Cấp cứu chỉnh hình số 2 – BS Nguyễn Văn Thịnh

GÃY ĐẦU DƯỚI XƯƠNG QUAY
(LES FRACTURES DE L’EXTREMITE INFERIEURE DU RADIUS)

Dominique SARAGAGLIA
Professeur des universités-Praticien hospitalier
d’orthopédie-traumatologie
Chef du service de chirurgie orthopédique et
de traumatologie du sport, urgences
CHU de Grenoble, hopital sud.

Đó là những gãy xương rất thường gặp, được thấy chủ yếu ở người già. Những người trưởng thành trẻ tuổi không tránh khỏi, đặc biệt trong những tai nạn thể thao (bóng đá, ski, vélo…), các tai nạn lao động hay những tai nạn công lộ.

A/ CƠ CHẾ
Thường thường, gãy xương xảy ra khi ngã trên gót bàn tay, cổ tay trong tư thế duỗi. Đó là một cơ chế ép-duỗi (mécanisme en compression-extension) trong đó sự đè ép có thể trội hơn sự duỗi và ngược lại.
Trong những trường hợp khác, gãy xương xảy ra lúc ngã trên mặt lưng của cổ tay trong tư thế gấp. Đó là một cơ chế ép-gấp (mécanisme en compression-flexion).

B/ CƠ THỂ BỆNH LÝ
Người ta phân biệt 3 loại gãy :
1/ GÃY TRÊN KHỚP (FRACTURES SUS-ARTICULAIRES)
a/ Xê dịch ra sau (53%)
Đó là gãy Pouteau-Colles cổ điển, xảy ra sau một cơ chế ép-duỗi. Người ta nhận thấy một vết gãy vỏ xương trước, liên kết với một vỡ vụn của vỏ xương sau và một lún xương xốp của hành xương (métaphyse).b/ Xê dịch ra trước (2,5%)
Đó là gãy Goyrand-Smith, xảy ra sau một cơ chế ép-gấp. Sự xê dịch này ngược lại với sự xê dịch của gãy xương trước, do đó đôi khi từ Gãy Pouteau-Colles ngược (fracture de Pouteau-Colles inversée) được sử dụng.2/ GÃY NỘI KHỚP (FRACTURES ARTICULAIRES)
Đó là những gãy xương, trong đó một hay nhiều đường gãy phạm phải khớp quay-cổ tay (articulation radio-carpienne). Người ta phân biệt nhiều loại :
a/ Gãy khớp đơn thuần (fracture articulaire simple)
– gãy hình nêm ngoài (fracture cunéenne externe) thường xảy ra nhất.
– đường gãy tách rời mõm trâm quay (styloide radiale) mà sự xê dịch thường ít quan trọng.
b/ Gãy trên khớp có refend articulaire (fractures sus-articulaires à refend articulaire) (25%)
– đường gãy trên khớp thường tương ứng với đường gãy của gãy xương Pouteau-Colles.
– trait de refend có thể sagittal hay frontal (hình chữ Y hãy hình chữ V)
– đó là gãy xương đặc biệt không vững mà nguy cơ xê dịch thứ phát là quan trọng.c/ Gãy vụn (fractures communitives) (5%)
– được thấy ngày càng nhiều ở những người trẻ (tai nạn công lộ hay tai nạn thể thao) nhưng cũng được thấy ở những người già.
– đó là một tan vỡ thật sự của đầu xương quay, với khối xương co tay (carpe) lún vào đầu xương và di lệch quan trọng của khớp quay-trụ dưới (radio-cubitale inférieure).
3/ GÃY-TRẬT MÉP TRƯỚC (FRACTURE-LUXATION MARGINALE ANTERIEURE).
– đó là một gãy xảy ra sau một cơ chế ép-gấp (mécanisme en  compression-flexion).
– gãy tách mép trước (marge antérieure) khỏi ổ chảo quay (glène radiale), và tiến triển thường đưa đến trật trước và gần của khối xương cổ tay (mảnh xương bị đẩy lùi bởi khối xương cổ tay và khối xương này di lệch dưới tác dụng của các cơ gấp của bàn tay và các ngón tay.
4/ NHỮNG THƯƠNG TỔN LIÊN KẾT THUỘC NHIỀU LOẠI
– gãy mõm trâm trụ (fracture de la styloide cubitale) là thường xảy ra (50% các trường hợp) nhưng hiếm khi ảnh hưởng lên thái độ điều trị.
– trật khớp quay- trụ dưới (luxation radio-cubitale inférieure) tương đối thường xảy ra, nhưng hiếm khi cần phải can thiệp ngoại khoa cấp cứu.
– những thương tổn khác hiếm hơn : gãy xương thuyền cổ tay (fracture du scaphoid carpien), luxation péri-lunaire du carpe hay disjonction scapho-lunaire.

