của luật pháp, trẻ vị thành niên không có khả năng cho sự thỏa thuận ; việc đưa dương vật vào trong bộ phận sinh dục của những bệnh nhân như thế là sự cưỡng dâm theo quy định luật pháp (statutory rape).
– Những người có những rối loạn tâm thần do thiểu năng tâm thần (mental retardation), bệnh tâm thần (mental illness), thiếu sự phát triển bình thường tâm thần-sinh dục (psychosexual development) hoặc uống thuốc ma túy hay rượu một cách tự ý hoặc bị cưỡng ép thường cũng được xem như là không có khả năng để thỏa thuận một giao hợp tự ý.

2/ MỨC ĐỘ LƯU HÀNH CỦA HIẾP DÂM ?
– 95% các trường hợp hiếp dâm xảy ra ở phụ nữ. Ở Hoa Kỳ tỷ lệ bị hiếp dâm được đánh giá là 37 nạn nhân trên 100.000 dân hoặc 73 trường hợp trên 100.000 phụ nữ. Chỉ 10% đến 20% các trường hợp hiếp dâm được khai báo. Mặc dầu các trường hợp hiếp dâm có thể xảy đến cho các đối tượng từ 1 tháng đến 90 tuổi, nhưng lứa tuổi từ 10 đến 20 là bị ảnh hưởng nhất.
– Do việc khai báo thấp, tỷ lệ chính xác của các trường hợp hiếp dâm khó mà xác định được. National Institute of Justice và Centers for Disease Control đánh giá rằng 18% các phụ nữ đã bị hãm hiếp vào một thời điểm nào đó trong suốt cuộc đời họ ; một nửa trong số các nạn nhân này là những thiếu niên dưới 18 tuổi vào lúc bị hiếp dâm lần đầu tiên.Trong số các nạn nhân, 10% đã khai báo với cơ quan thi hành pháp luật ; khoảng 1/3 các phụ nữ bị thương tổn do bị hiếp dâm đã thăm khám y tế. Trong số những nạn nhân tiếp xúc với các trung tâm giúp những người bị hãm hiếp (rape crisis centers), 70 đến 80% là những nạn nhân bị hiếp dâm bởi những người thân quen.
– Hiếp dâm chiếm 1% của tất các tội ác bạo lực được khai báo.
– Hầu hết các vụ hiếp dâm xảy ra là do một người quen biết với nạn nhân phạm phải.
– Cứ 3 trường hợp hiếp dâm thì có một trường hợp được khai báo với cơ quan thi hành pháp luật.

3/ TẠI SAO SỰ HIỂU BIẾT CỦA THẦY THUỐC PHÒNG CẤP CỨU VỀ VẤN ĐỀ HIẾP DÂM LÀ QUAN TRỌNG ?
Phòng cấp cứu là nơi thông thường nhất để một nạn nhân bị hãm hiếp đến để được thăm khám và nhận điều trị tức thời và để xin giấy chứng nhận pháp y. Một phương thức xử lý toàn diện đối với các nạn nhân bị hiếp dâm ở phòng cấp cứu, không những điều trị y khoa mà còn thăm khám pháp y, là cần thiết cho việc điều trị tối ưu những bệnh nhân này.

4/ NHỮNG THÔNG TIN NÀO CẦN LÀM SÁNG TỎ TRONG BỆNH SỬ CỦA BỆNH NHÂN ?
(1) Thông tin về sức khoẻ tổng quát của bệnh nhân, thuốc men, và các dị ứng và một bệnh sử phụ khoa đầy đủ, gồm có sự sử dụng phương pháp ngừa thai, ngày tháng và lúc giao hợp được thỏa thuận cuối cùng, kỳ kinh cuối cùng, và bệnh sử về các triệu chứng phụ khoa mới đây trước khi bị hiếp dâm.
(2) Một bệnh sử có định hướng về hiếp dâm bao gồm ngày tháng, thời gian và nơi hiếp dâm ; các thông tin về các kẻ hãm hiếp ; loại và các chi tiết về các động tác giao cấu, gồm cả loại vũ lực hay đe dọa được sử dụng. Cần làm bệnh sử ở một nơi riêng tư và nhân viên thi hành pháp luật không nên có mặt.

