Thời sự y học số 331 – BS Nguyễn Văn Thịnh

5000 trường hợp lao mỗi năm ở Pháp, hoặc ít hơn 8 trường hợp đối với 100.000 người, theo Institut de veille santé.
Một sự truyền bệnh bằng đường hô hấp
– Trực khuẩn Koch hay Mycobacterium tuberculosis được truyền chủ yếu bởi những nước bọt được bắn ra (postillons) (ho, hách xì…)
– Trực khuẩn lao đi vào cơ thể qua đường hô hấp trước khi lan tràn đến phổi
– Trở nên đề kháng với những phản ứng miễn dịch, chúng tấn công các mô phổi, tạo nên những xoang, trong đó trực khuẩn lao tăng sinh.
– Nhiễm trùng này có thể kèm theo một bệnh lao ngoài phổi : các vi khuẩn khi đó tấn công thận, xương, hệ thần kinh.BCG (chữ viết tắt của bacille de Calmette et Guérin) là vaccin nhằm bảo vệ chống lại bệnh lao. Cho mãi đến năm 2007, ở Pháp bắt buộc tiêm chủng BCG cho trẻ em và thiếu niên. BCG vẫn rất đuoc khuyên chủng trong vài vùng có nguy cơ.
Cần phải rất cảnh giác để phát hiện những trường hợp lao ở những trẻ em nhỏ   tuổi vì ở chúng nguy cơ bị những thể màng não nặng đặc biệt rất cao.
BS Agathe de Lauzanne
Hôpital Robert-Debré,   Paris

1/ BỆNH LAO : MỘT MẠNG ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ VÀ TÍCH CỰC.
Mặc dầu thụt lùi rõ rệt, căn bệnh này tiếp tục phát triển và sự cảnh giác vẫn phải được duy trì.
POUMONS. Định mệnh của trực khuẩn gây bệnh lao, Mycobacterium tuberculosis, theo định mệnh của con người từ 70.000 năm nay, thời điểm loài người xuất hiện lần đầu tiên, theo một công trình nghiên cứu được công bố mới đây trong tạp chí Nature Genetics. Phân tích génome của nhiều giống gốc đã cho phép tạo lại sự tiến triển của chúng từ lúc chúng xuất hiện ở châu Phi, với một sự phát triển theo sự đi trú con người cho đến tận châu Âu, ở đây trường hợp bệnh lao xưa nhất, có từ hơn 7000 năm, vừa được nhận diện bởi mới kíp người Hung gia lợi.
Người bạn đường dài lâu này đang thụt lùi hằng định ở Pháp, là nơi các bệnh nhân hôm nay nhận một mạng lưới theo dõi và điều trị đặc biệt có hiệu quả và phản ứng ngay khi một trường hợp lao được nghi ngờ.

Trực khuẩn lao được truyền qua đường không khí, được vận chuyển từ người này qua người khác bằng những giọt nhỏ phát xuất từ các phế quản khi bệnh nhân ho hay khạc nhổ. Đó là lý do tại sao chỉ có những thể ảnh hưởng bộ máy hô hấp, chiếm hơn 70% các trường hợp, mới gây nhiễm. Nhiễm trùng bởi trực khuẩn Koch không gây một cách hệ thống một bệnh lao (maladie tuberculose) : cơ thể có thể giữ vi khuẩn trong tình trạng ngủ mà không gây hậu quả nào khác trong nhiều năm. Khi đó ta nói bệnh lao tiềm tàng (tuberculose latente) và, trong 90% các trường hợp nhiễm trùng, bệnh không bao giờ phát triển.
CÁCH LY HÔ HẤP
Khi cơ thể không thể hay không còn kiểm soát trực khuẩn lao được nữa, nhất là ở những trẻ em nhỏ tuổi và những người già, hay nói rộng hơn trong trường hợp suy giảm miễn dịch hay suy thoái điều kiện sống, mầm bệnh xuất hiện và tăng sinh trong phổi và/hoặc trong những cơ quan khác. Khi đó một quá trình viêm phát triển tại chỗ và dẫn đến một hoại tử các mô. Sự hoại tử này, trong phổi, nhiên hậu được thể hiện bởi một sự đào thành “caverne” (hang), có thể thấy được bởi phim chụp X quang.
Những triệu chứng liên kết với bệnh lao ít đặc hiệu : họ dai dẳng đối với những thể phổi và những dấu hiệu suy thoái tình trạng tổng quát như sự gầy ốm không giải thích được, một tình trạng rất mệt, vã mồ hôi về đêm. ” Mọi triệu chứng ho kéo dài nhiều tuần, liên kết với những dấu hiệu như gầy ốm, phải khiến đi khám bác sĩ “, GSQ Christian Perronne, trưởng khoa bệnh nhiễm trùng thuộc bệnh viện Raymond-Poincaré (Garches) đã nhấn mạnh như vậy. ” Về phía mình, đứng trước loại những dấu hiệu này, người thầy thuốc phải gợi lên một bệnh lao, mặc dầu ông ta chỉ rất hiếm khi gặp nó.”
Ho ra máu (hémoptysie), sự kiện khạt nhổ ra máu, từ nay rất hiếm bởi vì các bệnh lao được phát hiện ngày càng sớm. Ngay khi một trường hợp lao được nghi ngờ người thầy thuốc thực hiện lấy mẫu nghiệm để tìm kiếm trực khuẩn lao và xác nhận chẩn đoán. Chụp hình ảnh y khoa cũng hữu ích, đặc biệt chụp X quang phổi đối với những thể hô hấp. Người thầy thuốc tức thời cách ly bệnh nhân để tránh mọi sự lây nhiễm và khai báo trường hợp này để phát động quá trình theo dõi và xử trí bởi Trung tâm bài lao (Clat : Centre de lutte antituberculeuse) mà ông ta phụ thuộc. Vị thầy thuốc này đặc biệt sẽ chịu trách nhiệm điều tra khởi đầu quanh bệnh nhân bị bệnh để nhận diện tất cả những người, trong số những người đã bị tiếp xúc với bệnh nhân, cũng sẽ phải nhận một điều trị, đặc biệt là những trẻ em nhỏ tuổi và những người bị suy giảm miễn dịch. Các bệnh nhân càng được nhận diện và điều trị nhanh thì họ càng ít có nguy cơ gây nhiễm những người chung quanh họ, bởi vì họ ít có khả năng gây nhiễm hơn vào giai đoạn đầu của căn bệnh, nhưng đồng thời cũng bởi vì họ sẽ có ít cơ hội làm lan tràn trực khuẩn hơn.