C/ LÂM SÀNG
Khám lâm sàng đánh giá :
– sự biến dạng ” en dos de fourchette ” (dấu hiệu lưng đĩa) đối với các gãy Pouteau-Colles.
– chỗ nhô ra của mõm trâm trụ (la styloide cubitale).
– bán trật về phía trước của bàn tay và của cổ tay trong các gãy bờ trước (marginale antérieure) và gãy Goyrand-Smith.
– cử động và cảm giác của các ngón tay.
– phân bố mạch (vascularisation) của bàn tay và các ngón tay (mạch quay, trụ, mạch vi huyết quản).
– mở da (ouverture cutanée).

D/ X QUANG
– Bilan X quang là căn bản để chẩn đoán chính xác
– Một phim thẳng và nghiêng thường đủ để xếp loại gãy xương vào một trong những loại kể trên.
– Rất thường phải thêm vào một tư thế ¾ (chủ yếu ở các trẻ em) để cho thấy vài lún hành xương (tassements métaphysaires) không thấy được trên những phim X quang chuẩn.

E/ THÁI ĐỘ XỬ TRÍ
Điều trị nhằm nắn di lệch và bất động cho đến khi consolidation hoàn toàn.
1/ Những cơ sở cơ thể học của nắn xương.
– Những thao tác nắn phải mang lại cơ thể học bình thường cho đầu xương quay.
– Sự nắn này được đánh giá trên những hình X quang chụp tư thế chính diện và nghiêng :
– Trên hình chính diện, phải tái lập cơ thể học của khớp quay-trụ dưới (articulation radio-cubitale inférieure), xiên xuống dưới và ra ngoài.
– Trên hình chụp nghiêng, ổ chảo quay (glène radiale) phải nhìn xuống dưới và ra trước (antéversion 15-25 độ).
– Một di lệch ra sau 20 độ có thể được chấp nhận (mất antéversion của glène radiale) cũng như một sự rút ngắn 1 đến 2 mm của xương quay.
– Trái lại những lệch ra trước thường không được chấp nhận
2/ Các phương pháp
a/ Điều trị chỉnh hình
– nhằm nắn gãy xương bằng thủ thuật ngoài và bất động cổ tay trong một thạch cao, bao gồm cùi chỏ, trong một thời gian 6 tuần, thường ở tư thế nghiêng trụ và gập (en flexion palmaire et inclinaison cubitale), được gọi là tư thế Judet.
– Các phim X quang mỗi tuần trong 3 tuần là cần thiết để phát hiện một xê dịch thứ phát (rất thường xảy ra).
– phải biết rằng trên 3 tuần, reprises orthopédiques gần như không thể thực hiện được, bởi vì gãy xương đã quá engluée.
b/ Điều trị ngoại khoa
– có nhiều kỹ thuật : thủ thuật kết hợp xương bằng ghim kim qua da (broches de Kirschner), thủ thuật kết hợp xương bằng nẹp vít (plaque vissée), traction bipolaire, fixateur externe en distraction.
– Kết hợp xương bằng ghim đinh Kirschner thường được bảo vệ bằng một gantelet hay một attelle platrée.c/ Các chỉ định
– Các chỉ định rất là thay đổi tùy theo trường phái. Điều chi phối chỉ định, đó chủ yếu là loại gãy xương và tính chất vững sau nắn.
– Các gãy xương vững hay không di lệch : điều trị chỉnh hình thường cho những kết quả thỏa mãn và có thể được quản lý bởi các thầy thuốc cấp cứu.
– Các gãy xương không vững phải được giao cho thầy thuốc chuyên khoa để điều trị ngoại khoa.

F/ TIẾN TRIỂN VÀ TIÊN LƯỢNG
– Khi nắn hoàn hảo, kết quả thường thỏa mãn mặc dầu rất thường có một sự hạn chế vận động kín đáo doi voi những biên độ cực đại (gấp, duỗi, sấp-ngửa).
– Bất hạnh thay, cái bù trừ thông thường của gãy Pouteau-Colles là sẹo xấu (cal vicieux), với lồi đầu xương tru và main botte radiale. Nếu điều đó có thể chấp nhận được ở một người già trên 80 tuổi, thì ở một người trưởng thành trẻ tuổi phải làm tất cả để tránh điều đó. Một ostéotomie thường cần thiết để điều chỉnh sẹo xấu này.
– Algodystrophie là một biến chứng tương đối thường gặp , phải được phòng ngừa bằng một cử động sớm (mobilisation précoce). Nó có thể gây nên những di chứng (cứng các ngón tay +++)
– Hội chứng canal carpien đôi khi có thể là biến chứng của một gãy đầu dưới của xương quay. Một EMG có thể được chỉ định vài tháng sau một gãy xương để xác nhận chẩn đoán này.

Reference : Traumatologie à l’usage de l’urgentiste. Sous la direction de Dominique Saragaglia.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(14/1/2014)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu chỉnh hình, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s