Thời sự y học số 337 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ BENH ALZHEIMER : CUỘC HUY ĐỘNG TOÀN BỘ.
Từ nhiều năm nay, các nhà nghiên cứu tích cực hoạt động khắp nơi trên thế giới và những kết quả cụ thể nhanh chóng được chờ đợi.
CERVEAU. ” Hôm nay, ta có thể nhận biết căn bệnh ở một giai đoạn rất sớm, nhờ một signature biologique có thể nhận diện và điều này, ngay trước khi bắt đầu những triệu chứng đầu tiên “, giáo sư Bruno Dubois, trưởng service des maladies cognitives et comportementales và của unité Inserm ” Cognition, neuro-imagerie et maladies du cerveau” thuộc CHU de la Salpêtrière, đã lấy làm phấn khởi. ” Có khả năng nhận biết những thương tổn đầu tiên xuất hiện trong não bộ, nhiều thập niên trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên là điều rất đáng lưu ý đối với công tác nghiên cứu, nhưng chưa được thực hiện trong lâm sàng. Để xác lập chẩn đoán, một consultation mémoire và nếu cần, những thăm dò bổ sung khác như một IRM cho phép xác nhận “, GS Florencc Pasquier, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc CHU de Lille đã phát biểu như vậy.“Ta cũng biết một cách rất chính xác cascade biologique đưa đến sự tạo thành những protéine bất thường trong não bộ, nhưng ta không biết những điểm khởi hành của cascade này, ngoại trừ những trường hợp hiếm tương quan với một biến dị di truyền”, GS Dubois đã nói tiếp như vậy. Vài protéine lắng đọng trong não bộ và ngưng kết để tạo thành những ” plaque amyloide”, ngăn cản các neurone liên lạc với nhau một cách bình thường. Những protéine khác được gọi là “protéine Tau” có những filament dẫn đến asphyxie des neurones.
” Nếu những protéine bất thường này đưa đến sự xuất hiện của những triệu chứng đôi khi mười hay hai mươi năm sau, đó là vì những neurone còn lại có khả năng bù trong một thời gian dài “, GS Pasquier và BS Olivier de Ladoucette, thầy thuốc tâm thần và chủ tịch của Fondation pour la recherche sur la maladie d’Alzheimer đã nhắc lại như vậy. Nhưng tại sao sự hiện diện của những thương tổn không luôn luôn đồng nghĩa với căn bệnh ? ” Những yếu tố nguy cơ hay những yếu tố bảo vệ chi phối tiến triển của bệnh và giải thích rằng chúng phát ra ở vài người, nhưng không ở những người khác, là một terrain cần phải thăm dò “, GS Bruno Dubois, phụ trách nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện trên những người ở giai đoạn tiền chứng (stade prodromal) (ngay những triệu chứng đầu tiên hết) ở Pháp, đã xác nhận như vậy.
Và chính để thử hiểu tại sao, với cùng những thương tổn tương đương, vài người sẽ phát bệnh còn những người khác thì không, mà một công trình nghiên cứu mới (mệnh danh là “Insight”) đã bắt đầu ở la Pitié-Salpêtrière. Khoảng 400 người có sức khỏe tốt nhưng bị vấn đề trí nhớ, tuổi từ 75 đến 85, sẽ có thể tham gia vào công trình nghiên cứu này.
Vì lẽ cascade biologique dẫn đến sự tạo thành những protéine bất thường từ nay được biết rõ, những nghiên cứu nhằm phong bế cascade này, với hy vọng hợp lý làm chậm hay làm ngừng tiến triển của bệnh. Đó là tất cả lý do tại sao làn sóng mới các loại thuốc hôm nay đang là đối tượng của những thử nghiệm lâm sàng. Những nghiên cứu tiến bước nhất nhằm vào sự phong bế đường dẫn đến sự sản xuất của peptide amyloide. ” Protéine này là do tác dụng của một enzyme. Nếu ta phong bế được enzyme này kịp thời, như thế ta có thể hy vọng ngăn cản sự tích tụ của peptide trong não và do đó sự chết của neurone.” Chỉ có điều vì enzyme này hiện diện khắp nơi trong cơ thể, nên phải tìm phương cách phong bế nó trong não và chỉ ở đó mà thôi.
Trong số những thử nghiệm nhằm loại bỏ peptide không được mong muốn này, những thử nghiệm gần mục tiêu nhất hướng về sự nhờ đến những kháng thể chống lại peptide này. ” Những kết quả đầu tiên không rõ ràng bởi vì, một mặt chúng dương tính đối với những thương tổn, nhưng, mặt khác, không có sự cải thiện được nhận thấy của những triệu chứng “, GS Dubois đã ghi nhận như vậy. Hoặc là hướng nghiên cứu peptide amyloide không phải là hướng tốt và phải trắc nghiệm hướng của protéine Tau. Hoặc là những thử nghiệm hiện nay được thực hiện trong một thời gian quá ngắn để có thể hy vọng phát hiện một hiệu quả có lợi về mặt lâm sàng : vả lại đó là lý do tại sao những kết quả của một thử nghiệm với thời gian quan sát hai năm, đang rất được mong chờ (đó sẽ là năm 2016). Sau cùng, hoặc là những thử nghiệm đã xảy ra ở một giai đoạn quá muộn. Vì lẽ những triệu chứng xuất hiện chỉ khi các neurone còn lại không có thể bù nữa, điều đó có nghĩa rằng những thương tổn đã quan trọng khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên.
Vậy điều lý tưởng là phải hành động sớm hơn nhiều, nhưng điều đó không phải là không đặt một vấn đề về đạo đức : thật vậy, trên phương diện nghĩa vụ luận phải chăng ta có thể bắt những người bình thường chịu những loại thuốc không phải là vô hại, trong khi ta không biết người nào trong số họ sẽ phát triển bệnh và những người nào sẽ không bao giờ phát triển ?