Điều trị được tiến hành tức thì nếu những dấu hiệu chỉ bệnh lao dường như rất rõ ràng hay ngày khí chẩn đoán được xác nhận. Bệnh nhân phải ở trong tình trạng cách ly hô hấp ít nhất trong những tuần đầu điều trị, cho đến khi những mẫu nghiệm xác nhận rằng bệnh nhân không còn gây lây nhiễm nữa. Điều trị những thể hô hấp nói chung kéo dài 6 tháng, đạt 1 năm đối với những thể khác và có thể kéo dài đến 18 tháng hay lâu hơn khi trực khuẩn đề kháng với một hay nhiều kháng sinh. Sự thực hiện điều trị tốt, đôi khi khó được theo đuổi bệnh nhân trong những tháng dài, là yếu tố chính của sự chữa lành.
” Những trung tâm chuyên môn, không nhiều lắm, có thể tiếp đón những bệnh nhân này trong những điều kiện tốt nhất để tránh những thất bại điều trị và sự lây nhiễm “, GS Philippe Brouqui, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm ở hôpital hospitalo-universitaire Méditerranée Infection (Marseille) đã nhắc lại như vậy. Sự tuân thủ tốt cho đến cuối điều trị cũng bảo vệ chống lại sự phát triển những đề kháng. Cùng với những thể nhi đồng nặng, những đề kháng này ngày nay là điểm lo ngại chính đứng trước bệnh lao.
(LE FIGARO 16/12/2013)

2/ BỆNH LAO : MỘT SỰ GIẢM HẰNG ĐỊNH.
” Những trường hợp lao đã giảm một cách đáng kể ở Pháp, nhưng vẫn cần thiết nhắc lại rằng đó không phải là một căn bệnh của quá khứ “, Delphine Antoine, nhà dịch tễ học thuộc Viện theo dõi y tế quốc gia (INVS : institut national de veille sanitaire) đã nhấn mạnh như vậy. Năm 1890, bệnh lao ở Pháp chiếm 200 trường hợp đối với 100.000 người, để đạt 60 trường hợp đối với 100.000 trong những năm 1970. Hôm nay con số đạt dưới 8 trường hợp đối với 100.000, nghĩa là 5000 trường hợp mới mỗi năm. Để so sánh, ở châu Phi dưới Sahara tỷ lệ này là 300 trường hợp đối với 100.000 và trong những nước của Liên Xô cũ 100 trường hợp đối với 100.000.
” Vậy chúng ta thuộc về những nước có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhưng những dị biệt xuất hiện ở cấp lãnh thổ “, Delphine Antoine đã nói như vậy. Luôn luôn trên cơ sở 100.000 dân, Ile-de-France có 15 trường hợp, Guyane 18 trường hợp và Mayotte 22,6 trường hợp. Trong ba vùng này, sự tiêm chủng BCG, hữu ích hơn khi nguy cơ tăng cao, vẫn được khuyến nghị, mặc dầu từ năm 2004, sự tiêm chủng này không còn nằm trong lịch trình tiêm chủng bắt buộc nữa.
Nguy cơ cũng cao hơn trong số những người đã bị tiếp xúc với virus trong thời thơ ấu (14 đối với 100.000 trong số những người trên 80 tuổi), những người sinh ra ở nước ngoài (34,4 đối với 100.000) hay những người sống trong những điều kiện bấp bênh (183 đối với 100.000). Bệnh lao vẫn là một bệnh của những người nghèo vì lẽ nó được làm dễ bởi tình trạng suy dinh dưỡng và những điều kiện sống tồi.
Tính hiệu quả của công tác bài lao chủ yếu dựa trên 3 yếu tố : trước hết sự phát hiện sớm những trường hợp bệnh, sau đó, nhờ sự điều tra ban đầu, điều trị những nhiễm trùng tiềm tàng ở những trẻ em đã bị tiếp xúc mới đây cũng như ở những người lớn có sức khỏe kém trước nguy cơ này và sau cùng duy trì tiêm chủng BCG đối với những trẻ em bị tiếp xúc nhất và những nhóm nguy cơ, như những người điều trị bệnh nhân.
Con số duy nhất gia tăng hiện nay ở Pháp, là số những trường hợp bệnh lao đa đề kháng (tuberculose multirésistante), không đáp ứng với những điều trị cổ điển. Những trường hợp bệnh lao đa đề kháng nói chung vẫn còn thiểu số, vì lẽ con số, được ổn định quanh 50 trường hợp mỗi năm giữa 2007 và 2010, đã đặt 69 trường hợp năm 2011 rồi 90 năm 2012. Hơn một nửa những trường hợp này xuất phát từ những nước của Liên Xô trước đây, chủ yếu Géorgie. Một số nào đó trong những bệnh nhân này dường như đến Pháp trong mục đích điều trị bệnh lao sau một thất bại điều trị trong nước họ vì ở đấy điều trị có thể không đủ, làm dễ sự phát triển những thể đề kháng, khó được điều trị hơn. ” Những bệnh nhân này đã được điều trị một cách hoàn hảo và, và hiện nay, không một trường hợp đề kháng địa phương nào đã được quan sát ở Pháp “, GS Elisabeth Bouvet, thầy thuốc chuyên khoa bệnh nhiễm trùng thuộc service des maladies infectieuses thuộc bệnh viện Bichat (Paris) đã nói như vậy.
Vậy những kết quả tốt này chủ yếu dựa trên tinh thần cảnh giác của các thầy thuốc. Họ phải tiếp tục nghĩ đến bệnh lao, ngay cả mặc dầu họ chỉ rất hiếm khi thấy chúng : một điều tra được thực hiện năm 2009 bởi Inserm và INVS đã cho thấy rằng hơn 59% những thầy thuốc đa khoa đã không thấy bệnh lao từ 2006.
(LE FIGARO 16/12/2013)

3/ BỆNH LAO : BẢO VỆ NHỮNG TRẺ NHỎ TUỔI NHẤT CHỐNG LẠI NHỮNG DẠNG NẶNG NHẤT.
” Sự cảnh giác vẫn phải nghiêm túc để phát hiện những trường hợp bệnh lao ở những trẻ em nhỏ tuổi, ở chúng nguy cơ bị những thể màng não nghiêm trọng đặc biệt cao “, BS Agathe de Lauzanne, trưởng phòng khám lao trong khoa nhi đồng tổng quát thuộc bệnh viện Robert-Debré (Paris), đã nhắc lại như vậy. Thường nhất chính qua điều tra sơ khởi, sau một trường hợp lao xảy ra ở những người chung quanh, mà chẩn đoán lao được thực hiện ở em bé. Thật vậy, những triệu chứng ở trẻ em ít đặc hiệu : một sự tìm kiếm rất hệ thống được thực hiện, qua nhiều thăm dò cần thiết để không bỏ sót một nhiễm trùng khả dĩ gây nên bởi trực khuẩn lao. Thật vậy, những thể phân tán (formes diffuses), ảnh hưởng lên nhiều cơ quan, thường gặp hơn ở những trẻ em nhỏ tuổi, với những nguy cơ quan trọng hơn bị những thể kê và màng não (formes miliaires et méningées). Những thể này có thể để lại những di chứng thần kinh nghiêm trọng nhưng vẫn hiếm hoi bởi vì chỉ có 3 trường hợp mỗi năm vào năm 2011.