5/ MỤC ĐÍCH CỦA THĂM KHÁM VẬT LÝ ?
– Các bệnh nhân đến phòng cấp cửu có thể chỉ yêu cầu được khám pháp y (forensic examination), tuy nhiên, chấn thương hiện diện trong 45 đến 67% các trường hợp, với thương tổn bộ phận sinh dục trong 9 đến 45% các trường hợp. Các thương tổn nên được mô tả và chứng minh bằng tư liệu, bao gồm các hình ảnh về các thương tổn, nếu có.
– Mục đích của thăm khám vật lý là để phát hiện những thương tổn cần phải điều trị, cũng như ghi chép và thu lượm những chứng cớ pháp ý để truy tố kẻ hãm hiếp . Một thăm khám toàn bộ từ đầu đến chân nên được thực hiện dầu cho bệnh nhân có tán thành việc thăm khám để tìm chứng cớ (evidenciary examination) hay không. Những thương tổn không thuộc bộ phận sinh dục, thường là những vết trầy da nhỏ hoặc những vết bầm, thường xảy ra nhiều hơn là những thương tổn ở bộ phận sinh dục. Các bệnh nhân nên được thăm khám cẩn thận để tìm bằng cớ về những vết xây xát (scratches), những vết bầm (bruises), những vết rách (lacerations), những dấu răng cắn (teeth marks), hoặc những dấu chứng tổn thương khác. Khám phụ khoa nên bao gồm việc tìm kiếm tỉ mỉ những vết bầm, vết chợt, vết rách, nơi xuất huyết, hoặc các vùng nhạy cảm đau lúc sờ. Đèn Wood sẽ phát huỳnh quang hầu hết các chất nhuộm tinh dịch, và thuốc nhuộm xanh toluidine sẽ phát hiện các vết rách nhỏ do chấn thương ở bộ phận sinh dục.Thăm khám soi âm đạo (colposcopic examination) có thể nhận diện những thương tổn ở cổ tử cung. Cần thực hiện thăm khám cẩn thận trực tràng trong trường hợp giao hợp bằng đường trực tràng và nếu có máu, nên thực hiện thăm khám soi hậu môn (anoscopy) hoặc soi kết tràng xích ma (sigmoidoscopy) để nhận diện những thương tổn nội tại.
– Điều quan trọng là toàn bộ niêm mạc âm đạo phải được nhìn thấy để loại bỏ những vết rách sâu kín (occult laceration) (đặc biệt là khi có xuất huyết âm đạo nhưng không thể xác định nguồn xuất huyết).
– Túi cùng âm đạo sau (cul-de-sac vaginal postérieur) phải được kiểm tra sau khi đặt mỏ vịt để xác định sự hiện diện của các chất dịch nếu có. Các chất dịch này phải được hút và đặt trong một vật chứa vô trùng và sẽ được xét nghiệm tìm tinh dịch, phosphatase acide và các kháng nguyên của nhóm máu.

6/ TRONG THĂM KHÁM PHÁP Y CẦN THU THẬP NHỮNG CHỨNG CỚ GÌ ?
Các mẫu nghiệm để phát hiện tinh trùng hoặc tinh dịch có thể được sử dụng làm chứng cớ chứng tỏ có tiếp xúc sinh dục (sexual contact) và để nhận dạng kẻ hãm hiếp bằng DNA testing. Các mẫu nghiệm ở âm đạo, miệng và trực tràng nên được thu thập nếu có thể được. Các chất tinh dịch đọng trên da nên được thu thập : đèn Wood sẽ phát huỳnh quang các chất nhuộm tinh dịch. Nên thu thập các mẫu nghiệm về bất cứ vật lạ nào cũng như quần áo nạn nhân đã mặc. Các mẫu nghiệm nước miếng và tóc nên được thu thập để so sánh với các mẫu nghiệm nước miếng lấy từ da của nạn nhân và với tóc rụng được tìm thấy nơi xảy ra tội phạm hoặc trên nạn nhân. Các bản kính ướt có thể được khảo sát để tìm các tinh trùng di động. Nếu bệnh sử gợi ý một trường hợp hãm hiếp có sử dụng ma túy để làm dễ (drug-facilitated rape), có thể cần những mẩu nghiệm nước tiểu để thử nghiệm độc chất học (toxicologic testing).