” Chính vì vậy ở la Salpêtrière, trước hết chúng tôi tìm cách tìm ra những yếu tố nào, khi liên kết với những thương tổn, làm cho căn bệnh sẽ phát triển. Thật vậy, chúng tôi đánh giá rằng chính người đó sẽ có lợi nhất khi sử dụng những loại thuốc hiện đang được phát triển “, GS Dubois đã kết luận như vậy
(LE FIGARO 17/2/2014)

2/ ” SAU CÙNG TÔI CÓ THẾ TRẢI QUA NHỮNG GIÂY PHÚT TỐT ĐẸP VỚI HỌ “
Đối với Françoise và René de la Cerisaie, mà cả cha lẫn mẹ đều bị bệnh Alzheimer, có một “trước” chẩn đoán và một “sau” chẩn đoán, nhưng không phải trong ý nghĩa mà ta có thể nghĩ. Lời chứng…
” Tôi đã không thấy tức thì những hành vi kỳ lạ (bizarreries) của cha tôi : thí dụ, ông không chịu nổi nữa vì bị nhốt và mở tất cả các cửa sổ, ngay cả vào mùa đông. Ông hay cáu giận, nhưng tôi đã tin rằng mẹ tôi tự giác chịu đựng…Cho đến một hôm vào một buổi sáng sớm, mẹ tôi gọi tôi với vẻ lo âu, bởi vì cha tôi đã đi ra khỏi nhà, vì không chịu được nữa vì bị nhốt trong nhà. Mẹ tôi vẫn tiếp tục gọi như thế trong 6 tháng, cho đến hôm mẹ tôi đã lẫn lộn chồng mình với cha mình : một sự kiện gây sốc đối với cha tôi. Ông không chịu nỗi điều đó và khiến tôi hỏi ý kiến của một chuyên gia cho cha mẹ tôi, mà những quan hệ đã trở nên xung đột. Thế mà, đó không phải là một nhưng hai chẩn đoán bệnh Alzheimer đã được đặt ra, cha mẹ tôi đều bị bệnh ở những mức độ khác nhau (mẹ tôi nhiều hơn cha tôi). Tôi gần như rụng rời trước lời loan báo này, nhưng thầy thuốc đã giải thích với tôi rằng thuốc có thể làm họ lợi được nhiều năm với autonomie tương đối. Thế mà, ở vào cái lứa tuổi mà những căn bệnh khác có thể xuất hiện, thêm được nhiều năm, điều đó quả thật là đáng kể “, Françoise de la Cerisaie đã kể lại như vậy.
Đối với người anh là René, sống cách xa nhà bố mẹ hơn 400 km, chẩn đoán đã được chấp nhận dễ dàng : ” Ở đây có nhiều người cũng bị như vậy, và điều đó không được xem là một tai họa. Người ta sống hòa hợp với, có lẽ chính nhờ cái bon sens nông dân ! ” Đối với Marie, ở gần bố mẹ, thật sự đã phải ” sống hòa hợp với “, nhưng “với” cái điều hàm chứa những khó khăn hàng ngày : ” Cha tôi trong một tình trạng phủ nhận hoàn toàn căn bệnh của mình và mặt khác, để mang ông đi khám bệnh, chúng tôi phải dùng mưu mẹo bằng cách nói với ông rằng vợ ông muốn ông đi kèm bà. Về phía mình, mẹ tôi đã không hiểu chẩn đoán. Dẫu sao, cuộc sống của tất cả chúng tôi đã thay đổi một cách ngoạn mục, theo hướng tốt hơn, từ khi cha mẹ tôi nhận một điều trị triệu chứng. Điều đó không thể chối cãi : cha tôi không còn bị lo âu nữa, ông không còn xung đột với mẹ tôi nữa và mặt khác mẹ tôi không chăm lo gì hết nữa. Cha tôi đã lấy lại thế thượng phong và quản lý công việc gia đình. Còn về mẹ tôi, bà đã thay đổi tính tình : bà đã trở nên vui vẻ hơn, fantaisiste hơn và luôn luôn sẵn sàng đi chơi. Đó như thể là những vai trò đã thay đổi và rằng cuối cùng cha mẹ tôi đã tìm lại một sự cân bằng nào đó giữa họ với nhau. Còn về tôi, vì sau cùng tôi đã không còn nghĩ về cha mẹ tôi như trước đây (điều này tôi đã mất nhiều thời gian) nên sau cùng tôi đã trải qua những giây phút tốt đẹp, những giây phút rất tốt đẹp với cha mẹ tôi.
Ở TẠI NHÀ CÀNG LÂU CÀNG TỐT.
Hôm nay, cuộc sống của họ được tổ chức tốt, mỗi buổi sáng và chiều có một y tá đến nhà cũng như có một aide ménagère đến để làm công tác nội trợ và để đi kèm mẹ tôi lúc đi ra khỏi nhà. ” Cha tôi luôn luôn đi chợ ở cùng địa điểm, đi bộ (bởi vì chúng tôi không để ông lái xe hơi) và vào giờ phút này, điều đó diễn biển rất tốt. Chị tôi dĩ nhiên có chìa khóa thứ hai và chị sẽ ghé nhà khi có thời gian “, René nói tiếp như vậy. Anh và chị, thiết tha mong muốn cha mẹ ở càng lâu càng tốt tại nhà, rất hãnh diện khi thấy cha mẹ đến sống tại nhà của họ, một cách an toàn và mặc cho căn bệnh thường được biếm họa như thế.
(LE FIGARO 17/2/2014)

3/ BỆNH ALZHEIMER ĐƯỢC XÁC ĐỊNH CÀNG NHANH, TA CÓ THỂ DỰ KIẾN NHỮNG VẤN ĐỀ CÀNG TỐT HƠN.
” Vì lẽ tần số của căn bệnh, gần như tất cả các gia đình đang hay sẽ bị liên hệ hoặc gần hoặc xa. Thay vì góp phần làm mất tính thần thoại của căn bệnh, chính điều trái lại đang xảy ra : sự loan báo càng ngày càng trở nên khó thực hiện đến độ tôi không nói lên tên bệnh tức thì, ngoại trừ người ta đặt cho tôi câu hỏi. Đối với nhiều người, chẩn đoán này được sống như là một tai họa thật sự trong khi nó không phải là như vậy chỉ mới cách nay 10 năm. Thế mà, nhờ chẩn đoán sớm hơn và một điều trị được thích ứng hơn, sự tiến triển của bệnh có thể thật sự bị kềm hãm lại “, BS Olivier de Ladoucette, chủ tịch Fondation pour la recherche sur la maladie d’Alzheimer đã giải thích như vậy.
Ý kiến được chia xẻ bởi GS Florence Pasquier (thầy thuốc chuyên khoa thần kinh, CHU Lille). Ngoài ra, ông phàn nàn ” tiếng xấu dành cho những điều trị triệu chứng mặc dầu được dung nạp rất tốt, trong khi bây giờ có những générique và rằng những công trình nghiên cứu so sánh với placebo đã rõ ràng chứng tỏ rằng chúng làm chậm việc phải vào nhà dưỡng lão. Ngoài ra, chủ yếu khi ngừng những loại thuốc này, thí dụ do một vấn đề tim khiến không được sử dụng chúng, mà các thầy thuốc chứng kiến một sự suy thoái đột ngột.
Mặt khác, sự xử trí những bệnh nhân cũng đã tiến triển và không còn chỉ dựa trên những thuốc này. ” Có một tính đàn hồi (plsticité) trong não bộ, vì vậy khi một circuit bị hỏng, một circuit khác có thể xuất hiện một cách tự nhiên để thay thế nó. Tuy nhiên còn phải tạo điều kiện cho sự phát sinh của circuit mới này và điều đó nói lên tất cả tầm quan trọng của sự kích thích nhận thức (stimulation cognitive). Sau cùng, điều quan trọng là ngăn cản không để cho những suy thoái khác đến làm thuong tổn não bộ và để được như thế, một vệ sinh tốt đời sống là điều quan trọng : một hoạt động vật lý đều đặn (trong đó có đi bộ), không hút thuốc, không hoặc ít uống rượu, một sự quản lý tốt stress, cũng như một chế độ ăn uống bảo vệ những tế bào não, giàu oméga 3 và những chất chống oxy hóa, có thể có lợi “, BS de Ladoucette đã nhấn mạnh như vậy.