Một phim chụp phổi tư thế nghiêng để quan sát những thể hạch, đôi khi một scanner cũng như những mẫu nghiệm được lấy bằng tubage gastrique hay đôi khi bằng chọc dò tủy sống được thực hiện rất nhanh, đặc biệt ở trẻ sơ sinh. Đứng trước một nghi ngờ bệnh lao, những trẻ em nhỏ tuổi thường được nhập viện và phải được cách ly trong suốt thời gian thăm dò rồi, như ở người lớn, trong những tuần lễ điều trị đầu tiên, để tránh mọi sự lây nhiễm. ” Điều trị cũng giống như đối với người lớn, nhưng đôi khi khó áp dụng hơn ở trẻ em, nhất là bởi vì chúng ta chỉ có rất ít những thuốc dưới dạng thích ứng với trẻ em, BS de Lauzanne đã giải thích như vậy. Vài loại thuốc phải được cho lúc nhịn đói, đồng thời chờ đợi 30 phút trước khi cho đứa bé ăn. Không phải luôn luôn dễ thực hiện trước một em bé đói ăn, nhưng ta có thể nhờ đến một y tá, ít nhất lúc ban đầu.”
Trong những môi trường mà đứa bé chịu nhiều nguy cơ nhất, sự tiêm chủng vẫn là một công cụ thiết yếu. Như phần lớn các vaccin chống lại những nhiễm trùng vi khuẩn, mặc dầu tỷ lệ bảo vệ của nó không được cao lắm ở người lớn, nhưng sự tiêm chủng BCG đã chứng minh tính hiệu quả của nó chống lại những thể nghiêm trọng nhất ở trẻ em. Đó là lý do tại sao sự tiêm chủng vẫn được khuyến nghị đối với những trẻ em bị tiếp xúc nhất : tất cả những trẻ em cư ngụ ở Ile-de-France, ở Guyane và Mayotte và trong những vùng khác, những trẻ em sinh ra trong một nước có endémie phát triển mạnh, mà bố hoặc mẹ có nguồn gốc từ một nước như vậy, những trẻ em đã trải qua một tháng ở đó, những trẻ em có những tiền sử gia đình bệnh lao và sau cùng tất cả những trẻ em sống trong những điều kiện xã hội kinh tế không thuận lợi.
Những tiêu chuẩn này vẫn còn không được biết đến bởi bố mẹ và cả bởi những thầy thuốc. Theo một điều tra được thực hiện bởi Inserm và INVS năm 2009, 55% những thầy thuốc Ile-de-France đã tuyên bố rằng những trẻ em mà họ khám thường không thuộc về một nhóm nguy cơ, mặc dầu sự tiêm chủng được khuyến nghị đối với toàn bộ vùng.
(LE FIGARO 16/12/2013)

4/ AVENTURE CARMAT, SỰ CHẾ TẠO MỘT TRÁI TIM CỦA PHÁP TỪ A ĐẾN Z.
Giáo sư Alain Carpentier đã tranh đấu cho đến cùng để một trái tim nhân tạo được ghép trong một bệnh viện của Pháp chứ không ở nước ngoài.
Trái tim nhân tạo 100% đầu tiên đã được ghép trong bệnh viện Paris Georges Pompidou. Điều này làm vui sướng người sáng tạo ra nó, GS Alain Carpentier, hôm nay 80 tuổi, từng mơ ước điều đó từ 20 năm nay. Chính quyền Pháp đã chậm trễ cho phép những thử nghiệm đầu tiên đến độ Carmat cuối cùng phải hướng về những bệnh viện nước ngoài, ở Arabie Saoudite, Ba lan và Bỉ, sẵn sàng lao mình vào cuộc phiêu lưu này. 4 trung tâm bệnh viện này có đủ tư cách đối với cuộc mổ, cũng như, ở Pháp, trung tâm ngoại khoa Marie-Lannelongue, ở Plessis-Robinson (Hauts-de-Seine) và CHU de Nantes (Loire-Atlantique).
Từ khi ông ra sức chế tạo chiếc tim nhân tạo của mình, nhà phẫu thuật tim có một ám ảnh là muốn cho sự cải tiến của mình thuộc về nước Pháp. Alain Carpentier, vào năm 2007 được thưởng giải khoa học uy tín Albert Lasker, đã không bao giờ hoàn toàn nguôi lòng vì đã giao sự phát triển những van tim của mình cho những nhà công nghiệp người Mỹ trong những năm 1970, vì đã không tìm ra kinh phí và những hỗ trợ cần thiết ở Pháp, nhất là về phía Rhône-Poulenc. Những van tim của ông, được chế tạo bằng mô động vật, đã thật sự cách mạng hóa thị trường các van tim và ngày nay được đặt cho hàng triệu bệnh nhân trên thế giới. Chúng làm giàu cho công ty Edwards ở California.
Như thế vị thầy thuốc bướng bỉnh này đã thắng cuộc. Trái tim nhân tạo của ông hiện giờ là xanh trắng đỏ (cờ Pháp). Chính liên minh Alain Carpentier và Jean-Luc Lagardère, ông chủ của Matra (trở thành EADS), đã bắt đầu làm cho trái tim nhân tạo đập vào đầu những năm 1990.
Jean-Luc-Lagardère trong hơn 10 năm đã đặt dưới quyền sử dụng của Carmat (Carpentier-Matra) một kíp bí mật được trợ cấp bởi những quỹ quan trọng và được trang bị bởi những kỹ thuật học tiên tiến nhất của aéronautique en modélisation numérique, mécanique des fluides. Và Carmat, cũng đã sử dụng những văn bằng của đại học Paris-VI, đã sắp xếp các kỹ sư và salle blanche (salle vô trùng) ở Vélizy, ở phía nam Paris, ở đây Carmat đã cộng tác với khoảng 50 công ty high-tech. ” Hôm nay 50 người, giữa Carmat và những nhà đấu thầu khác nhau, làm việc để chế tạo trái tim nhân tạo. Nếu ta cộng lại tất cả những người đã tham gia vào công việc này trong 10 năm, hơn 100 người đã liên hệ vào dự án này, chưa kể đến những équipe clinique et médicale “, Alain Carpentier đã kể như vậy trong Journal du dimanche. Société de haute technologie médicale đã thuyết phục đủ số những người tiết kiệm và đầu tư của Pháp để đi hết những thử nghiệm lâm sàng trên khoảng 20 nguời, từ nay đến 2 năm nữa.
(LE FIGARO 23/12/2013)

5/ NHỮNG NHÀ NGOẠI KHOA PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN NHIỀU PREMIÈRE.