7/ CẦN LÀM NHỮNG XÉT NGHIỆM NÀO ?
Một thử nghiệm thai nghén bằng huyết thanh (serum pregnancy test) nên được thực hiện để loại trừ một tình trạng thai nghén có trước. Nếu quả là đã có thai nghén trước khi hành động hiếp dâm xảy ra thì bệnh nhân nên được trấn an rằng thai nghén này không phải là kết quả của việc hiếp dâm này.Việc thu góp theo lệ thường các bệnh phẩm để cấy tìm lậu cầu hoặc chlamydia là vấn đề còn được tranh cãi. Một nhiễm trùng đã hiện diện trước đó, xảy ra ở khoảng 5% các nạn nhân bị hiếp dâm (cũng giống như với toàn dân chúng) và việc nhận diện những bệnh nhân này sẽ cho phép điều trị các bạn đường phối ngẫu thường xuyên của họ. Nếu nạn nhân đã không nhận kháng sinh phòng ngừa ở phòng cấp cứu, thì việc cấy tìm chlamydia và lậu cầu nên được lập lại trong hai tuần.
Tuy nhiên vấn đề tuân thủ sự theo dõi y tế của các nạn nhân nói chung là kém cỏi.Trên bình diện pháp y học, việc cấy dương tính chứng tỏ các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục đã có từ trước, đã được các luật sư bào chữa sử dụng như là bằng chứng về sự chung đụng ăn nằm của nạn nhân.Thử nghiệm tìm HIV không được chỉ định một cách thường quy ở phòng cấp cứu nhưng tất cả các nạn nhân nên được giới thiệu đến sở y tế hoặc các cơ quan khác có văn phòng cố vấn và xét nghiệm tìm kháng thể HIV một cách thân tín.

8/ MỨC ĐỘ NGUY CƠ BỊ MẮC PHẢI MỘT BỆNH ĐƯỢC LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC ?
Các nghiên cứu gợi ý rằng nguy cơ mắc phải một nhiễm trùng mới bởi chlamydia hay lậu cầu do một hành vi hiếp dâm là 4% đến 17%. Tỷ lệ nguy cơ mắc phải nhiễm trùng bởi HIV là không được biết đến nhưng được cho là dưới 1%.