AIDE MENAGERE A DOMICILE.
Tiến bộ khác, mặc dầu không ngoạn mục, nhưng làm nhẹ gánh nhiều những người thân : sự đi kèm (accompagnement) của những người này. ” Bệnh Alzheimer vẫn còn quá thường được xem như là một căn bệnh khiến bệnh nhân hung dữ và không quản lý được, BS de Ladoucette đã phàn nàn như vậy. Thế mà hình ảnh này không phản ánh thực tế khi vài biện pháp được áp dụng để dự kiến hay quản lý những vấn đề : sự đi đến của những professionels de santé tại nhà (ergothérapeute, psychomotricien, psychologue, clinicien, kinésithérapeute) có thể được hoạch định, cũng như sự nhờ đến một aide ménagère à domicile. Cũng cần phải làm trong khi người thân của bệnh nhân còn có khả năng : thiết đặt một mandat de protection với ông chưởng khế (notaire) (một giải pháp nhẹ hơn nhiều việc đặt dưới sự giám hộ khi bệnh nhân không còn khả năng quản lý tài sản của mình)
Vì lẽ có thể kềm hãm sự suy thoái của căn bệnh, các thầy thuốc phải làm thế nào để mọi người khi than hay bị quên và/hoặc có cảm giác trí nhớ của họ không hoạt động tốt như thường lệ đều được khám về trí nhớ (consultation de la mémoire). Vả lại không nên nói rằng những rối loạn này luôn luôn là do bệnh Alzheimer, không hẳn là như vậy ! Nhiều nguyên nhân khác có thể cho những rối loạn về trí nhớ. Nhưng dầu đó là bệnh Alzheimer hay không, điều nghiêm trọng, đó là mất nhiều năm trời lang thang không chẩn đoán : đó cũng là những cơ may để kềm hãm bệnh đang tiến triển “, GS Pasquier đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 17/2/2014)

4/ KHI NÀO MỘT BỆNH ALZHEIMER CÓ THỂ ĐƯỢC PHÁT HIỆN ?
Trí nhớ suy yếu, hội chứng sa sút trí tuệ (syndrome démentiel), mất tự trị : những tiêu chuẩn lâm sàng này từ lâu đã là những công cụ chẩn đoán duy nhất của bệnh Alzheimer. Cần phải chờ cho căn bệnh thành hình rõ rệt mới phát hiện nó. Ngày nay, chụp hình ảnh thần kinh (IRM, PET-scan) cho phép phát hiện những signature thật sự của bệnh Alzheimer, mang lại những chẩn đoán trung thực hơn. Như là có thể phát hiện vài bất thường hình thái học của não bộ, như teo hồi hải mã (atrophie de l’hippocampe) (một cấu trúc nằm sâu trong não, đóng một vài trò chủ chốt trong trí nhớ). Cũng có thể phát hiện, bằng chọc dò tủy sống, hai phân tử đặc hiệu của bệnh (những biomarqueur) trong dịch não tủy bao quanh tủy sống. Sự giảm của một chất hóa học (peptide beta-amyloide 42) và sự gia tăng của một protéine (Tau) khi đó đồng nghĩa với sa sút nhận thức (déclin cognitif). Nhất là, từ nay, ” những thương tổn não đặc trưng này có thể thấy được nhiều thập niên trước khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của sa sút trí tuệ “, Bruno Dubois, thầy thuốc thần kinh thuộc bệnh viện La Pitié-Salpêtrière de Paris và giám đốc của Viện trí nhớ và bệnh Alzheimer, đã giải thích như vậy. Điều này cho phép nhận diện ở một giai đoạn rất sớm những người có nguy cơ bị bệnh Alzheimer. Tuy vậy, những trắc nghiệm này không được thực hiện một cách hệ thống. Mặc dầu được dành cho những trung tâm chuyên môn, cần một mức độ cao chắc chắn chẩn đoán, phương pháp này dần dần có khuynh hướng được sử dụng ở các bệnh viện. Nhưng thường nhất, một IRM có chất lượng tốt đủ để hỗ trợ chẩn đoán lâm sàng. Nó tránh, nhất là ở những người già, phải chịu một chọc dò tủy sống, có nguy cơ gây nên một nhiễm trùng.
(SCIENCE ET VIE. QUESTIONS ET REPONSES)

5/ TẠI SAO NGÀY CÀNG CÓ NHIỀU NHỮNG BỆNH NHÂN BỊ BỆNH ALZHEIMER ?
tsyh337 2Là nguyên nhân thứ ba gây tử vong ở Pháp, bệnh Alzheimer gây bệnh cho 225.000 người mỗi năm. Và trên quy mô thế giới, con số này đã được ước tính là 4,6 triệu năm 2005, hoặc 1 trường hợp cho mỗi 7 giây ! Những con số làm sáng tỏ đối với bệnh lý thường được cho là tai ương của thế kỷ XXI, trong khi đó không có một điều trị chữa lành nào. Tuy vậy, có phải sợ khi thấy số những người Pháp bị bệnh (hiện nay 6% những người trên 65 tuổi) gia tăng một cách không cưỡng lại được ? Than ôi, vâng. Trước hết bởi vì, về mặt cơ học, với một tuổi thọ ngày càng cao, số những người già tiếp tục gia tăng, và với nó số những bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, căn bệnh xảy ra phần lớn ở những người lớn tuổi.
Nguyên nhân thứ hai : như những khuyến nghị mới đây của Bộ y tế ở Pháp nhấn mạnh, những thầy thuốc được yêu cầu thực hiện một chẩn đoán rộng. Dù phải đưa vào những bệnh nhân chỉ bị một sa sút trí tuệ do lớn tuổi, chứ không phải, theo đúng nghĩa, là bệnh Alzheimer. Điều này làm gia tăng số những trường hợp Alzheimer, tỷ lệ những người bị démence sénile cũng gia tăng với sự lão hóa của dân số. Sự nới rộng chẩn đoán không phải là mới : hai bệnh lý (bệnh Alzheimer présénile và démence sénile) đã được tập hợp lại ngay những năm 1960 vì sự tương tự của những thương tổn não bị gây nên.
SỰ MỞ RỘNG CHẨN ĐOÁN BỊ TRANH CÃI.
