Thời sự y học số 330 – BS Nguyễn Văn Thịnh

fausse couche1/ SẨY THAI : HÃY DÀNH NHIỀU CHỖ HƠN CHO LỜI NÓI.Mặc dầu thường xảy ra đến độ sẩy thai đôi khi bị các thầy thuốc xem thường, tuy vậy sẩy thai tự nhiên (fausse couche spontanée) vẫn còn chứa nhiều ẩn số.
GROSSESSE. Thường khó sống bởi phụ nữ, sẩy thai không hẳn là ngoại lệ : ít nhất 12% thai nghén được kết thúc bởi một mất phôi thai ngay những tuần lễ đầu tiên, sớm nhất thường không được nhận biết. Ở 1% các phụ nữ, những sẩy thai này lặp đi lặp lại nhưng không một nguyên nhân nào luôn luôn được tìm thấy. Một sự loạn năng của nội mạc tử cung (dysfonctionnement de l’endomètre), lớp nông của tử cung, trong đó phôi thai làm tổ, đôi khi có thể là nguyên nhân. Mới đây, một kíp người Ấn độ đã cho thấy ở 66 phụ nữ bị sẩy thai tái diễn không giải thích được, những bất thường nhỏ về sự điều hòa của tình trạng viêm và huyết quản của nội mạc tử cung, có thể làm cho nó ít thuận lợi hơn để làm tổ và phát triển thai nhi. (PloS One, 15/11/2013).
Những truong hop sẩy thai sớm (fausse couche précoce) (hoặc dưới 14 tuần tắt kinh) của tam cá nguyệt đầu thường xảy ra đến độ cứ 4 phụ nữ thì có một sẽ bị gặp phải. Được phát hiện bởi hai dấu hiệu, xuất huyết và đau vùng chậu (douleur pelvienne), chúng là động cơ thăm khám cấp cứu phụ khoa đầu tiên. Nhưng, BS Cyrille Huchon, thầy thuốc phụ sản (CHU de Poissy), ” một xuất huyết xảy ra trong 1/4 các trường hợp thai nghén mà không nhất thiết đó là sẩy thai: trong hơn một nửa các trường hợp, đó là dấu hiệu của lóc một phần của lá nuôi (décollement partiel du trophoblaste), mô bao quanh phoi thai và về sau này sẽ sinh ra nhau, thường sẽ không có một hậu quả nào đối với sự diễn biến về sau của thai nghén “.
Trong trường hợp xuất huyết, tốt nhất là đến khoa cấp cứu phụ sản, ở đây thầy thuốc sẽ có thể đánh giá tình hình. Chẩn đoán dựa trên siêu âm qua âm đạo (échographie par voie transvaginle), cho phép xác định có một hoạt động tim của phôi thai hay không, tiên lượng tốt, đó có phải là một thai nghén bị ngừng lại hay một sẩy thai đang diễn ra. Siêu âm này luôn luôn được lập lại một tuần sau. Nếu không có hình ảnh siêu âm, vì phôi thai quá nhỏ, không hiện diện (trứng sáng) hay không thấy được, và trong trường hợp nghi ngờ, một định lượng beta-HCG, kích thích tố đặc hiệu của thai nghén, được thực hiện. ” Nếu thai nghén tiếp tục tiến triển, nồng độ của chúng tăng gấp đôi mỗi 48 giờ, trong khi nó giảm nhanh trong trường hợp chết phôi thai (mort embryonnaire). Định lượng này cũng cho phép loại bỏ một thai ngoài tử cung hiếm nhưng nghiêm trọng”, BS Gael Beucher (CHU de Caen) đã xác nhận như vậy.
HỞ CỒ TỬ CUNG (INCOMPETENCE DU COL)
Nếu như sẩy thai đang diễn biến và cổ tử cung mở, quá trình sẽ được tiếp tục cho đến khi tống nhau. Thường nhất ngẫu nhiên và hoàn toàn, tuy nhien sẩy thai có thể cần nhiều ngày hay không hoàn toàn. “Một điều trị bằng misoprostol (Cytotec) cho phép gia tốc sự tống nhau. Thuốc này, rất được sử dụng, gây nên nhưng co thắt tử cung. Nếu điều trị này không đủ (20% các trường hợp) hay nếu người phụ nữ mong muốn kết thúc nhanh, một hút-nạo ngoại khoa (aspiration-curetage chirurgical) được thực hiện ở phòng mổ, dưới gây mê, với một nguy cơ nhỏ sau đó bị những dính tử cung (adhérences utérines), những synéchies.” Phải để cho người phụ nữ sự lựa chọn điều trị, ngoại trừ trong trường hợp xuất huyết quan trọng và đau dữ dội, khi đó buộc thực hiện động tác ngoại khoa.