Nền y khoa của Pháp thuộc về những lãnh vực mà nước Pháp đã không phải đỏ mặt trên théatre mondial. Nền y khoa này thường nổi bật hơn người bởi sự khéo léo tài tình, bởi sự táo bạo, bởi sự kiện trì của các thầy thuốc ngoại khoa của nó. Chính ta chịu ơn Jean-Michel Dubernard của thành phố Lyon phẫu thuật ghép bàn tay đầu tiên, ngày 23 tháng 9 năm 1998, trên một người Úc 48 tuổi bị cắt cụt năm 1984. Không ai đã mạo hiểm như thế từ sau thất bại vang dội của một thầy thuốc người Equateur, 34 năm trước. Mặc dầu bàn tay được ghép phải bị lấy đi 27 tháng sau khi mổ do thái độ ngông cuồng của bệnh nhân, nhất là từ chối theo điều trị chống suy giảm miễn dịch, những điều cầm kỵ từ nay đã được loại bỏ. Hai năm sau cùng équipe đã thực hiện thành công phẫu thuật ghép hai bàn tay đầu tiên (double greffe de mains).
Ngày 7 tháng 9 năm 2011, Jacques Marescaux, thầy thuốc ngoại tiêu hóa nổi tiếng và là nhà sáng lập European Institute of Telesurgery (EITS) ở Strasbourg, thực hiện ” l’opération Lindbergh”, tên của phi công nổi tiếng đã thực hiện trên chiếc phi cơ cuộc xuyên Đại tây đương đầu tiên một mình mà không phải quá cảnh, từ Nữu Ước đến Paris. Lần này, đó là cắt bỏ, từ xa, bằng kỹ thuật nội soi, túi mật của một nữ bệnh nhân ở Strasbourg trong khi phẫu thuật viên ở Nữu Ước. Một cuộc mổ “dễ dàng gây sửng sốt, không có một vấn đề kỹ thuật nào”, theo tác giả. Chưa được hai năm sau, khoảng 15 cuộc mổ tương tự của téléchirurgie đã được thực hiện ở Canada giữa bệnh viện đại học Hamilton và bệnh viện thôn quê North Bay nằm cách xa 400 km.
Ngày 27 tháng 11 năm 2005, ở CHU d’Amiens, những thầy thuốc ngoại khoa Pháp Bernard Devauchelle và Sylvie Testelin, với người đồng nghiệp ở Bruxelles Benoit Lengelé, đã vượt qua một bước mới, vừa có tính cách tượng trưng vừa phức tạp trên bình diện ngoại khoa vì đã dám thực hiện phẫu thuật ghép mặt đầu tiên. Bệnh nhân nữ 38 tuổi có một phần của gương mặt (mũi, miệng, má) đã bị ngốn bởi con chó của mình và không có một phẫu thuật thẩm mỹ thông thường nào có thể được xét đến. Kỳ công cần 15 giờ can thiệp và đã huy động sự tham gia của 50 người.
TÁO BẠO VÀ XUẤT SẮC
Chẳng bao lâu sau những ghép mặt khác càng ngày càng hoàn toàn (greffe de face complète) tiếp theo ở Trung Quốc. Cuối cùng, chính ở Tây Ban Nha, vào tháng ba năm 2010, sẽ xảy ra phẫu thuật ghép toàn bộ mặt đầu tiên. 3 tháng sau, những người Pháp Laurent Lantieri và Jean-Paul Meningand thực hiện ở Créteil phẫu thuật ghép toàn bộ mặt thứ hai, gồm cả hệ tuyến lệ, cho một người đàn ông 35 tuổi bị biến dạng nặng bởi một neurofibromatose. Hình ảnh táo bạo và tuyệt vời của ngoại khoa Pháp, GS Marc Barthet, ở hôpital Nord de l’Assistance publique des hôpitaux de Marseille, vào năm 2012 đã mổ thành công một bệnh nhân có một phần của thực quản đã bị xé rách, bằng cách sử dụng hai đường nội soi, qua miệng và dạ dày, điều này tránh mở rộng ngực và bụng.
Vào tháng sáu năm 2012, Christian Duby (Strasbourg) ghép thanh quản nhân tạo đầu tiên cho những bệnh nhân bị ung thư. Thiết bị bằng titane được trang bị bởi một van, cho phép bệnh nhân hướng lượng khí về phía phổi hay dạ dày tùy theo bệnh nhân thở hay ăn uống. Khi kỹ thuật học cao cấp gặp ngoại khoa mũi nhọn, tất cả các hy vọng đều được phép.
(LE FIGARO 23/12/2013)

6/ GHÉP THẬN : PREMIÈRE PHÁP VỚI MỘT ROBOT.
GS Franck Bruyère của CHRU de Tours giải thích kỹ thuật này tránh những biến chứng của một phẫu thuật ghép quy ước như thế nào.
Hỏi : Trong trường hợp nào ta dự kiến một ghép thận ?
GS Franck Bruyère : Thận lọc máu và khi nó không làm tròn chức năng, ở một giai đoạn suy cuối cùng, khi đó ta xét đến một ghép thận. Bệnh lý này (khoảng 60.000 trường hợp ở Pháp, trong đó 8000 trường hợp mới mỗi năm) gây nên nhiều vấn đề tim mạch, khiến các bệnh nhân phải được thẩm tách (dialyse).
Hỏi: Thường thường thời gian chờ đợi để nhận một ghép thận là bao lâu ?
GS Franck Bruyère : Hôm nay, 13.000 bệnh nhận được đăng ký trên danh sách của Agence de bio-médecine. Thời gian chờ đợi khoảng 2 năm. Trước khi quyết định thực hiện một ghép thận, phải nhận những kết quả của những bilan miễn dịch học, cho phép chứng thực rằng hai quả thận có một thẻ căn cước miễn dịch và những nhóm máu tương hợp nhau.
Hỏi : Với kỹ thuật quy ước ghép thận, những suites opératoires là gì ?
GS Franck Bruyère : Với một protocole ” à ciel ouvert “, thầy thuốc ngoại khoa phải thực hiện một đường rạch từ 15 đến 20 cm trong phần thấp và bên của bụng, gây nên những đau hậu phẫu.
Hỏi : Những nguy cơ gây biến chứng là gì ?
GS Franck Bruyère : Có 3 biến chứng. 1. Những trường hợp hẹp (sténose) có thể xuất hiện ở những tĩnh mạch, những động mạch hay niệu quản, khi đó dẫn đến một can thiệp khác, thậm chí một thất bại của ghép (15% các trường hợp). 2. Lòi phủ tạng (éventration) nếu sự hóa sẹo được thực hiện không tốt, biến chứng khó chữa lại, buộc phải mổ lại (5% các trường hợp). 3. Một lymphocèle (dưới 1% các trường hợp) : bạch huyết đi ra ngoài những huyết quản và đè ép thận.
Hỏi : Protocole của phẫu thuật ghép thận đầu tiên được thực hiện với robot ?