Vậy từ nay, ta nói bệnh Alzheimer có khởi đầu sớm hay có khởi đầu muộn. ” Những thầy thuốc lão khoa và những gia đình đã tranh đấu để cấm dùng khái niệm démence sénile và làm thế nào để những người già bị sa sút trí tuệ được xem như là những người bệnh riêng biệt, Catherine Thomas-Antérion, thầy thuốc thần kinh và thầy thuốc tâm lý-thần kinh thuộc CHU de Saint-Etienne đã lưu ý như vậy. Có lẽ chẩn đoán bệnh Alzheimer ngày nay hơi rộng, nhưng phải chăng thà rằng xử trí hơi quá rộng hơn là không gì cả ? Có điều sự mở rộng của khái niệm bệnh Alzheimer không được sự nhất trí ” Đó là điều sai lầm khi ta đã tập hợp démence sénile vào bệnh Alzheimer, bởi vì những bệnh cảnh lâm sàng của chúng không hề như nhau “, Christian Derouesné, professeur émérite thuộc đại học Paris-VI, cựu trưởng khoa thần kinh của bệnh viện la Salpetrière đã đánh giá như vậy ” Có một khuynh hướng mạnh chẩn đoán ngày càng nhiều bệnh Alzheimer, nhưng điều đó không luôn luôn được biện minh, về phần mình Rudolph Castellani, neuropathologiste thuộc đại học Maryland (Hoa Kỳ) đã đánh giá như vậy. Theo tôi, démence sénile hiện hữu ngoài bệnh Alzheimer.
Những sự dè dặt này có một cơ sở khoa học hay không ? Một điều là chắc chắn, và những neurobiologiste sẵn sàng chấp nhận điều đó, ” những bệnh nhân trẻ và già không hề có cùng bệnh cảnh và lâm sàng “, Luc Buée, người phụ trách équipe Maladies neuro-dégénératives et mort neuronale, ở trung tâm nghiên cứu Jean-Pierre-Aubert (Lille), đã xác nhận như vậy. Ở các bệnh nhân trẻ nhất, những rối loạn ngôn ngữ, những rối loạn trong thực hiện những động tác và trong sự nhận biết những đồ vật và những gương mặt là điển hình. Trái lại, ở những người già nhất, chính những rối loạn trí nhớ chiếm ưu thế. Thế mà, làm sao quy những rối loạn trí nhớ này một cách chắc chắn cho bệnh Alzheimer mà không cho những bệnh lý khác của sự lão hóa, ngay cả với những tiến bộ của chụp hình ảnh thần kinh (neuro-imagerie) ?
Thật vậy, như phần còn lại của cơ thể, não bộ hóa già và do đó có thể có nhiều bệnh lý liên kết. ” Chúng ta không có những phương tiện để nói : ông (bà), đó là một bệnh Alzheimer thật sự, con ông (bà) thì không “, Catherine Thomas-Antérion đã công nhận như vậy. ” Những người già đã sống sót sau những tai biến tim mạch, nhưng tai biến mạch máu não, một số được điều trị vì cao huyết áp, bệnh đái đường.., và ta muốn rút ra ở họ điều cốt tủy của bệnh Alzheimer ? Không thể được ! “, Luc Buée đã dứt khoát như vậy. Vào năm 2000, một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, được tiến hành bởi nhà thần kinh tâm lý Oscar Lopez, đánh giá 30% những sai lầm chẩn đoán sinh ra bởi những tiêu chuẩn chẩn đoán ” rộng ” quốc tế. Mặc dầu, điều đó cách nay 12 năm, nhưng những khuyến nghị quốc tế đã không thay đổi nhiều từ đó, tất cả điều đó khiến nghĩ rằng con số này hôm nay vẫn còn cao. ” Khi áp dụng những tiêu chuẩn này, ta đưa vào nhiều người không bị bệnh Alzheimer, nhưng là một dạng khác của sa sút trí tuệ “, Christian Derouesné đã xác nhận như vậy.
(SCIENCE ET VIE. QUESTIONS ET REPONSES)

6/ ALZHEIMER, NHỮNG ĐIỀU KHÔNG ĐƯỢC NÓI VỀ MỘT CHẨN ĐOÁN SỚM
Bệnh bắt đầu ngay trước khi biểu hiện, nhưng các thầy thuốc tự hỏi về lợi ích của một sự phát hiện nếu không có thuốc điều trị ở giai đoạn này.
VIEILLISSEMENT. Bệnh Alzheimer trên thực tế bắt đầu 10 hay 20 năm sớm hơn điều mà ta tưởng. Dẫu sao điều đó đúng, những cơ chế dẫn đến căn bệnh đáng sợ này, ngày nay gây bệnh cho 800.000 người ở Pháp. Do đó, hy vọng của các nhà nghiên cứu hiệu chính một trắc nghiệm đáng tin cậy (test fiable), cho phép chẩn đoán căn bệnh nhiều năm trước khi xuất hiện mọi triệu chứng. Và nếu test hiện hữu, bạn sẽ làm gì Vâng, 9 người Pháp trên 10 trả lời, theo một thăm dò được thực hiện cho Université d’été Alzheimer, đã diễn ra ở Lille từ 17 đến 20/9/2013.
Vậy sự việc dường như khá đơn giản : các nhà khoa học hiệu chính một trắc nghiệm điều tra phát hiện đáng tin cậy, giới hữu trách y tế sau đó nhanh chóng đặt dưới sự sử dụng của nhiều bệnh nhân nhất. Thật vậy, GS Emmanuel Hirsch, giám đốc của Espace national de réflexion éthique sur la maladie d’Alzheimer nhấn mạnh sự cần thiết của cuộc tranh luận công khai : ” Những option phải được xem xét và đối chiếu trên quan điểm enjeu và những hậu quả của chúng, rồi được thảo luận trong khung cảnh sự thống nhất công khai với nhau bởi vì, ông nói, chính những giá trị và những biểu tượng được giao ước.”
Sự ham muốn của các nhà nghiên cứu thực hiện những chẩn đoán phải chăng đáng trách ? ” Ý muốn biết này phải chăng chính đáng ? Ai quyết định và với quyền nào ? “, nhà triết học Fbrice Gzil, phụ trách pôle Etudes et recherche de la Fondation Médéric Alzheimer đã dám hỏi như vậy. Muốn biết là điều dường như hiển nhiên đối với những nhà khoa học cũng như đối với những người được thăm dò, nhưng Catherine Ollivet, chủ tịch của France Alzheimer 93, muốn diễn đạt tinh vi sự nhất trí này ” Đó là điều bình thường khi một nhà nghiên cứu tin chắc rằng sự kiện biết làm nhẹ bớt, nhưng điều đó không đúng đối với tất cả mọi người. Ta thấy điều đó trong những bệnh như ung thư, trong bệnh này sự biết đảm bảo hơn trong bệnh Alzheimer, vài người không muốn biết số phận của họ. Khi ta bị trực tiếp liên hệ, thì ” vâng, tôi muốn biết” ít được mong muốn hơn nhiều ”
Hiểu căn bệnh bắt đầu như thế nào để chống lại nó tốt hơn là dieu đáng khen, nhưng phải chăng không có sự lơ mơ không rõ với những hậu quả của một chẩn đoán sớm trong những năm trước khi xuất hiện những rối loạn ? Hôm nay, chính những triệu chứng đầu tiên phát khởi chẩn đoán sớm. Bởi vì có thuốc điều trị, nhưng chúng chỉ được cho một khi chẩn đoán bệnh Alzheimer được xác lập. Hiệu quả của thuốc thấp.”Ta chỉ mong cho chúng làm chậm lại sự sa sút trí tuệ “, GS Florence Pasquier, thầy thuốc thần kinh và coordinatrice của Centre national de référence pour les patients jeunes (Lille) đã giải thích như vậy, đó là điều ta không thể thấy trên một người nhưng những thử nghiệm lâm sàng so sánh những nhóm bệnh nhân đã chứng minh điều đó.”