” Sẩy thai sớm (fausse couche précoce) hầu như luôn luôn chấm dứt một thai nghén, dẫu sao đã không tiến triển một cách bình thường, chủ yếu do những biến đổi nhiễm sắc thế nghiêm trọng “, BS Huchon đã chỉ như vậy. Sự sinh sản ở người được kèm theo một cách tự nhiên bởi một sự “lãng phí” lớn, với 70% trứng thụ tinh bị sẩy trước tuần lễ thứ sáu. ” Ta không tìm kiếm nguyên nhân của một trường hợp duy nhất sẩy thai sớm, bởi vì điều đó sẽ không có một ích lợi nào đối với tương lai. Trường hợp sẩy thai riêng rẻ này, mà ta không thể phòng ngừa, không thay đổi gì hết nhưng cơ may của người mẹ đối với những thai nghén sau này.”
Hiếm hơn nhiều (0,5-1% những thai nghén), những sẩy thai muộn (fausse couche tardive) của tam cá nguyệt thứ hai đặt một vấn đề khác. Như GS François Goffinet (CHU Cochin-Port-Royal, Paris) đã nêu ra nhận xét, mặc dầu trước 22 tuần thai nhi không thể sống được, ” đối với thầy thuốc sản khoa, có một sự liên tục giữa sẩy thai muộn và sinh rất non tháng (accouchement très prématuré) “. Vài yếu tố làm dễ giống nhau, thai nghén nhiều lần, tình trạng rất mong manh, nhiễm trùng nặng ở người mẹ hay những điều kiện làm việc khó khăn.
” Những trường hợp sẩy thai muộn có thể có nguyên nhân là một bất thường di truyền như một trisomie, một đa dị dạng (poly-malformation), chịu trách nhiệm thai tử trong tử cung (mort foetale in utero), hay một tiền sản kinh, cao huyết áp thai nghén (hypertension gravidiaque), chịu trách nhiệm một suy thai sớm (souffrance précoce du foetus), kết thúc bởi tử vong, BS Antoine Torre (CHU Poissy) đã giải thích như vậy. Những thai tử trong tử cung này được phân tích để xem có thể ngăn ngừa một tái phát hay không.” Những nguyên nhân thường gặp nhất của những sẩy thai muộn này là hở cổ tử cung (incompétence du col) : cổ tử cung không làm tròn vai trò bouchon (nút) của nó. Rất khó tiên đoán bởi vì thăm khám phụ khoa bình thường những ngày trước đó. ” Sự đo bằng siêu âm chiều dài của cổ tử cung cho phép đánh giá nguy cơ sẩy thai. Dấu hiệu báo trước khác, một sự vỡ ối sớm, tình huống có nguy cơ rất cao đối với thai nhi, mặc dầu, hiếm, thai nghén vẫn tiếp tục.”
Vẫn còn những ẩn số, như mối liên hệ giữa sự hóa già của các buồng trứng, những sẩy thai tái diễn và mãn kinh sớm, hay lại nữa vai trò của tình trạng dinh dưỡng, chất lượng của nội mạc tử cung, sẽ biện minh cho một sự tìm kiếm tích cực hơn trong lãnh vực này.
(LE FIGARO 9/122013)

2/ SẨY THAI : TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT CỦA NHỮNG SẨY THAI LIÊN TIẾP.
9 trường hợp trên mười, nguyên nhân của một sẩy thai tự nhiên riêng rẻ (fausse couche spontanée isolée) thường nhất không được biết cũng không được tìm kiếm, vì lẽ chúng rất thường gặp và không ảnh hưởng lên những thai nghén tương lai. Điều đó sẽ khác khi sẩy thai lặp đi lặp lại.
Vài sẩy thai liên tiếp (fausses couches à répétition) là do hở cổ tử cung (incompétence du col), thường nhất là đó cấu tạo.” Chẩn đoán dựa trên sự kiện là những phụ nữ này ít nhất đã bị hai sẩy thai giai đoạn muộn (fausse couche tardive), vào khoảng 4 hay 5 tháng, mà hầu như không có những co thắt tử cung. Progestérone làm giảm một ít nguy cơ này. Nhưng sự phòng ngừa tái phát trước hết cần phải cerclage du col, rất hiệu quả, nhưng hủy bỏ những co thắt của thai nghén và thêm vào một ít nguy cơ nhiễm trùng “, GS Goffinet đã xác nhận như vậy.