GS Franck Bruyère : Cuộc mổ này được thực hiện bằng nội soi (coelioscopie), điều này tránh một đường rạch lớn. Thầy thuốc ngoại khoa thực hiện vài lỗ nhỏ từ 5 đến 8 mm, qua đó ông ta đưa vào những trocart (tube), được gắn vào cánh tay của một robot. Những động tác mổ, giống với những động tác được thực hiện với kỹ thuật quy ước, được điều khiển bởi thầy thuốc ngoại khoa ngồi ở console. Sự chuẩn bị và sự thành công của một thách thức như thế cần một sự hợp tác tuyệt vời của équipe : một thầy thuốc ngoại khoa chuyên về robotique, một thầy thuốc gây mê có kinh nghiệm với những protocole ghép với robot, những thầy thuốc chuyên bệnh thận (néphrologue) có kinh nghiệm, những y tá…
Hỏi : Những kết quả của première chirurgicale này ?
GS Franck Bruyère : Bệnh nhân 49 tuổi, mà cuộc mổ đã diễn ra không biến chứng, đã được thẩm tách từ 3 năm nay. Hôm nay, bệnh nhân rất khỏe mạnh và không cần một thuốc chống đau nào. Người phụ nữ này, đến bệnh viện 3 lần mỗi tuần, nói là đã tìm lại hạnh phúc sống. Thuốc duy nhất của bệnh nhân là thuốc chống thải bỏ (anti-rejet) thông thường mà ta thường cho tất cả những bệnh nhận được ghép.
Hỏi : Nói tóm lại, những ưu điểm của kỹ thuật ghép bằng nội soi ổ bụng được hỗ trợ bởi một robot là gì ?
GS Franck Bruyère : 1. Một sự chính xác lớn hơn của những động tác giải phẫu. 2. Một sự giảm khả dĩ của các biến chứng. 3. Một nhập viện ngắn ngày hơn, một tuần thay vì hai tuần. 4. Ít đau hậu phẫu hơn. 5. Tái tục hoạt động nhanh hơn. 5. Những sẹo mổ rất nhỏ. Tất cả những lợi ích này đối với các bệnh nhân khiến tôi lên chương trình ngay khi có thể được những phẫu thuật ghép thận khác với sự hỗ trợ của một robot và chẳng bao lâu nữa với thận của một người hiến còn sống. Service d’urologie của chúng tôi ở Centre hospitalier régional universitaire de Tours đã có những kíp có kinh nghiệm nhất để lấy thận đối với những người còn sống nhằm ghép thận. Sự sử dụng quan trọng robot da Vinci trong cơ sở bệnh viện của chúng tôi (từ năm 2007, thời điểm sở đắc robot, gần 1000 phẫu thuật trong đó một phần lớn để cắt bỏ tiền liệt tuyến) làm cho robot không luôn luôn sẵn c ó để sử dụng, điều này hạn chế những chỉ định.
Hỏi : Phải chăng tất cả các bệnh nhân có thể hưởng được kỹ thuật ngoại khoa bằng soi ổ bụng có robot hỗ trợ này ?
GS Franck Bruyère : Ta có thể nghĩ rằng năm đầu tiên kỹ thuật này sẽ được dành cho những trường hợp phức tạp nhất. Rồi những chỉ định sẽ được mở rộng ra.
(PARIS MATCH 12/12-18/12/2013)

7/ CẮT BỎ THẬN : KỸ THUẬT MỚI QUA ĐƯỜNG ÂM ĐẠO ?
Các GS François Golfier và Philippe Paparel, chirurgien gynécologue và chirurgien urologue, thuộc Centre hospitalier Lyon-Sud, giải thích phương pháp vi xâm nhập mới nhất này.
Hỏi : Trong những trường hợp nào ta buộc phải lấy thận đi ?
GS Philippe Paparel : 9 trên 10 đó là vì một ung thư thận. Ta cũng thực hiện sự cắt bỏ này khi một quả thận bị phá hủy bởi những viên sỏi hay khi một dị dạng của bộ máy đường tiểu đã dẫn đến một nhiễm trùng mãn tính.
Hỏi : Thủ thuật ngoại khoa chuẩn là gì ?
GS Philippe Paparel : Thủ thuật mổ được thực hiện bằng nội soi ổ bụng (coelioscopie). Phương thức gồm có thực hiện 5 lỗ nhỏ trên thành bụng, trong đó một lỗ sẽ được mở lớn vào cuối cuộc mổ để lấy thận ra. Phẫu trường (champ opératoire) được truyền lên một màn ảnh. Những kết quả mặc dầu thỏa mãn, nhưng kỹ thuật thường làm này không phải là không có những bất tiện.
Hỏi : Những bất tiện nào ?
GS Philippe Paparel : Trong thủ thuật này, ta bị bắt buộc, để có thể lấy quả thận ra, phải có một lỗ đủ lớn, vì vậy cần phải cắt các cơ ở thành bụng. Điều đó gây nên tình trạng đau hậu phẫu trong nhiều ngày hay nhiều tuần và cần được điều trị bởi những thuốc giảm đau và những thuốc chống viêm. Phương pháp này cũng bao gồm những nguy cơ lòi phủ tạng (éventration) và nhiễm trùng, nhất là ở những bệnh nhân tăng thể trọng.
Hỏi : Tính độc đáo của kỹ thuật ngoại khoa vi xâm nhập mới này là gì ?
GS Philippe Paparel : Kỹ thuật này dựa trên sự liên kết của 3 yếu tố. 1. Sự lấy thận ra được thực hiện qua âm đạo. 2. Sự gây mê, dựa trên sự phục hồi sớm (được thực hiện bởi BS Marie-Hélène Bruge-Ansel), cho phép cắt bỏ trong phẫu thuật ngoại trú (chirurgie ambulatoire). Trong protocole này, sự hủy bỏ morphine dùng trong hậu phẫu tránh nhiều tác dụng phụ (nôn, mửa, chậm lấy lại nhu động ruột). 3. Ta sử dụng robot chirurgical de DaVinci.
Hỏi : Ông hay mô tả cho chúng tôi kỹ thuật mổ.
GS Philippe Paparel : Can thiệp được diễn ra với hai phẫu thuật viên : một thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu và một thầy thuốc phụ khoa. Cũng như đối với cuộc mổ chuẩn, thầy thuốc tiết niệu thực hiện 5 lỗ trên thành bụng, qua đó những cánh tay của robot được đưa vào và ông điều khiển chúng từ một console. Phẫu thuật viên tiết niệu không mở rộng lỗ thứ năm vì lẽ trái thận, một khi được tách ra, sẽ đi ra ngoài qua những đường tự nhiên (âm đạo).
GS François Golfier. Vào giai đoạn tiếp theo, thầy thuốc phụ khoa thực hiện một đường rạch ở đáy âm đạo, từ 4 đến 5 cm, rồi đưa vào một sac d’extraction (túi để lấy thận ra) có hình dáng cái vợt cá (épuisette) cho đến tận quả thận để lấy nó ra qua đường âm đạo. Phẫu thuật vi xâm nhập này đặc biệt được chỉ định ở những phụ nữ đã có ít nhất một đứa con, bởi vì âm đạo phải đủ rộng và có tính đàn hồi phải thỏa mãn.
Hỏi : Những y lệnh sau mổ là gì ?