Một lợi ích dưới xa những hy vọng ban đầu.” Đã có một sự lạc quan quá mức quanh những loại thuốc này mặc dầu chúng chỉ có một vai trò khong đáng kể “, GS Bruno Dubois, giám đốc của Viện trí nhớ và bệnh Alzheimer ở bệnh viện La Pitié-Salpetrière đã công nhận như vậy. Nhiều công trình nghiên cứu đang được tiến hành để đánh giá một điều trị sớm hơn ngay trước khi xuất hiện những dấu hiệu rõ rệt của bệnh Alzheimer có thể hiệu quả hơn không. Nhất là đã có những thăm dò mũi nhọn chụp hình ảnh não và những định lượng sinh học đặc biệt.
Vấn đề, đó là sự hiện diện của những bất thường này không đảm bảo 100% rằng ta sẽ phát triển một cách tự động một ngày nào đó căn bệnh. Đó chỉ là một nguy cơ gia tăng, chứ không phải là một định mệnh (fatalité). Thế mà, để chấp nhận nguy cơ điều trị quá mức (surtraiter) những người không bị bệnh, thì những lợi ích đối với những người bệnh tương lai phải đáng kể. Đó là nguyên tắc của những điều tra phát hiện như những dépistage được tổ chức đối với ung thư đại trực tràng hay ung thư vú. Chưa có gì được chứng tỏ trong trường hợp bệnh Alzheimer.
Biết hay không biết, ngay cả khi vào lúc này không có một điều trị nào ? GS Pasquier bảo vệ quyền tự do lựa chọn của mỗi người. ” Ta có thí dụ của bệnh Huntington (bệnh thoái hóa thần kinh rất nghiêm trọng và đưa đến tử vong nhanh) trong đó 1/4-1/3 những người muốn biết mặc dầu không có lợi ích điều trị.” Julie Lesueur, thầy thuốc tâm lý học ở Centre mémoire de Lille và trong một trung tâm di truyền, yêu cầu xét đến những enjeux psychiques khi biết về mình ” Tính chất thời gian trong việc loan báo chẩn đoán là cốt yếu về mặt con người.”
Dầu thế nào đi nữa, khi những triệu chứng hiện hữu, GS Pasquier đánh giá rằng chẩn đoán là hợp lý. ” Lợi ích đối với người bệnh là hiểu điều gì xảy đến với họ. Phải đặt chẩn đoán để biết điều đó sẽ trầm trọng dần hay cải thiện. Thường để trấn an. Ngoài ra, đối với những người thân, biết phải hành động như thế nào tùy theo căn bệnh, nguyên nhân của những rối loạn, cho phép đi kèm tốt hơn.”
(LE FIGARO 23/9/2013)

7/ LÀM SAO KÍCH THÍCH MỘT NGƯỜI THÂN BỊ BỆNH ALZHEIMER.
DEPENDANCE. Có nên tiếp tục đi du lịch với chồng (hay vợ) hay với cha mẹ bị bệnh Alzheimer ? Có nên khiến họ chơi thể thao ? Làm sao và khi nào phải được giúp đỡ ? Các gia đình ở tuyến đầu để đảm trách một người cha hay một người mẹ, một người vợ hay chồng bị những rối loạn trí nhớ quan trọng : trong 70% các trường hợp, chính họ chăm lo cha mẹ bị bệnh. Làm như thế nào ? Tìm kiếm sự hỗ trợ ở đâu ? Nhân Journée mondiale sur la maladie d’Alzheimer ngày 21/9/2011, một điều tra, được thực hiện trên 1013 người, đã cho những kết quả sau đây : nếu 2/3 tuyên bố sẵn sàng chăm lo một người thân trong gia đình bị bệnh, thì cứ hai người đang làm việc có một trả lời rằng không thể làm điều đó. Tuy nhiên, 1/3 đánh giá là cần thiết được sự hỗ trợ của một người chuyên nghiệp (professionnel) và có thể sử dụng một trung tâm tiếp đón tạm thời (centre d’accueil temporaire) ; những người trẻ nhất yêu cầu một hỗ trợ tài chánh.Tinh thần đoàn kết trong gia đình không phải là một từ vô ích, như thăm dò này đă minh họa điều đó, nhưng kêu gọi để triển khai một hỗ trợ bên ngoài và một đào tạo tối thiểu nhằm đương đầu căn bệnh này, có liên hệ đến, ở những mức độ khác nhau, hơn 800.000 người ở Pháp.
” Khi thấy thuốc loan báo chẩn đoán cho người vợ (hay chồng) của bệnh nhân hay cho con cái họ, câu hỏi đầu tiên là cần biết có phải nói chẩn đoán cho chính bệnh nhân hay không. Một nửa trong số họ không muốn và phải tôn trọng họ, BS Olivier de Ladoucette (thầy thuốc lão khoa ở Paris, chủ tịch của Ifrad) đã giải thích như vậy. Ngược lại, gia đình và những người thân phải được cho biết. Không nên dấu họ là điều cần thiết để họ giúp đỡ và hỗ trợ. Sự việc không nói (le non-dit) là nguồn gốc của những rắc rối và đe dọa trục xuất bệnh nhân, người chồng (hay vợ), các con.” Khi chẩn đoán đã được đặt ra, phải làm gì ? Dĩ nhiên, tất cả tùy thuộc vào giai đoạn của căn bệnh tiến triển một chục năm nay.”Ta không hoàn toàn bất lực đứng trước căn bệnh, BS de Ladoucette đã giải thích như vậy. Ta có thể kềm hãm quá trình bằng một điều trị toàn diện. Dầu sao phải làm tất cả để bệnh nhân vẫn tham dự vào, nhưng không phải vì vậy đặt bệnh nhân trong tình huống thất bại do một surstimulation. Ta có thể tiếp tục du lịch chừng nào không có những rối loạn hành vi quan trọng. Ta vẫn nằm trong cuộc sống. Ta có thể cười với bệnh nhân, cảm thấy những lúc vui tươi và hạnh phúc bên nhau. Duy trì một khung tình cảm là quan trọng.”
Một kích thích bằng những atelier mémoire hay những hoạt động khác cũng có thể được đề nghị trong những năm đầu của căn bệnh. Rút ra được lợi ích nào ? Để biết điều đó, một công trình nghiên cứu ở Pháp, trên 650 người, dưới sự chỉ đạo của giáo sư Jean-François Dartigues (Bordeaux) nhằm so sánh 4 chiến lược khác nhau : một nhóm đầu không bị kích thích, một nhóm thứ hai nhận ateliers mémoire, một nhóm thứ ba nhận một liệu pháp căn cứ trên réminiscence (sự sực nhớ lại) và một nhóm thứ tư trên một protocole de remédiation cognitive (tăng cường những trí năng còn lại). ” Những kết quả đầu tiên sẽ đến trong vài tháng, GS Dartigues đã giải thích như vậy. Nếu một trong những liệu pháp này có vẻ kềm hãm căn bệnh, phải áp dụng nó và Sécurité sociale sẽ bồi hoàn phí tổn.”