Ngoài tình huống này, nguyên nhân sẽ được tìm kiếm bắt đầu từ 3 lần sẩy thai liên tiếp : khi đó xác suất nhận diện một nguyên nhân gia tăng, và, nếu nguyên nhân này có thể được điều trị, những cơ may thành công những thai nghén sau này sẽ được gia tăng. Như BS Antoine Torre đã giải thích điều đó, ” 1/3 những trường hợp sẩy thai tái diễn (fausses couches récurrentes) này bị lập lại chỉ vì điều không may, và, trong số những trường hợp khác, 80% có một nguyên nhân có thể nhận diện được, với một điều trị được đề nghị đối với một nửa những trường hợp “. Nhưng ngay cả nếu không phải là như vậy, tương lại ít nguy hại hơn điều ta hằng tưởng. ” Sau 3 lần sẩy thai, xác suất có một em bé vào thai nghén lần thứ tư vẫn là 60% và 50% sau thai nghén thứ tư.”
Sau 3 lần sẩy thai được xác nhận, người phụ nữ được đề nghị một bilan hoàn chỉnh : những thăm dò chụp hình ảnh để tìm những bất thường cơ thể học, phân tích máu, định lượng những kích thích tố giáp trạng, sinh dục, đường huyết, tìm kiếm những tự kháng thể (auto-anticorps), định lượng những proétéine của đông máu, thăm dò nhiễm sắc thể bố mẹ để tìm những bất thường di truyền, lấy mẫu nghiệm âm đạo và đôi khi thăm dò tinh dịch.
Những nguyên nhân cơ thể học thường gặp : những dính tử cung (synéchies) do những lần nạo thai hung bạo trước đây, polype, các u xơ tử cung, hay tử cung bị phân chia bởi một vách ngăn sợi… Tất cả những nguyên nhân này có thể được điều trị bằng phẫu thuật.
” Trong số những nguyên nhân di truyền, ta nhận diện trong 10% các trường hợp một translocation équilibrée (một mảnh được trao đổi giữa hai nhiễm sắc thể, vậy không bị mất gènes), không có hậu quả rõ rệt ở bố hay mẹ mang bất thường, nhưng có thể là nguồn gốc của những sẩy thai liên tiếp ..hay những thai nghén bình thường, GS Goffinet đã giải thích như vậy. Trong trường hợp những bệnh tự miễn dịch, như một lupus hay một syndrome des antiphospholipides, điều trị làm giảm nguy cơ sẩy thai, tuy nhiên nó không trở lại bình thường, đó là trường hợp với bệnh đái đường hay một loạn năng tuyến giáp được điều trị tốt.” Một nhiễm trùng, một syndrome des ovaires polykystiques, một hypoandrogénie, những bất thường đông máu cũng có thể là nguyên nhân…
” Nhưng, trong một nửa các trường hợp, không có một nguyên nhân nào có thể được nhận diện. Vậy lời khuyên của chúng tôi đối với bố mẹ là luôn luôn kiên trì trong những toan tính của mình…”
Trong những sẩy thai tái diễn, một hỗ trợ tâm lý liên tục thường sẽ phải được tiếp tục, ngay cả sau khi sinh một em bé, bởi vì những phụ nữ này đã mất niềm tin vào thân thể của họ, nhưng một cách rộng lớn hơn, họ cũng đã mất niềm tin vào khả năng làm mẹ của họ.
(LE FIGARO 9/12/2013)

3/ SẨY THAI : MỘT HỖ TRỢ TÂM LÝ THUỜNG KHÔNG ĐỦ.
” Các thầy thuốc có lẽ không xét đến sự thể hiện mà các phụ nữ có về thai nghén của họ và họ đã sống như thế nào sự sẩy thai của họ, GS François Goffinet đã đánh giá như vậy. Vài người không quá bị ảnh hưởng bởi sự mất mát này, trong khi những người khác trải qua như một thảm kịch bởi vì họ đã xây dựng cả một dự án chung quanh điều đã là một đứa bé đối với họ. Chắc chắn rằng chúng ta phải lắng nghe họ nhiều hơn, để hướng họ khi cần về một điều trị tâm lý.” Sự hỗ trợ tâm lý này, thường được dự kiến đối với những sẩy thai muộn (fausse couche tardive) hay tái diễn trong những khoa chuyên môn, có lẽ sẽ sẵn sàng cho các phụ nữ.