GS François Golfier: Không hoạt động thể thao trong 1 tháng, cũng như không được giao hợp trong 3 tuần. Trong trường hợp ung thư, sự theo dõi cũng giống như sau khi cắt bỏ thận bằng đường cổ điển.
Hỏi : Tóm lại, những lợi ích của kỹ thuật mới vi xâm nhập được robot hỗ trợ này là gì ?
GS François Golfier.
1. Ít đau hậu phẫu hơn, như thế ít dùng thuốc giảm đau hơn bởi vì ta không cắt các cơ thành bụng.
2. Một ưu điểm thẩm mỹ với những vết sẹo có kích thước nhỏ.
3. Một can thiệp ngoại trú (intervention en ambulatoire) ở những bệnh nhân được chọn lọc kỹ.
4. Ít nguy cơ nhiễm trùng và lòi phủ tạng (éventration) hơn.
5. Một sự lấy lại đời sống hoạt động nhanh hơn. Những kết quả tốt này đã được công bố trong tạp chí Pháp “Progrès en urologie” và liên quan chủ yếu 3 bệnh nhân béo phì. Chúng tôi không phải là những người duy nhất thực hiện kỹ thuật ngoại khoa mới này, nó cũng được sử dụng ở Cleveland ở Hoa Kỳ, ở Barcelone (ở đây chúng tôi được đào tạo kỹ thuật này) và từ ít lâu nay, ở Hôpital européen Georges-Pompidou.
Hỏi : Có những chống chỉ định thực hiện kỹ thuật này bằng đường âm đạo ?
GS François Golfier. Kỹ thuật này không được xét đến ở một bệnh nhân bị endométriose phức tạp hay một bệnh nhân rất già với một âm đạo teo.
(PARIS MATCH 19/9-25/9/2013)

8/ PREMIÈRE PHÁP : PHẪU THUẬT NỐI BẮT CẦU KÉP ĐỘNG MẠCH CHỦ-VÀNH BẰNG ĐƯỜNG VI XÂM NHẬP
BS Alexandre Le Guyader và BS Alexessandro Piccardo, những thầy thuốc mổ tim thuộc CHU de Limoges, giải thích bằng cách nào ngoại khoa nặng nề (chirurgie lourde) này trở nên một hành động vi xâm nhập (un acte mini-invasif) với sự hỗ trợ của một robot.
Hỏi : Trong trường hợp nào ta xét đến một phẫu thuật bắt cầu chủ-vành (PAC : pontage aorto-coronaire).
BS Alexandre Le Guyader : Khi lòng của các động mạch vành bị hẹp lại, sự cung cấp máu đến cơ tim trở nên không đủ. Khi tim phải thích ứng với những gắng sức, sự cung cấp oxy kém gây nên một tình trạng suy tim. Nếu lòng các động mạch vành bị tắc nghẽn, tim không còn được cấp oxy nữa, điều này gây nên nhồi máu cơ tim. Khi động mạch chính của tim (động mạch liên thất trước : interventriculaire antérieure) hay nhiều động mạch khác bị thương tổn, tốt nhất là đề nghị với các bệnh nhân một revascularisation chirurgicale : một pontage aorto-coronaire (phẫu thuật bắt cầu chủ-vành).
Hỏi : Protocole ngoại khoa cổ điển là gì ?
BS Alexandro Pïccardo : Kỹ thuật thông thường nhằm thực hiện một đường rẽ (một chiếc cầu) giữa động mạch chủ và động mạch vành. Sự bất cầu (pontage) được thực hiện ở phía trên chỗ hẹp (sténose). Điều này cho phép đi vòng quanh nó và tái lập một sự cung cấp máu đầy đủ. Mẫu ghép (greffon) được sử dụng để thực hiện pontage thường nhất được lấy ở động mạch ngực trong (artère thoracique interne).
Hỏi : Với kỹ thuật mổ quy ước này, vậy đó là một ngoại khoa nặng nề ?
BS Alexandre Le Guyader : Vâng. Để tiếp cận tim, ta cưa xương ức bằng một đường xẻ 20 cm. Thường nhất, tim của bệnh nhân được làm ngừng lại và được thay thế bằng một circuit đảm bảo tuần hoàn và oxygénation máu.
Hỏi : Những hậu phẫu là gì ?
BS Alexandro Pïccardo : Việc cưa xương ức làm biến đổi một cách quan trọng chức năng hô hấp và làm chậm sự trở lại một cuộc sống bình thường. Bệnh nhân phải nhiều thận trọng để làm giảm những nguy cơ vết xẻ xương ức bị tách rời và nhiễm trùng vết mổ. Vì những lý do hiển nhiên, không thể bó bột xương ức, và, do những cử động hô hấp, sự cứng xương phải cần nhiều tháng. Sự tuần hoàn ngoài cơ thể (circulation extracorporelle) được kèm theo bởi một hội chứng viêm quan trọng và những biến chứng hiếm nhưng đáng sợ. Sau 10 ngày nhập viện, các bệnh nhân được chuyển đến một trung tâm phục hồi chức năng tim (centre de réadapttaion cardiaque) trong 3 tuần để theo dõi về tim học, thực hành những bài tập kinésithérapie respiratoire và réentrainement cardiaque à l’effort. Người ta ước tính bệnh nhân phải lưu lại khoảng một tháng ở trung tâm này.
Hỏi : Kíp của ông vừa thực hiện một phẫu thuật bắt cầu kép động mạch chủ-vành (double pontage aorto-coronaire) bằng đường vi xâm nhập (par abord mini-invasif) với sự hỗ trợ của một robot. Protocole là gì ?
BS Alexandre Le Guyader : Chúng tôi đã thực hiện những phẫu thuật bắt cầu đơn động mạch chủ-vành (monopontage aorto-coronaire) bằng một đường xẻ nhỏ ở phần trái của ngực qua giữa các xương sườn, mà không phải cưa xương ức. Tuy nhiên cho đến nay, chỉ có những bệnh nhân bị một thương tổn duy nhất của động mạch vành (động mạch liên thất trong) mới có thể hưởng được kỹ thuật vi xâm nhập này. Cái mới, đó là khả năng thực hiện một revascularisation hoàn toàn, do đó có thể điều trị tất cả những động mạch vành. Trong khi thông thường kỹ thuật này chỉ được dành cho ít bệnh nhân, thì giờ đây chúng tôi có thể đề nghị nó cho một số lượng lớn hơn. Thầy thuốc ngoại khoa thực hiện 3 lỗ nhỏ về phía trái của ngực, rồi cố định ở đó caméra và những cánh tay của robot. Phát xuất từ đó, chính những cánh tay này của robot thực hiện những động tác phẫu thuật được điều khiển bởi phẫu thuật viên ngồi ở console. Robot lấy động mạch ngực trong (artère thoracique interne). Rồi phẫu thuật viên thực hiện một đường xẻ từ 8 đến 10 cm giữa các xương sườn để tiếp cận trái tim và thực hiện sự bắt cầu động mạch (branchement artériel) theo phương pháp cổ điển, với trái tim vẫn đập, không phải sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể.