9/ VIỆC ĐIỀU TRỊ BẰNG KHÁNG SINH NHỮNG NẠN NHÂN BỊ HIẾP DÂM CÓ ĐƯỢC CHỈ ĐỊNH KHÔNG ?
– Nói chung nạn nhân bị hãm hiếp phải được xem như là một người có khả năng bị nhiễm bởi một bệnh hoa liễu mặc dầu tỷ lệ mắc bệnh lậu, nhiễm trùng bởi Clamydia, bệnh giang mai, viêm gan siêu vi B và nhiễm HIV trong số các nạn nhân bị hãm hiếp thấp.Tuy vậy việc điều trị dự phòng không những được sử dụng mà còn có một tác động tâm lý có ý nghĩa.
– Do tỷ lệ theo dõi điều trị các nạn nhân bị hiếp dâm thấp, nên việc phòng ngừa bệnh lây truyền bằng đường sinh dục nên được thực hiện đối với tất cả các nạn nhân.
– Để điều trị ngăn ngừa nhiễm lậu cầu, các điều trị có hiệu quả gồm có ceftriaxone (Rocephine), 125 mg tiêm mông với liều duy nhất ; cefixime, 400mg cho bằng đường miệng với liều duy nhất ; hay ciprofloxacin (Ciproxine), 500mg cho bằng đường miệng với liều duy nhất ; hay ofloxacin (Tarivid) 400 mg cho bằng đường miệng với liều duy nhất. Ceftriaxone 125 mg tiêm mông được khuyên dùng khi có thai.
– Để điều trị phòng ngừa nhiễm trùng Chlamydia, các bệnh nhân cũng nên được cho azithromycin (Zitromax), 1g bằng đường miệng với liều duy nhất, hay doxycycline (Vibratab), 100mg bằng đường miệng hai lần mỗi ngày trong 7 đến 10 ngày, erythromycin base (Erythroforte) 500 mg bằng đường miệng 4 lần mỗi ngày hay amoxicillin ( Clamoxyl) 500 mg bằng đường miệng 3 lần mỗi ngày trong 7 ngày. Doxycycline và các tétracyclines cho phép điều trị các nhiễm trùng bởi Chlamydia nhưng tốt hơn là phải dùng érythromycine ở các phụ nữ mang thai.
– Centers for Disease Control cũng khuyên cho một liều duy nhất 2g metronidazole (Flagyl) để điều trị Trichomonas và viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis).
Điều trị dự phòng được khuyên đối với bệnh trichomonas (trichomoniasis) và viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis) : một liều duy nhất metronidazole 2g bằng đường miệng, metronidazole 250 mg 3 lần mỗi ngày trong 7 ngày, hay clindamycin 300 mg bằng đường miệng hai lần mỗi ngày trong 7 ngày.Nếu có thai và có triệu chứng, metronidazole 2g bằng đường miệng có thể được cho cùng với theo dõi sát.
– Phòng ngừa viêm gan do siêu vi trùng B nên được xét đến nếu như kẻ hiếp dâm được tin là thuộc nhóm có nguy cơ cao đối với bệnh này .
Dự phòng viêm gan siêu vi B : tiêm chủng vào lúc đánh giá khởi đầu và các liều tiếp theo 1-2 tháng sau và 4-6 tháng sau.

10/ NÓI VỀ NGUY CƠ CÓ THAI SAU KHI BỊ HIẾP DÂM ?
Tỷ lệ khoảng 1%. Sự hiện diện của thai nghén đã có trước phải được xác định ở phòng cấp cứu.
Một thai nghén đã có trước khi xảy ra việc hiếp dâm phải được tìm kiếm bằng định lượng nồng độ bêta-HCG nếu nạn nhân đã không dùng các biện pháp ngừa thai.Trong trường hợp này, việc phòng ngừa một thai nghén xảy ra sau khi bị hãm hiếp có thể được dự kiến nếu việc hiếp dâm xảy ra dưới 72 giờ trước khi đến khám (viên thuốc của ngày hôm sau, pilule du lendemain). Sự xuất hiện một thai nghén xảy ra sau khi bị hãm hiếp phải được kiểm tra từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 6 sau khi bị hãm hiếp.