” KHÔNG NGHIÊM TRỌNG, BÀ SẼ CÓ MỘT EM BÉ KHÁC…”
Đối với Natalène Séjourné, nhà nghiên cứu tâm lý học (đại học Toulouse), ” điều gây ấn tượng mạnh, đó là tính chất vô cùng đa dạng của những phản ứng của các phụ nữ. Những phản ứng này không liên quan với tuổi của thai nghén. Trong khi vài người trải qua không khó khăn lắm trường hợp sẩy thai sớm của họ, thì đối với những người khác, đó đã là đánh mất một em bé “. Trong tình huống này người thầy thuốc thường sẽ là người đối thoại duy nhất của các phụ nữ.
Những giải thích y khoa về những nguy cơ cao của những sẩy thai sớm có thể giúp cho vài phụ nữ, thường cần một thời gian để tiêu hóa những thông tin nhận được. ” Đối với những phụ nữ khác, phải sống biến cố sẩy thai này như là sự đánh mất một đứa bé, việc nghe thấy thuốc tầm thường hóa tai biến này, nói ” điều đó không nghiêm trọng, bà sẽ có một em bé khác..”, quả đúng là không thể chịu được “, Corinne Cazard-Favarel, psychologue de la santé (Montastruc-Toulouse) đã chỉ rõ như vậy.
” Việc không có những giải thích chắc chắn về những gì đã xảy ra đối với trường hợp thai nghén của riêng họ, rất gây lo âu có thể là nguồn gốc của một cảm giác tội lỗi, một cảm giác không có năng lực đưa thai nghén đến cùng”, Natalène Séjourné đã giải thích như vậy. Những công trình đã cho thấy rằng một sẩy thai có thể là nguồn gốc của một hội chứng lo âu-trầm cảm (syndrome anxio-dépressif) và một cảm giác tang chế (sentiment de deuil). ” Cảm giác tội lỗi này cũng góp phần vào sự giận dữ. Giận dữ của người phụ nữ chống lại chính mình bởi vì nàng cảm thấy chịu trách nhiệm, chống lại những người chung quanh, đã không hỗ trợ nàng đầy đủ, và chống lại các thầy thuốc, đã không biết cứu đứa bé.”
Đối với nhà tâm lý đã tham gia đào tạo các soignant, vậy những soignant này phải chăm chú những lời phát biểu của các phụ nữ, sẽ gợi lên cách để đi kèm họ : ” Người phụ nữ đã nói ” tôi đã có một thai nghén không đứng vững được ” không hề diễn tả cùng điều với người phụ nữ đã nói ” tôi đã mất con tôi lúc được 6 tuần “. ” Vì những người chung quanh đã không luôn luôn được thông báo về thai nghén khởi đầu này, những phụ nữ này đôi khi cảm thấy rất bị lẻ loi, không được sự hỗ trợ mà phần lớn họ mong muốn. Đối với Nathalie Séjourné, ” trong trường hợp của những sẩy thai sớm này, một can thiệp tâm lý nhanh và ngắn, thí dụ dưới dạng một buổi nói chuyện, có thể hữu ích “.
Những trường hợp sẩy thai muộn đặt ra một vấn đề hoàn toàn khác, và bố mẹ lúc đó hầu như luôn luôn được équipe médicale gởi đến người chuyên về tâm lý học. ” Phải cho phép họ một travail de deuil thật sự, dieu này càng khó khi họ đã không biết đứa bé nhưng đã tự hình dung ra nó, đã thấy nó khi làm siêu âm, đôi khi đã chọn đặt một tên…Thêm vào đó là cái khó không biết phải tự đặt mình như là bố mẹ thật sự hay không và cái khó muốn tránh cho đứa bé được thụ thai sắp đến như một đứa bé thay thế cho đứa bé đã bị mất “, Corine Cazard-Favarel đã chỉ rõ như vậy.
(LE FIGARO 9/12/2013)

4/ NHỮNG LO NGẠI VỀ SỰ XUẤT HIỆN MỘT VIÊN THUỐC LÀM SẨY THAI MỚI.