Hỏi : Những hậu phẫu là gì ?
BS Alexandre Le Guyader : Kỹ thuật này loại bỏ những biến chứng do mở xương ức (sternotomie) và tuần hoàn ngoài cơ thể. Người được mổ 71 tuổi đã có thể ngồi trên ghế ngay ngày hôm sau và từ giã khoa phòng 5 ngày sau can thiệp ! Vết sẹo mổ được dấu dưới vú với một ưu điểm thẩm mỹ mà các bệnh nhân mong muốn. Bà bệnh nhân đã rời réadaptation cardiaque sau 10 ngày và đã vui sướng vì có thể tiếp tục lai khóa học nhảy múa một tháng sau.
Hỏi : Sau thành công đầu tiên này, giai đoạn kế tiếp sẽ là gì ?
BS Alexandre Le Guyader : Thành công này khích lệ chúng tôi thực hiện những phẫu thuật sửa chữa van tim với robot hỗ trợ.
(PARIS MATCH 19-25/12/2013)

9/ NGOẠI KHOA QUY ƯỚC : NHỮNG NHẬP VIỆN NGẮN NGÀY HƠN.
GS Jean-Pierre, trưởng khoa ngoại tổng quát ở Port-Royal (AP-HP, Hopitaux universitaires Paris-Centre), trình bày những bước tiến cho phép rút ngắn thời gian lưu viện.
Hỏi : Phẫu thuật ngoại trú (chirurgie ambulatoire) cho phép bệnh nhân trở về cùng ngày đã hiện hữu. Những chỉ định của nó là gì ?
GS Jean-Pierre Béthoux. Thật vậy phẫu thuật ngoại trú (chirurgie ambulatoire) có thể thực hiện nhờ những tiến bộ rất lớn được thực hiện trong những năm qua, cho phép một sự hồi phục sớm : gây mê nhẹ hơn, những thuốc giảm đau có hiệu quả hơn. Trong số những động tác ngoại khoa có thể thực hiện được, ta có thể kể những động tác mổ trong ngoại chỉnh hình (nhất là đối với những phẫu thuật bàn tay), trong nhãn khoa (rất thường để mổ đục thủy tinh thể), những phẫu thuật túi mật bằng nội soi.
Hỏi : Đối với những cuộc mổ nặng nề hơn nào của ngoại tổng quát, các bệnh nhân, trong khoa của ông ở hôpital Port-Royal, có thể lưu viện ngắn ngày hơn ?
GS Jean-Pierre Béthoux. Ta rút ngắn thời gian nằm viện đối với vài cuộc mổ, như cắt bỏ đại tràng (colectomie) (2 ngày thay vì 1 tuần), cắt bỏ tử cung (1 ngày thay vì 4), cắt bỏ vú (1 ngày thay vì 3 hay 4). Ta cũng giảm thời gian lưu viện sau cắt bỏ thận, cắt bỏ lách, cắt bỏ vài khối u ở bụng…
Hỏi : Làm sao ông đạt được điều đó ?
GS Jean-Pierre Béthoux. Nhờ một phương pháp điều trị rất mới, chủ yếu nhằm :
1. Đả thông một cách rất chính xác trước khi mổ về quảng đường (parcours de soins) của họ.
2. Làm nhẹ bớt tình trạng căng thẳng tiền phẫu bằng cách tránh cho họ, thí dụ, lượng các sản phẩm có tác dụng thẩm thấu (produits osmotiques) phải uống vào (nói chung nhiều lit) trước một phẫu thuật tiêu hóa. Các bệnh nhân chỉ cần theo một régime sans résidus.
3. Không thực hiện nữa một tiền mê quá an thần, sẽ làm chậm sự thức dậy của họ.
4. Rút ngắn dẫn lưu đến tối thiểu, trừ trong trường hợp cần thiết ; cũng không thông tiểu, hoặc không hút dịch quá kéo dài. Cũng vậy, nếu không có mối nguy cơ gây những biến chứng, những tiêm truyền được đặt trước và trong mổ được lấy đi ngay chiều hôm mổ hay ngày hôm sau.
5. Vào cuối can thiệp, tiêm một thuốc giảm đau tại chỗ trong những đường rạch ngoại khoa.
6. Cho bệnh nhân ăn lại sớm (cháo, nước đường, yaourt…) với đồ uống được phép ngay chiều hôm mổ.
7. Khiến bệnh nhân đứng dậy rất nhanh : cùng ngày mổ hay chậm nhất ngày hôm sau cuộc mổ.
Hỏi : Làm sao ta đánh giá rằng một bệnh nhân có khả năng rời bệnh viện ?
GS Jean-Pierre Béthoux. Đau phải được kiểm soát hoàn toàn, cũng như nôn và mửa, và không được có sốt cũng như bất cứ dấu hiệu nhiễm trùng nào. Bệnh nhân chỉ có thể đi ra ngoài nếu được đi kèm. Trở về nhà, bệnh nhân sẽ vẫn liên lạc với một conseiller médical của service. Mặt khác, bệnh nhân nhận những soins à domicile bởi một y tá của khu phố mình. Trong trường hợp biến chứng, bệnh nhân được tái nhập viện cấp cứu. Đối với những bệnh nhân sống ở tỉnh hay những người ngoại quốc, có một cơ cấu khách sạn (structure hôtelière) liên kết với bệnh viện.
Hỏi : Hôm nay ta thu đuoc kinh nghiệm nào với kỹ thuật mới lưu lại ngắn ngày, được gọi là “fast track” này ?
GS Jean-Pierre Béthoux. Kỹ thuật bệnh viện phục hồi nhanh sau mổ (technique hospitalière de récupération rapide après chirurgie) đã được trắc nghiệm ngay cuối những năm 1990 ở Đan Mạch bởi BS Henrik Kehlat. Ở Pháp kỹ thuật này được sử dụng ở CHU de Clermont-Ferrand từ nhiều năm nay. Khi chúng tôi còn ở bệnh viện Hôtel-Dieu, chúng tôi đã tiến hành một công trình nghiên cứu trên 360 bệnh nhân được chia thành hai nhóm : trong nhóm của những bệnh nhận được mổ vì những can thiệp tiêu hóa, phụ khoa và tạo hình (chirurgie plastique), chất lượng của sự phục hồi ở những bệnh nhân nhập viện 24 giờ cũng giống với ở những bệnh nhân lưu viện trong nhiều ngày. Những kết quả này, sẽ được công bố trong thời gian sắp đến trong tạp chí khoa học ” Journal de chirurgie viscérale “, đã được trình bày ở Hàn làm viện ngoại khoa quốc gia.
Hỏi : Nói tóm lại, những ưu điểm của phương pháp nhập viện mới này là gì ?
GS Jean-Pierre Béthoux.