11/ NHỮNG THÁI ĐỘ HIỆN NAY ĐỐI VỚI VIỆC PHÒNG NGỪA THAI NGHÉN ?
– Cần thực hiện càng nhanh càng tốt xét nghiệm định lượng nồng độ bêta-HCG huyết thanh. Không nên tiến hành phòng ngừa thai nghén trước khi đã loại trừ một cách dứt khoác một thai nghén đã có trước khi bị hiếp dâm bằng những phân tích của phòng xét nghiệm. Các bệnh nhân đến khám 24-48 giờ sau khi bị hãm hiếp và xét nghiệm bêta-HCG dương tính, là đã có thai trước khi bị hãm hiếp và do đó không nên cho họ những thuốc bị chống chỉ định trong thời kỳ thai nghén hoặc không nên tự ý làm gián đoạn thai nghén này.
– Khi kết quả của bêta-HCG được biết là âm tính, một điều trị phòng ngừa thai nghén có thể được thực hiện nếu tình trạng thai nghén có thể xảy ra căn cứ trên bệnh sử kinh nguyệt của bệnh nhân và nếu bệnh nhân mong muốn chấm dứt một thai nghén khả dĩ xảy ra.
– Khi một thai nghén có trước đã được loại bỏ, có thể sử dụng nhiều loại dược phẩm có estrogen hoặc progesterone để ngăn ngừa thai nghén bằng cách làm cản trở sự rụng trứng, ngăn ngừa sự thụ thai hoặc ngăn ngừa sự làm tổ (implantation). Các thuốc này nên được cho trong vòng 72 giờ kể từ khi bị hiếp dâm. Phối hợp estrogen và progesterone được sử dụng rộng rãi nhất là norgestrel và ethinyl estradiol (Ovral), được cho bằng đường miệng, 2 viên lúc đến phòng cấp cứu và 2 viên 12 giờ sau đó. Một dược phẩm chỉ có progesterone là Plan B : 1 viên lúc đến và 1 viên 12 giờ sau đó. Bệnh nhân nên được cảnh báo về triệu chứng nôn là một tác dụng phụ và khả năng chảy máu tối thiểu âm đạo (vaginal spotting). Tỷ lệ thất bại với Ovral và Plan B là dưới 2% ; tuy nhiên bệnh nhân nên được khuyên thăm khám sản phụ khoa nếu chậm có kinh.

12/ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA HIẾP DÂM NAM ?
Nạn nhân hiếp dâm nam nên được xử trí như một nạn nhân nữ. Nên đặc biệt chú ý đến miệng, bộ phận sinh dục, hậu môn, và trực tràng. Đàn ông chỉ chiếm khoảng 5% các nạn nhân bị hãm hiếp được báo cáo.

13/ BÀN VỀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA HIẾP DÂM TRẺ EM.
Trong hiếp dâm nhi đồng, kẻ hiếp dâm thường được biết bởi nạn nhân, và thường có một bệnh sử hiếp dâm tái diễn. Ngoài việc chứng minh bằng tài liệu các dấu chứng của chấn thương cấp tính, người thầy thuốc nên tìm kiếm các dấu hiệu hiếp dâm tại chỗ, như các vết rách của màng trinh đã lành sẹo, một lỗ âm đạo lớn, tiết dịch âm đạo, hoặc trương lực cơ vòng trực tràng bị giãn. Khám phụ khoa nên xét đến tính chất của hành vi hiếp dâm và tuổi của đứa trẻ. Nếu cần phải sử dụng mỏ vịt (speculum) để khám trẻ thì thay vì mỏ vịt âm đạo (vaginal speculum ) có thể dùng mỏ vịt để khám mũi (nasal speculum). Đôi khi khám âm đạo hoặc trực tràng phải được thực hiện với gây mê tổng quát bởi vì trạng thái xúc cảm của đứa bé. Đứa trẻ nên được bảo vệ tránh bị hãm hiếp thêm nữa bằng cách cho nhập viện hoặc chuyển ngay đến cơ quan có dịch vụ xã hội thích hợp.

14/ MỨC ĐỘ THƯỜNG THẤY CỦA LẠM DỤNG TÌNH DỤC GÂY NÊN BỞI MỘT NGƯỜI TRƯỚC ĐÂY ĐÃ ĐƯỢC ĐỨA TRẺ BIẾT ĐẾN ?
Từ 75% đến 80%. Những người bà con là thủ phạm trong 50% các trường hợp.