Các thầy thuốc phụ khoa tố cáo việc đưa ra thị trường một dược phẩm nhưng đã không có những thử nghiệm lâm sàng.
SANTE PUBLIQUE. ” Chúng ta không cần một scandale về IVG (interruprion volontaire de grossesse) ở Pháp ! Chúng ta đã có vụ các viên thuốc ngừa thai, điều đó đủ rồi “, GS Israel Nisand, trưởng khoa sản phụ thuộc CHU de Strasbourg, đùng đùng nổi giận. Ông ta không phải là người nổi giận duy nhất. Cả thảy, chín 6 giáo sư phụ khoa (Philippe Descamps của Angers, Hervé Fernandez của Bicetre, Aubert Agostini của Marseille, Jean-Louis Benifla và Bruno Carbonne của Trousseau (Paris) đã viết một bức thư cho bộ trưởng y tế Marisol Touraine để bày tỏ mối quan tâm của họ. Lý do, việc đưa ra thị trường Pháp một viên thuốc phá thai (pilule abortive), le Miffee của phòng bào chế Pháp Linepharma. Vấn đề, đó là trên bình điện quy chế, le Miffee chỉ có thể được kê đơn, liên kết với một loại thuốc khác, gemeprost. Petit souci : gemeprost không còn được sử dụng ở Pháp nữa bởi vì những tác dụng phụ (gây đau). Ngoài ra gemeprost phải được bảo quản ở nhiệt độ 15 độ C và đắc tiền. Nói một cách khác, le Miffee sẽ được sử dụng ở Pháp ngoài những chỉ định đưa ra thị trường (hors AMM) vì lẽ nó sẽ được phối hợp với những thuốc khác mà nó không được phep dùng phối hợp.
Đó là điều đã xảy ra trong các nước Bắc Âu, ở đây le Miffee đang được bán từ hai năm nay, mặc dầu gemeprost ngay cả không được thương mãi hóa.
(LE FIGARO 28/11/2013)

5/ HIỆN HỮU CHĂNG VIÊN THUỐC NGỪA THAI NAM GIỚI ?

Docteur Jean-Claude Soufir
Praticien à l’hopital Cochin
Ancien responsable d’andrologie de l’hôpital de Bicêtre.

Vâng. Một ngừa thai kích thích tố nam (contraception hormonale masculine), dựa trên cùng nguyên tắc với viên thuốc ngừa thai nữ giới, đã được sử dụng, ngay năm 1979, trong khoa sinh học và sinh sản của chúng tôi thuộc bệnh viện Bicêtre.
Những nguyên tắc của những ngừa thai kích thích tố nữ và nam là gì ? Để hiểu ngừa thai kích thích tố nam tác động như thế nào, phải cân nhắc lại thành phần của viên thuốc ngừa thai nữ giới. Viên thuốc này được cấu tạo do sự phối hợp của một progestatif (norstéroide, thật ra là kích thích tố nam-testostérone- bị biến đổi) và éthynyloestradiol, dẫn xuất của kích thích tố nữ tự nhiên (oestradiol). Viên thuốc ngừa thai nữ ức chế sự rụng trứng.
Ở người đàn ông, ta phối hợp progestatif với những dẫn xuất của testostérone. Như thế ta ức chế sự sản xuất tinh trùng : ta biết điều đó từ những công trình của Heller, có từ những năm 1950-1958. Những thử nghiệm khác nhau sử dụng thường nhất những mũi tiêm đã cho thấy rằng ta có thể sử dụng phối hợp này hay ngay cả những dẫn xuất của progestérone đơn độc.
Phần lớn những thử nghiệm này đã không mang lại kết quả, bởi vì những điều trị được trắc nghiệm thường chịu trách nhiệm những tác dụng không được mong muốn (mất nam tính, lên cân…). Ngay năm 1976, một thầy thuốc phụ khoa người Pháp, Salat-Baroux, đã tiến hành một protocole thuộc loại này nhưng ưu tiên đường miệng. Một điều trị non injectable (pilule-gel) đã được hiệu chính ở Bicêtre. Vào năm 1978, người ta đã năn nỉ yêu cầu chúng tôi ngừa thai nam giới, xuất phát từ những cặp vợ chồng mà người vợ đã chịu những biến chứng của ngừa thai nữ giới. Hưởng được kinh nghiệm của những thử nghiệm trước và những kết quả của những công trình của trường nội tiết học Pháp, chúng tôi đã đề nghị một điều trị mới liên kết một viên thuốc (progestatif) và, lần đầu tiên, testostérone tự nhiên được cho dưới dạng gel, được trải lên da. Những dược phẩm cơ bản ở hiệu thuốc ; những liều lượng là những liều lượng thường được đề nghị.