CHẤT LƯỢNG CỦA CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG.
” Kích thích trí nhớ, ở những người bệnh, khi ta có thể, luôn luôn là điều hữu ích. Có một tính dẻo não bộ (plasticité cérébrale) cho phép huy động tốt nhất những năng lực nhận thức còn lại. Tất cả các bài tập có thể hữu ích, mots fléchés, ô chữ. Chúng có thể được thực hiện trong một khung cảnh được tổ chức hơn, với những neuropsychologue spécialisé, GS Françoise Forette (giám đốc Fondation nationale de gérontologie) đã nói như vậy.
Những công trình đã gợi ý rằng chất lượng của chế độ ăn uống là quan trọng để làm chậm quá trình, chế độ ăn uống Địa Trung hải là đặc biệt thích ứng (trái cây, rau xanh, cá, dầu olive…). Cũng vậy, hoạt động vật lý cũng có một tác dụng lên não bộ. Ngoài ra, điều trị cao huyết áp, tăng cholestérol máu, bệnh đái đường phải nghiêm túc, để làm giảm những thương tổn mạch máu, những yếu tố làm nặng bệnh.
Một số lớn các bệnh nhân, nhờ aide familiale, có thể vẫn ở tại nhà. ” Các gia đình phải biết rằng họ có thể nhận được những giúp đỡ, và không nên do dự đòi hỏi điều đó, GS Jean-François Dartigues đã xác nhận như vậy. Plan Alzheimer đã cho phép tái tổ chức, phát triển, và quy tắc hóa những structure d’aide để các gia đình có thể đến đó. ” Lãnh thổ Pháp đang được bắt đầu với những MAIA (maisons autonomie, indépendance, Alzheimer). Những cơ sở này (hiện nay đếm được 80 và toàn bộ được dự kiến 200) điều hòa toàn bộ những phương tiện sẵn có liên quan đến căn bệnh để cho phép họ gặp nhau ở đó, trong cái điều cho đến nay là một dédale kafkaien.
(LE FIGARO 19/9/2011)

8/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO : NHỮNG PHỤ NỮ BỊ BỆNH NẶNG HƠN.
Theo những khuyến nghị đầu tiên đặc thù cho các phụ nữ, ngoài những yếu tố chung cho cả hai giới tính, các phụ nữ có thể địa yếu ớt do đời sống hormone của họ.CARDIOLOGIE. Hiệp hội tim Hoa Kỳ đã tiết lộ những khuyến nghị đầu tiên về sự phòng ngừa tai biến mạch máu não ở các phụ nữ. Như được nhắc lại bởi các tác giả của sách hướng dẫn này, được công bố trong tạp chí khoa học Stroke, hôm nay các tai biến mạch máu não ảnh hưởng lên nhiều phụ nữ hơn là đàn ông. Sau ung thư, các tai biến mạch máu não là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở những phụ nữ Pháp, cũng như là một nguồn quan trọng gây phế tật.
” Nếu hai giới tính cùng có chung những yếu tố nguy cơ, như tuổi tác, cao huyết áp, bệnh đái đường, tình trạng không hoạt động vật lý hay thuốc lá, những phụ nữ có những tính chất dễ bị thương tổn (vulnérabilité) riêng, chủ yếu liên quan với cuộc sống hormone của họ, không luôn luôn được điều trị đủ bởi các thầy thuốc và những bệnh nhân của họ “, GS Cheryl Bushnell, tác giả chính của những khuyến nghị yêu cầu phát hiện những yếu tố nguy cơ điển hình phụ nữ này trong suốt cả cuộc đời.
NHỮNG BÁO ĐỘNG KHI THAI NGHÉN
Theo những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, thai nghén là lúc biểu lộ của những tính chất yếu ớt này. Thật vậy, ta biết rằng những bệnh mạch máu và chuyển hóa, được phát khởi vào cơ hội này, làm gia tăng nguy cơ tai biến mạch máu não về sau này trong cuộc đời. Cũng vậy đối với tiền sản kinh (pré-éclampsie), được biểu hiện bởi một cao điểm nguy hiểm của huyết áp vào tam cá nguyệt thứ ba của thai nghén và ảnh hưởng 6% những phụ nữ có thai.
Những biến chứng khác của thai nghén, cao huyết áp thai nghén (hypertension gravidique) và bệnh đái đường thai nghén (diabète gestationnel) cũng là những chỉ dấu của một tình trạng dễ thương tổn (vulnérabilité). Theo GS Claire Mounier Vehier, chuyên gia về cao huyết áp của CHRU de Lille, ” thai nghén là một kính lúp cho phép nhận diện những phụ nữ có nguy cơ. Những phụ nữ này phai rất chú ý đến sức khỏe của họ sau đó “.
Đối với những phụ nữ này, một sự theo dõi huyết áp đều đặn và suốt đời được khuyến nghị. Chứng béo phì, chứng nghiện thuốc lá, tình trạng nhàn rổi không hoạt động và cholestérol nhất thiết phải được điều trị. Thật vậy, đó là sự tổng cộng của những yếu tố nguy cơ làm gia tăng xác suất xuất hiện của một tai biến mạch máu não. Cũng vậy, sự ngừa thai với oestrogène tổng hợp có thể có hại nếu nó được phối hợp với những tình huống nguy cơ khác, như chứng nghiện thuốc lá và một lứa tuổi trên 35.
Trong những khuyến nghị của mình, các nhà nghiên cứu cũng nêu rõ những yếu tố nguy cơ chung cho đàn ông và đàn bà, nhưng gây bệnh nặng hơn các phụ nữ. Là nguyên nhân đứng đầu của tai biến mạch máu não, cao huyết áp có nhiều hậu quả tai hại hơn ở những phụ nữ sau mãn kinh. Thế mà 75% những phụ nữ này bị liên hệ sau 60 tuổi. Cũng như vậy đối với rung nhĩ (fibrillation auriculaire), một bất thường của nhịp tim, nguồn gốc của những tai biến rất nặng. Hiệp hội tim Hoa Kỳ khuyến nghị những thầy thuốc đa khoa phát hiện bệnh này một cách hệ thống bắt đầu từ 75 tuổi, bằng cách bắt mạch, nếu cần sau đó thực hiện một điện tâm đồ.
Sau cùng, những phụ nữ thường bị ảnh hưởng hơn bởi chúng trầm cảm, stress và migraine với tiền triệu (aura) (một dạng đau đầu được kèm theo bởi những rối loạn thị giác), được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ tai biến mạch máu não. ” Những bệnh nhân này phải được điều trị, nhưng những bệnh nhân liên hệ ngoài ra phải rất chăm chú vệ sinh đời sống của họ : không hút thuốc, ăn uống lành mạch và tập thể dục “, GS Jean-Louis Mas, trưởng khoa thần kinh học thuộc bệnh viện Sainte-Anne (Paris) đã bình luận như vậy.