1. Bệnh nhân ít bị gò bó hơn : sự lưu lại bệnh viện có vẻ ít nặng nhọc hơn.
2. Bệnh nhân ít bị những nhiễm trùng bệnh viện.
3. Với sự nhập viện được giảm bớt này, căn bệnh mất đi tính chất bi thảm.
4. Bệnh nhân tìm lại môi trường quen thuộc của mình nhanh hơn, điều này tốt hơn cho tinh thần của bệnh nhân. Phương pháp mới này có nhiều ưu điểm đến độ nó sẽ được áp dụng bởi nhiều cơ sở bệnh viện mỗi khi tình trạng bệnh nhân cho phép.
(PARIS MATCH 25/7-31/7/2013)

10/ MALPIGHI, NGƯỜI TIỀN PHONG CỦA KÍNH HIỂN VI.
Corps muqueux, các corpuscule (tiểu thể) và những pyramide (tháp), cả một loạt yếu tố mô tả này, được học trong mô học, đó là cống hiến của nhà cơ thể học lạ thường này.
Marcello Malpighi sinh năm 1628 gần Bologne (Ý). Chàng thanh niên say mê triết học và y khoa mặc dầu bố khuyến khích theo học văn chương. Vào năm 21 tuổi, bố mẹ qua đời và Malpighi phải chăm lo gia tộc. Tuy nhiên ông tốt nghiệp năm 25 tuổi và 1 năm sau, ông cưới con gái của một trong những người thầy của mình.
Là người tìm tòi nghiên cứu bẩm sinh, ông nhanh chóng nổi tiếng và Ferdinand II de Toscane đề nghị cho ông một ghế y khoa lý thuyết (médecine théoricienne) ở đại học Pise, ở đây mặc dầu một tình bạn thắm thiết với nhà toán học và nhà tự nhiên học Giovanni Borelli, nhưng ông chỉ lưu lại hai năm, bởi vì ông không nhất trí. Ông từ chối theo một cách mù quáng những giáo điều y khoa như những giáo điều của Galien và tìm kiếm nhiều tự do hơn ở đại học Messine (Sicile). Chính ở đó ông khám phá rằng máu có màu đỏ là do sự hiện diện của các hồng cầu nhưng cũng khám phá rằng lưỡi chứa những gai vị giác (papilles gustatives) nối với những tận cùng thần kinh.
TRỞ LẠI BOLOGNE.
Do sự cởi mở khoa học tiến bộ, ông trở lại Bologne năm 39 tuổi với tư cách giáo sư đại học. Sau đó ông nghiên cứu hình dạng hiển vi của các phần khác nhau của những cơ quan chính : gan, não, lá lách, thận, xương, cũng như những lớp sâu của da. Chính như thế mà ông sẽ để lại tên của mình cho các tiểu thể (corpuscule) nằm trong mô bạch huyết quanh những tiểu động mạch lách, cho các corps muqueux (hay tầng Malpighi : couche de Malpighi) trong phần sâu của biểu bì và cho các cuộn tiểu cầu (glomérule) (pyramides) nằm trong trong vỏ thận. Ông kết luận rằng phần lớn các mô sống chứa các tuyến, kể cả những cơ quan có kích thước lớn. Ông chứng minh rằng mật được tiết ra bởi gan chứ không phải bởi túi mật và mô tả một hội chứng gồm có những adénopathies glandulaires, được tái khám phá 200 năm sau bởi Thomas Hodgkin.
CHIẾC KÍNH HIỂN VI PHI THƯỜNG.
Malpighi được xem như là một trong những người tiền phong trong việc sử dụng kính hiển vi. Ông dò xét kỹ càng những thực vật và động vật và khám phá những mao mạch nhờ nhận diện chúng ở bề mặt của phổi của các con ếch. Ông chứng tỏ rằng các mao mạch là dây nối giữa các động mạch và tĩnh mạch, một trong những khám phá quan trọng nhất của y khoa, được cảm thấy trước bởi Harvey. Khi đó ông được 33 tuổi và công bố công trình của mình trong ” De pulmonibus”. Con tằm (ver à soie) là một loài khác mà ông dành cho một công trình lịch sử. Rồi, Malpighi lao mình vào trong sự thăm dò phôi thai học của gà con, điều này cho phép ông mô tả quai động mạch chủ, những feuillets neuraux và những métamère.
Ông ở đỉnh cao của nghề nghiệp ngay trước khi chỉ mới 40 tuổi, mặc dầu bị tranh cãi trong một phần lớn của cuộc đời bởi những tư tưởng quá đổi mới của ông.Tuy nhiên những công trình của Malpighi lôi kéo sự chú ý của London Royal Society. Thư ký của hiệp hội này, Henry Oldenburg, trước hết mời ông trao đổi thư từ với ông ta rồi sau đó đề nghị ông là một thành viên danh dự của hiệp hội. Đó không phải là một sự công nhận nhỏ bởi vì ông là người Ý đầu tiên nhận được vinh dự này. Ông được công bố đều đặn dưới dạng những bức thư trong Philosophical Transactions của Royal Society. Mặc dầu bị ngược đãi ở Ý, ông lại luôn luôn được công bố ở Luân Đôn
UNE FIN DE VIE EN DEMI-TEINTE
Từ những lời chỉ trích đến những vinh dự, sau cùng ông được công nhận trong đất nước quê ông và có thể từ giã phòng mạch và phòng thí nghiệm để chấp nhận những địa vị được trả thù lao rất cao ở Bologne. Thay vì thế, ông tiếp tục hành nghề y khoa tổng quát và giảng dạy. Những năm này ở Bologne đã đánh dấu tuyệt đỉnh của nghề nghiệp của ông, ở đây Malpighi đã mang lại cho kỹ thuật kinh hiển vi vai trò của chúng.
Trong thập niên cuối của cuộc đời, Malpighi đã trải qua những thảm kịch cá nhân, sức khỏe của ông sa sút và những chống đối lại nổi lên trở lại. Vào năm 1684, villa của ông bốc cháy, kính hiển vi và tất cả dụng cụ của ông bị đập vỡ và những giấy tờ, sách và những bản thảo bị tiêu hủy. Có thể rằng một hành động tội phạm là nguyên nhân của sự việc này, nhằm trả thù chống lại tầm vóc khoa học càng ngày càng được xác nhận của ông.
Vào năm 63 tuổi, Malpighi được giáo hoàng Innocent XII gọi để trở thành thầy thuốc riêng cho mình và đồng thời ông được mời giảng dạy ở đại học Rome.
Sau cũng được bầu vào Collège des Docteurs en Médecine, ông qua đời sau đó vào năm 67 tuổi do căn bệnh mà người ta gọi hồi đó là apoplexie (trúng phong, đột qụy). Nhờ những công trình của ông, cơ thể học vi thể (anatomie microscopique) đã trở nên một điều kiện tiên quyết cho mọi tiến bộ trong lãnh vực sinh lý học, phôi thai học và thực hành y khoa.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 28/6/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(8/1/2014)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s