Cấp cứu chỉnh hình số 6 – BS Nguyễn Văn Thịnh

ccch6

GÃY ĐẦU TRÊN XƯƠNG CÁNH TAY
(FRACTURES DE L’EXTRÉMITÉ SUPÉRIEURE DE L’HUMÉRUS)

Dominique SARAGAGLIA
Professeur des universités-Praticien hospitalier
d’orthopédie-traumatologie
Chef du service de chirurgie orthopédique et
de traumatologie du sport, urgences
CHU de Grenoble, hôpital sud.

Đó là những gãy xương tương đối thường gặp nhất là ở người già. Chúng hiếm xảy ra trong thực hành thể thao, ngoại trừ trong những tai nạn ski chúng xảy ra ở người trẻ.

A. GIẢI PHẪU BỆNH LÝ
Có rất nhiều xếp loại. Chúng tôi chấp nhận xếp loại Duparc, có lợi điểm là đơn giản và dễ hiểu. Ta phân biệt :
I. NHỮNG GÃY NGOẠI KHỚP
ccch6 1ccch6 21. Những gãy mấu động (fractures tuberculaires)
a. Mấu động lớn (tubercule majeur hay trochiter)
– riêng rẻ (isolées)
– đôi khi liên kết với sai khớp trước-trong của vai (20 đến
40%).
– mảnh gãy lớn ít hay nhiều (avulsion de la coiffe)
– đôi khi không được nhận thấy ở cấp cứu khí gãy không bị
di lệch.
b. Mấu động nhỏ (tubercule mineur hay trochin)
ccch6 3ccch6 4– rất hiếm
– thường không được nhận biết
– mảnh gãy bị kéo vào trong bởi sous-scapulaire.
2. Những gãy dưới mấu động (sous tuberculaire) hay của cổ phẫu
thuật của xương cánh tay.
a. Gãy dưới mấu động riêng rẻ (fracture sous tuberculaire isolée)
– cao ít hay nhiều
– cài ít hay nhiều
– ít nguy cơ hoại tử đầu xương cánh tay
b. Gãy dưới mấu động với gãy mấu động lớn hay nhỏ.
– gãy di lệch ít hay nhiều
– nguy cơ quan trọng ít hay nhiều bị hoại tử đầu xương
cánh tay (thương tổn động mạch trước-ngoài)
II. NHỮNG GÃY KHỚPccch6 5
1. Gãy cổ cơ thể học (fracture du col anatomique)
– ngoại lệ
– gài (engrené) ít hay nhiều
– nguy cơ quan trọng hoại tử đầu xương cánh tay
2. Fracture céphalo-tuberculaire (hay céphalo-tubérositaire)
– thường gặp nhất trong số những gãy khớp
– di lệch ít hay nhiều
– nguy cơ quan trọng hoại tử đầu xương cánh tay (hơn 30%)
– Loại I đến IV tùy theo di lệch.
III. NHỮNG GÃY TRẬT KHỚP
– Thuật ngữ không chính xác
– Phải định rõ :
– Hướng : trước hay sau
– Và loại : cổ phẫu thuật hay cổ cơ thể học.ccch6 6B. NHỮNG CẠM BẪY
Không một cạm bẫy nào, trừ phi gãy mấu động nhỏ (fracture du trochin) (dễ bỏ sót trong cấp cứu) và gãy của mấu động lớn (fracture du trochiter) khi chúng không bị đi lệch
Phải có những phim X quang tốt để chẩn đoán tốt

C. XỬ TRÍ
I. THĂM KHÁM LÂM SÀNG
Thăm khám lâm sàng cẩn thận để tìm kiếm những biến chứng mạch máu thần kinh. Mobilisation vai không có lợi ích nào vì đau.
II. BILAN X QUANG
Bilan radiologique correct de débrouillage : face stricte enfilant parfaitement l’interligne (double oblique), profil de Lamy hay profil trans-thoracique.ccch6 7III. ĐIỀU TRỊ
Thầy thuốc cấp cứu có thể điều trị một số lớn những gãy xương này bởi vì những chỉ định ngoại khoa hiếm (15 đến 20%). Tuy nhiên phải biết những délai de consolidation, và những nguy cơ di lệch thứ phát.
1. Những gãy mấu động lớn riêng rẻ (fracture isolée du trochiter)
a. Không di lệch : điều trị cơ năng
– immobilisation coude au corps trong 3 đến 8 ngày (không nhiều hơn vì nguy cơ capsulite rétractile phải cần nhiều tháng mới chữa lành).
– điều trị đau +++
– Phục hồi chức năng bằng 3 giai đoạn (+++) : thụ động trong 3 tuần, chủ động có hỗ trợ (actif aidé) và auto passif thêm 3 tuần nữa và chủ động thuần túy (actif pur) sau thời hạn này (trên 45 ngày xương gãy thường consolidé).
– Chụp X quang kiểm tra mỗi tuần trong 3 tuần để phát hiện một di lệch thứ phát.
– 3 đến 6 tháng để phục hồi hoàn toàn (6 hơn là 3)
b. Di lệch hay những lésion operculaire (bong xương nhỏ xa mấu động lớn) : ý kiến ngoại khoa bởi vì tương đương với đứt coiffe des rotateurs. Nếu ta quá chậm, có nguy cơ không có thể gắn trở lại coiffe vì bị co rút.
2. Những gãy riêng rẻ của mấu động nhỏ (fracture isolée du trochin).
Điều trị thường là ngoại khoa, bởi vì mảnh xương thường bị kéo về phía trong bởi bởi cơ dưới vai (sub-scapulaire) mạnh.
3 . Gãy dưới mấu động (Les fractures sous-tuberculaires)
– Gãy cài hay ít di lệch : điều trị chức năng như đối với những gãy xương riêng rẻ của mấu động lớn.
– Không cài hay di lệch : điều trị ngoại khoa (đối với chúng tôi nẹp vít)
4. Les fractures céphalo-tuberculaires
a. Không di lệch hay ít di lệch : điều trị cơ năng
– được tiến hành như đối với những gãy xương không di lệch của mấu động lớn và những gãy xương không di lệch ngoại khớp
– sự cứng xương đạt được trong không 45 ngày và phải cần 6 tháng đến 1 năm phục hồi chức năng.
b. Di lệch : điều trị ngoại khoa bằng kết hợp xương hay prothèse (những người trên 65 tuổi)
ccch6 8 c. Nguy cơ hoại tử đầu xương đùi là quan trọng (trên 30%) đã điều trị chỉnh hình hay ngoại khoa.
5. Những gãy trật
– Điều trị ngoại khoa (kết hợp xương hay prothèse) với
– Nguy cơ quan trọng hoại tử chỏm xương cánh tay

Traumatologie à l’usage de l’urgentiste

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(8/3/2014)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu chỉnh hình, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s