15/ TRONG TRƯỜNG HỢP NGHI NGỜ MỘT TRẺ BỊ LẠM DỤNG TÌNH DỤC, CÓ CẦN TIẾN HÀNH NGAY THĂM KHÁM ĐẦY ĐỦ LẠM DỤNG TÌNH DỤC, HAY BỆNH NHÂN CÓ THỂ ĐƯỢC GIỚI THIỆU ĐẾN MỘT CHUYÊN GIA CHUYÊN VỀ LẠM DỤNG TÌNH DỤC CÀNG SỚM CÀNG TỐT ?
Nếu như bạn tin rằng việc lạm dụng tình dục (sexual abuse) đã xảy ra trong vòng 96 giờ qua hoặc nếu xuất huyết đang còn tiếp diễn hoặc có chứng cớ về thương tổn cấp tính, thì việc hoàn tất tức thời một thăm khám y khoa là quan trọng. Các thủ tục được chấp nhận để đánh giá nạn nhân trẻ em bị hãm hiếp nên được tuân theo để đảm bảo một cách thích hợp các chứng cớ sinh học như tinh dịch, máu, và những tế bào biểu mô. Nếu bệnh sử gợi ý rằng biến cố đã xảy ra đã hơn 72 giờ và không có thương tổn cấp tính, thì một thăm khám cấp cứu là không cần thiết.

16/ SAU KHI ĐÃ THU THẬP BỆNH SỬ VÀ THĂM KHÁM VẬT LÝ CẨN TRỌNG, CÁC CHỨNG CỚ NÀO CẦN ĐƯỢC THU THẬP TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP NGHI NGỜ LẠM DỤNG TÌNH DỤC HAY HIẾP DÂM THIẾU NỮ SAU TUỔI DẬY THÌ ?
Với một bệnh sử khiến nghi ngờ có tiếp xúc sinh dục (sexual contact), mất tri giác, nên thực hiện các thử nghiệm sau đây :
a/ Trắc ngiệm thai nghén nếu nạn nhân đã có kinh.
b/ Chứng cớ của việc tiếp xúc sinh dục, gồm 2-3 mẫu nghiệm từ mỗi vùng bị chấn thương do hãm hiếp để tìm các chất sau đây :
– Tinh trùng (di động / không di động).
– Acid phosphatase (được tiết ra bởi tuyến tiền liệt, thành phần của tinh dịch)
– P30 (glycoproteine của tuyến tiền liệt hiện diện trong tinh dịch).
– các kháng nguyên của nhóm máu.
c/ Chứng cớ để chứng minh thủ phạm :
– Vật lạ trên quần áo.
– Tóc khả nghi không phải của bệnh nhân.
– Trắc nghiệm DNA.

17/ KHI NÀO THÌ NGHI NGỜ LẠM DỤNG TÌNH DỤC Ở TRẺ EM ?
Lạm dụng tình dục (sexual abuse) phải được điều tra nếu như trẻ em báo cáo là bị xâm phạm tình dục. Những thay đổi về hành vi, như rối loạn giấc ngủ, đái dầm (enuresis), học tập kém ở trường (poor school performance), và đau bụng, đã được quan sát nơi các trẻ em bị lạm dụng tình dục mới được xác định. Những dấu chứng khác của lạm dụng tình dục gồm có bệnh lây truyền bằng đường sinh dục ở trẻ trước tuổi dậy thì hay chấn thương bộ phận sinh dục.

18/ LẠM DỤNG TÌNH DỤC CÓ THỂ GÂY NÊN BÍ TIỂU NHƯ THẾ NÀO ?
Thầy thuốc phòng cấp cứu nên luôn luôn nhận thức rằng bí tiểu (urinary retention) hay loạn năng tiểu tiện (dysfunctional voiding) có thể là triệu chứng đến khám của lạm dục tình dục. Các trẻ bị lạm dụng tình dục thường rất sợ những động tác có liên quan đến bộ phận sinh dục và tìm cách tránh cơ quan này. Ngoài ra những hành động lạm dụng có thể đưa đến các chấn thương hay nhiễm trùng của bộ phận sinh dục hay niệu đạo. Hãy hỏi những câu hỏi thích hợp nếu không tìm thấy nguyên nhân nào khác gây bí tiểu.