Thành viên của một nhóm công tác dành cho các phụ nữ ở Eupopean Stroke Orgnization, GS Charlotte Cordonnier (CHRU de Lille) lấy làm hoan hỉ rằng các société savante chiếm lĩnh chủ đề. ” Ngày nay tiên lượng ít tốt hơn ở các phụ nữ và chất lượng sống của họ bị biến đổi hơn chất lượng sống của những người đàn ông sau một tai biến, thầy thuốc thần kinh đã nhấn mạnh như vậy. Ngoài ra các phụ nữ tham dự ít hơn vào những công trình nghiên cứu lâm sàng.”
Điều này hẳn góp phần cho công tác giáo dục các phụ nữ, các tác giả của những khuyến nghị đã hy vọng như vậy. Họ cũng yêu cầu những đặc thù nữ giới phải được đưa vào trong những thang điểm (score) đo lường nguy cơ tai biến mạch máu não của mọi bệnh nhân.
TÌNH TRẠNG LO ÂU CÓ HẠI CHO CÁC ĐỘNG MẠCH
Cũng như chứng trầm cảm, một tình trạng âu lo mức độ cao được liên kết, về lâu về dài, với nguy cơ tai biến mạch máu não. Theo các nhà nghiên cứu của đại học Pittsburgh (Pennsylvanie), lo âu là một rối loạn phổ biến, được biểu hiện bởi một sự lo lắng quá độ, một stress hay sự căng thẳng thần kinh. Các nhà khoa học Hoa Kỳ đã theo dõi, trong khoảng 20 năm, hơn 6000 người tuổi từ 25 đến 74, được đưa vào trong một công trình nghiên cứu y tế cộng đồng quốc gia. Những người tham dự đã chịu những xét nghiệm máu, những thăm khám y khoa và tâm lý học, và đã trả lời những bảng câu hỏi nhằm đo lường mức độ lo âu và trầm cảm của họ. Những kết quả đã được công bố cuối tháng 12 năm 2013. Tổng cộng, 419 tai biến mạch máu não đã được ghi nhận, với một nguy cơ gia tăng trong trường hợp lo âu. Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng những người lo âu thường hơn hút thuốc và không hoạt động, cũng như một nồng độ cao những hormone du stress và huyết áp cao.
(LE FIGARO 17/2/2014)

9/ LÀM SAO ĐIỀU TRỊ MỘT BLOCAGE SEXUEL ?Một blocage sexuel (tình trạng chẹn dục tính) có thể là do một lịch sử cá nhân, tsyh337 6đặc biệt do những tấn công tình dục (agression sexuelle), từ việc nhìn một exhibitionniste đến những hãm hiếp qua những sờ mó (attouchements). Bất hạnh thay điều đó rất thường gặp. Những cảm xúc dữ dội khi sợ hãi, phạm tội thường để lại những dấu vết xúc cảm sau đó ảnh hưởng lên tình dục (sexualité). Ngày nay ta biết giúp đỡ những nạn nhân vượt qua những chấn thương này, đặc biệt với một công cụ tâm lý liệu pháp, như EMDR (Eye Movement Desensitization and Reprocessing). Thật vậy đó là một liệu pháp giải cảm và tái điều trị (thérapie de désensibilisation et retraitement) bằng những cử động nhãn cầu.
Điều cô có thể làm…
Gặp một thầy thuốc điều trị hay nhà tâm lý học chuyên khoa có thể giúp cô nhận diện vấn đề, sẽ là đích của điều trị. Ông ta sẽ bắt đầu yêu cầu cô lập một danh sách những biến cố có thể đã gây chấn thương : những điều được thấy, được nghe hay được sống như những sờ mó hay những tấn công tình dục. Rồi, đối với mỗi biến cố, ông ta sẽ yêu cầu cô nói lúc tệ hại nhất là lúc nào. Đó không phải luôn luôn biến cố mà ta có thể nghĩ. Thí dụ, một phụ nữ sẽ nói : ” Giây phút tệ hại nhất đối với tôi đó là cái nhăn mặt của tên cưỡng hiếp, cái gương mặt của y vào lúc ta đã hiểu điều sẽ xảy ra…” Một phụ nữ khác : ” Lúc tệ hại nhất, đối với tôi, đó là khi tôi đã nói về điều đó với cha mẹ tôi và rằng ông bà đã nói với tôi rằng điều đó không trầm trọng, rằng đừng nghĩ đến nữa…” Rồi người ta yêu cầu cô cho điểm số, từ zéro đến 10, về mức độ rối loạn mà cô cảm thấy lúc cô nghĩ đến giây phút đó.
Sau đó, bắt đầu từ những dữ kiện này, cô sẽ làm việc về biến cố gây thương tổn nhất. Trong trường hợp của cô, có thể đó là những sờ mó mà cô phải chịu đựng trong thời thơ ấu. Thật vậy, những kinh nghiệm xưa hơn nói chung để lại những dấu vết sâu hơn. Đến giai đoạn này thường đòi hỏi nhiều consultation, tùy theo lịch sử của cuộc đời cô và những khó khăn mà cô gặp phải.
Điều mà cô phải biết…
Người thầy thuốc sẽ yêu cầu cô tập trung vào giây phút của chấn thương và theo các ngón tay của ông ta xê dịch từ trái qua phải trước mắt cô. Ông ta cũng có thể cho những vỗ nhẹ luân phiên trên các đầu gối phải và trái của cô.
Ông sẽ đưa ra những câu hỏi đơn giản : ” Những tư tưởng, những cảm xúc và những cảm giác thân thể gì đến với cô ? ” Trong khi những cử động của mắt được kích thích, những cảm xúc được giải phóng. Một buổi có thể kéo dài từ một giờ đến một giờ rưỡi. Và nói chung cần nhiều giờ để “quét sạch” một chấn thương, nghĩa là giải tỏa (débloquer) những cảm xúc âm tính bị tích trữ trong hệ thần kinh.
Dần dần, khi nghĩ đến biến cố đó, cô sẽ cảm thấy ít bị rối loạn hơn. Biến cố sẽ được “tiêu hóa” nhờ những năng lực não bộ của cô được khởi động lại trong buổi EMDR và tình trạng chẹn dục tính (blocage sexuel) của cô sẽ biến mất. Hãy ghi nhận rằng đôi khi EMDR được giới thiệu như là một phương pháp nhiệm màu. Trong những trường hợp khá hiếm, một buổi có thể đủ, nhưng điều trị thường nhất đòi hỏi một thời gian nào đó.
(TOP SANTE 12/2013)
GHI CHÚ :
– Exhibitionnisme (chứng phô bày) : Khuynh hướng phô bày những cơ quan sinh dục, vì một rối loạn tâm thần tình dục hay tổng quát (thí dụ chứng sa sút trí tuệ).