19/ NHỮNG BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC NÀO RẤT ĐẶC HIỆU CHO LẠM DỤNG TÌNH DỤC ?
Bệnh lậu và giang mai được lây truyền bằng đường sinh dục. Nếu được tìm thấy ở trẻ trước tuổi dậy thì, thì bạn có thể chắc chắn rằng việc lạm dụng tình dục đã xảy ra.

20/ NHỮNG BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC NÀO ÍT ĐẶC HIỆU HƠN BỞI VÌ CHÚNG CÓ NHỮNG CÁCH TRUYỀN BỆNH KHÁC ?
Herpès simplex, Trichomonas sp., Condyloma, Gardnerella sp., và Chlamydia sp. có thể biểu thị lạm dụng tình dục, nhưng tất cả các tác nhân này có thể được lây truyền không phải bằng đường sinh dục và do đó có tính đặc hiệu thấp.

21/ CÁC BỆNH NHÂN NHI ĐỒNG CÓ NÊN ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG BẰNG KHÁNG SINH KHÔNG ?
Kháng sinh điều trị dự phòng nói chung không được chỉ định khi nghi ngờ lạm dụng tình dục ở trẻ em.Tỷ lệ nhiễm trùng ở trẻ em thấp hơn nhiều so với người lớn, và sự hiện diện của một bệnh lây truyền bằng đường sinh dục là một chứng cớ vững chắc rằng việc lạm dụng này đã xảy ra. Điều quan trọng là phải xác nhận sự nhiễm trùng này trước khi điều trị. Ở trẻ em mẫu nghiệm để cấy tìm chlamydia và lậu cầu nên được lấy từ âm đạo thay vì cổ tử cung.

22/ NÓI VỀ NHỮNG MẶT QUAN TRỌNG TRONG ĐIỀU TRỊ THEO DÕI NHỮNG NẠN NHÂN BỊ HIẾP DÂM.
Điều trị theo dõi nên đảm bảo rằng bất cứ thương tổn vật lý nào được ghi nhận phải được chữa lành một cách thích đáng, rằng điều trị phòng ngừa thai nghén đã được thực hiện một cách đầy đủ, các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục đã được điều trị một cách thích ứng và nạn nhân đã nhận được điều trị tâm lý hỗ trợ (supportive counselling)