– Blocage (chẹn) : Không thể hành động hay phản ứng về mặt trí tuệ sau khi bị một chấn thương tình cảm.

10/ JAMES PAGET : NHÂN VẬT NỔI TIẾNG THÀNH CÔNG.
tsyh337 7Vua của kính hiển vi và ngoại khoa, James Paget có đuợc nhiều hạnh phúc từ những lạc thú thông thường nhất. Lòng tin tôn giáo không bao giờ thiếu nơi ông, cũng như tinh thần chu toàn nhất về danh dự. Người chồng đáng yêu, người cha thỏa mãn, nhà khoa học được công nhận, cuộc đời đẹp biết bao !
James Paget sinh năm 1814 o Norfolk, người thứ 8 trong số 16 đứa con của một nhà buôn rượu bia, chủ nhà buôn và thị trưởng vào lúc rỗi việc. Vào năm 16 tuổi, James học nghề tại Charles Costerton, thầy thuốc ngoại khoa địa phương, nhà thực vật học và dược sĩ và 4 năm sau, ông vào bệnh viện Saint-Barthélémy, ở Luân Đôn, ở đây ông sẽ trải qua 37 năm của cuộc đời mình.
Ngay năm đầu của đời sinh viên, ông ghi nhận vài vết trắng trong cơ của một tử thi và chứng thực rằng đó là những con sâu nhỏ đuợc bao (petits vers encapsulé), về sau được gọi là trichina spiralis. Đó là sự chứng minh đầu tiên về trichinose ở người.
James được nhận vào Royal College of Surgeons lúc 24 tuổi nhưng ông chỉ kiếm sống bằng cách dạy tư và sửa và dịch những bài báo và sách y khoa. Từ 23 đến 29 tuổi, ông là quản đốc của viện bảo tàng cơ thể học (musée d’anatomie) liên kết với hiệp hội những thấy thuốc ngoại khoa, và chức vụ này cho phép ông tiếp cận với những bộ phận và cơ thể cần thiết cho những phẫu tích hiệu năng.
THÀNH CÔNG MỌI MẶT
Paget được 37 tuổi khi ông hoạt động như là thầy thuốc ngoại khoa ở thành phố. Sự thành công của ông có tính chất hiện tượng nhờ nhân cách rất người của ông, nhờ những kiến thức bách khoa và khả năng khéo léo chân tay thượng thặng của ông. Sự nổi tiếng của ông lên cao đến độ, vào năm 40 tuổi, ông là thầy thuốc ngoại khoa đặc mệnh (chirurgien extraordinaire) của hoàng hậu Victoria và vài năm sau, thầy thuốc ngoại khoa địa phận (chirurgien ordinaire) của Prince de Galles. Để tỏ lòng biết ơn, ông nhận tước hiệu huân tước (baronnet) lúc 63 tuổi.
Bệnh viện Saint-Barthélémy khi ông còn trẻ tuyển dụng ông như là chirurgien extraordinaire và trong cùng thời gian ông trở nên giáo sư cơ thể học và ngoại khoa. Ông leo lên tất cả các nấc của Hiệp hội ngoại khoa hoàng gia cho đến chức chủ tịch (lúc 61 tuổi). Ông cũng là phó chủ tịch danh dự của Đại học Londres và docteur honoris causa của những đại học Oxford, Cambridge và Edimbourg.
NHỮNG KHÁM PHÁ VÀ ÓC SÁNG TẠO
Mặc dầu khách hàng tư mang lại cho ông 10.000 livres mỗi năm (lúc những bước đầu, ông chỉ lãnh 15), Paget là tác giả của những đóng góp khoa học đáng kể và những sách quan trọng về bệnh học ngoại khoa và các khối u, trong đó bệnh vú mang tên ông.
Vào năm 57 tuổi, ông thoát chết trong đường tơ kẽ tóc vì bị nhiễm trùng một vết đứt do tai nạn trong khi điều tra post-mortem. Điều đó ghi dấu ấn nơi ông đến độ ông từ chức để chỉ chuyên tam khách hàng tư mà thôi.
Paget là một trong những người đầu tiên khuyến nghị cắt bỏ bằng phẫu thuật những u tủy xương thay vì cắt cụt chi, nhưng mặc dầu lãnh vực ưa thích hơn hết của ông là ngoại khoa ông cũng được biết đến vì những năng lực xuất sắc của ông trong mô học bệnh lý. Danh tiếng của ông dựa trên những mô tả của ông về nhiều bệnh, nổi tiếng nhất là osteitis deformans, mà ông mô tả lúc ông 63 tuổi (1877) và sẽ lấy tên ông. Bệnh nhân của ông là một người đàn ông được theo dõi trong 20 năm, bị dị dạng dần dần. Paget kể lại sự to ra của sọ, sự cong ra trước của cột sống và sự gấp cẳng chân tạo nên một tư thế như khỉ. Khi bệnh nhân chết, ông giải phẫu tử thi và tìm thấy ở bệnh nhân này xương ” dễ vỡ đến độ nó có thể bị khía đứt bởi một dao cạo ” ; dĩ nhiên ông ghi lại tất cả những bất thường vi thể.
CHÂN DUNG THÂM TÌNH
Paget có vóc người mảnh mai, có trọng lượng trung bình, với một gương mặt dài và đôi mắt long lanh. Đó là một diễn giả có khiếu, được xem như là người diễn thuyết hay nhất trong lãnh vực của mình. Người đàn ông xuất sắc này thán phục sự ngắn gọn mà ông sử dụng một cách hoàn hảo. Ông ghét những je-sais-tout (tôi biết tất cả) và có một sự ghê tởm thật sự đối với những khẩu hiệu, mặc dầu ông đã sử dụng vài khẩu hiệu như ” ngắn gọn, đó là khôn ngoan” (bref c’est être sage) hay ” thầy thuốc Pháp chữa căn bệnh, còn thầy thuốc Anh chữa bệnh nhân”. Một thứ trưởng thời đó, William Gladstone, cho rằng có hai lớp người, ” những người đã nghe và những người đã không nghe James Paget “.
Suốt đời Paget giữ liên lạc mật thiết với khoa học Đức và người bạn muôn đời của ông, Rudolf Virchow. Ông là kẻ thù không khoan nhượng của những tư tưởng chính thống trong y khoa, chủ trương phương pháp khoa học. Trong số những người bạn thâm tình khác của ông, John Ruskin (văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ và nhà phê bình nghệ thuật người Anh), Hồng y Newman (nhà thần học và nhà văn), Sir Alfred Tennyson, thi sĩ, Louis Pasteur, Florence Nightingale, Thomas Henry Huxley (nhà sinh học, paléontologue và nhà triết học) và Charles Darwin. Nhóm nhỏ của họ khi đó là tinh hoa trí thức.
Paget chết ở Londres năm 85 tuổi ; lễ mai táng được tuyên đọc bởi con ông, giám mục thành phố Oxford
(LE JOURNAL DU MEDECIN 21/2/2014)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(7/3/2014)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s