23/ LOẠI CHẤN THƯƠNG TÂM THẦN NÀO CÁC NẠN NHÂN BỊ HIẾP DÂM CÓ THỂ GẶP PHẢI ?
Sự xuất hiện một hội chứng căng thẳng sau chấn thương (posttraumatic stress disorder, syndrome de stress post-traumatique), được biểu hiện bởi rối loạn giấc ngủ, mặc cảm tội lỗi, rối loạn trí nhớ, và sự tách ly ra khỏi thế giới và những biểu hiện khác có thể xảy ra trong nhiều ngày đến nhiều tuần sau khi bị hãm hiếp. Di chứng tâm lý lâu dài dưới dạng hội chứng chấn thương do bị hãm hiếp (rape trauma syndrome, syndrome traumatique du viol) cũng có thể xảy ra. Hội chứng chấn thương do bị hãm hiếp là một dạng đặc biệt của hội chứng căng thẳng sau chấn thương. Hội chứng này liên kết đồng thời các quá trình tái tổ chức (processus de réorganisation) cấp tính và mãn tính, được thể hiện dưới hình thức các phản ứng hành vi (comportemental), thân thể (somatique) và tâm lý (psychologique). Chấn thương này có thể bị làm gia trọng bởi một thái độ ngờ vực đối với nạn nhân. Nạn nhân có thể tự cảm thấy bị lên án hoặc bị nghi ngờ đã gây nên việc hãm hiếp (comportement d’appel au viol) hoặc đã không làm gì để tránh nó. Giai đoạn cấp tính hay giai đoạn phá vỡ tổ chức (phase de désorganisation) khởi đầu ngay sau khi bị hãm hiếp và có thể kéo dài từ vài ngày đến vài tuần. Các triệu chứng thân thể (symptômes somatiques) gồm có đau cơ và bụng, nôn mửa, đau miệng, âm đạo hay hậu môn. Các triệu chứng cảm xúc (symptômes émotionnels) gồm có sự nhục nhã, lo âu, giận dữ, sợ bị hành hung và chết, mong muốn phục thù. Giai đoạn cấp tính này thường mạnh mẽ vì lẽ 1/3 các trường hợp hiếp dâm được phạm phải dưới sự đe dọa của một vũ khí và bởi người mà nạn nhân biết rõ. Giai đoạn tái tổ chức (phase de réorganisation) có thể kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm và thể hiện các cố gắng của nạn nhân để tái cầu trúc (restructurer) đời sống riêng và các mối quan hệ của mình. Giai đoạn này thường được thể hiện bởi sự thay đổi địa chỉ, số điện thoại, bởi rất nhiều lần đổi chỗ ở cũng như những tiếp xúc gia tăng với các thành viên trong gia đình, với bạn bè. Mất ngủ, các cơn ác mộng và chứng sợ (phobie) thường xuất hiện trong giai đoạn này. Các nạn nhân tỏ ra thiếu tự tin trong tất cả các mối quan hệ của họ, đặc biệt là với đàn ông. Họ sợ sự cô đơn và có nhiều rối loạn về tình dục. Nhiều cộng đồng có các trung tâm giúp những người bị hãm hiếp (rape crisis center) với các nhân viên và những người tình nguyện làm công tác xã hội được huấn luyện để cho những lời khuyên đối với các nạn nhân bị hãm hiếp. Các đội đáp ứng với việc hiếp dâm (sexual assault response team) đã được tổ chức ở các vùng khác để cung ứng một thái độ xử lý phối hợp đối với nạn nhân bị hãm hiếp, bao gồm hỗ trợ tình cảm (emotional support) sau sự cố. Các thầy thuốc nên biết sự hiện hữu của những dịch vụ như thế để có thể khuyên các bệnh nhân sử dụng các dịch vụ này.

24/ BỆNH NHÂN SỢ BỊ MẮC NHIỄM HIV SAU KHI BỊ HÃM HIẾP PHẢI LÀM GÌ ?
Mặc dầu không được khuyên thực hiện một cách thường quy, việc dự phòng sau tiếp xúc (postexposure prophylaxis) đối với nhiễm trùng HIV sau khi bị hiếp dâm có thể là điều thích đáng. Nguy cơ thật sự bị mắc phải HIV sau một lần giao hợp duy nhất không được biết rõ nhưng được cho là thấp. Nguy cơ mắc phải HIV được cho là cao nhất đối với các giao hợp không được bảo vệ bằng đường hậu môn ; chấn thương, xuất huyết, và viêm có thể làm gia tăng nguy cơ này. Các thầy thuốc nên xét đến khả năng tiếp xúc với HIV dựa trên tình trạng HIV của kẻ hãm hiếp (nếu được biết), bất cứ hành vi nào có nguy cơ cao nhiễm HIV được thể hiện bởi kẻ hãm hiếp, tính chất của hành động hãm hiếp, khoảng thời gian từ lúc tiếp xúc đến lúc được điều trị và những nguy cơ hoặc lợi ích của dự phòng sau tiếp xúc. Những yếu tố làm phức tạp khác gồm có việc không thể xét nghiệm kẻ hãm hiếp để tìm HIV, phí tổn của dự phòng sau tiếp xúc, các tác dụng phụ của thuốc và nhu cầu phải theo dõi sát.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(1/1/2008)

(Review 36/3/2014)

Références :
– Emergency Medicine Secrets
– Pediatric Emergency Medicine Secrets
– Pediatric Secrets
– Urgences médico-chirurgicales de l’adulte

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu sản phụ khoa, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s