NHỮNG THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG.
Những kết quả đã là vừa ý : đời sống sinh dục được cải thiện, sự sản xuất tinh trùng bị ức chế, và tác dụng ngừa thai có hiệu quả. Những kết quả của chúng tôi đã được báo cáo trong nhiều tài liệu xuất bản khác nhau hay trong những hội nghị quốc tế : Presse médicale (1982), Acta Endocrinologica (1983), Society for Study of Fertility, Manchester (1983), Congrès international d’andrologie, Florence (1989), Human Reproduction (2011).
Điều trị này đã được tiếp tục với những variante bởi những équipe Pháp ở Lyon (1988) và Rennes (1989), rồi bởi những kíp của Hoa Kỳ ở Seatle (2006) và San Francisco (2012).
Ta có thể nhận xét rằng cách cho và những dược phẩm được sử dụng để ngừa thai nam giới đã đi trước ngừa thai nữ giới, vì lẽ đã phải đợi đến năm 2000 để ta mới đề nghị cho các phụ nữ một ngừa thai bằng đường qua da (contraception percutanée) (patch) và năm 2009 để, trong vài viên thuốc ngừa thai, oestradiol tự nhiên thay thế éthinyloestradiol, chịu trách nhiệm những rối loạn huyết quản.
Phải chăng một ngừa thai bằng kích thích tố (contraception hormonale) có thể được sử dụng tức thời ? Điều trị với pilule-gel dĩ nhiên không thể được phổ biến với một quy mô lớn chừng nào những thử nghiệm lâm sàng đúng quy chế đã không được thực hiện. Để được như thế phải có những đầu tư tài chánh mà hiện nay những hãng dược phẩm không đồng thuận. Tuy nhiên, ta có thể sử dụng ngay từ bây giờ một dược phẩm khác cơ bản ở hiệu thuốc, énanthate de testostérone, trong những điều kiện được xác định bởi hai protocole của OMS mà chúng tôi được kêu gọi tham gia :
– những người đàn ông dưới 45 tuổi, sống đôi cặp ổn định, đặc biệt có động cơ do một intolérance đối với những ngừa thai nữ giới, không có những tiền sử bệnh lý khiến chống chỉ định những dược phẩm được sử dụng ;
– chọn lọc những người đáp ứng tốt, điều trị được giới hạn trong thời gian 18 tháng.
Enanthate de testostérone cần những mũi tiêm hàng tuần, những tần số của chúng có thể còn 30 hay 45 ngày nếu ta sử dụng một loại thuốc tương cận, undécanoate de testostérone.
(LE FIGARO 4/3/2012)

6/ HIẾN NOÃN NÀO VẪN QUÁ HIẾM Ở PHÁP.
Mỗi năm, khoảng một ngàn cặp vô sinh chờ đợi các giao tử, vẫn cần thiết trong vài trường hợp sinh đẻ hỗ trợ y khoa (PMA : procréation médicalement assistée).FECONDITE. Trong vong mười ngày, Géraldine đã tự mình chích thuốc cho chính mình, hết bị lấy máu lại đến chụp siêu âm, đồng thời vẫn tiếp tục làm việc. Rồi chọc lấy noãn bào đã diễn ra ngày 17 tháng 7 ở bệnh viện với gây mê nhẹ : 12 noãn bào đã được lấy rồi tức thời được trao cho những cặp vô sinh. ” Tôi đã đi ra khỏi bệnh viện sau vài giờ, hơi mệt bởi marathon médical này, nhưng sung sướng lúc nghĩ rằng tôi đã có thể mang lại một mày mắn cho một phụ nữ khác để có được một đứa bé “, Géraldine đã nói như vậy.
Cho noãn bào, như người mẹ gia đình vừa được 38 tuổi này đã thực hiện, vẫn là một việc làm rất hiếm ở Pháp. Vào năm 2011, Agence de la biomédecine đã ghi được 400 trường hợp chọc lấy noãn bào, đã mang lại lợi ích cho 800 cấp vô sinh trên 1800 cặp được đăng ký trên danh sách chờ đợi (một con số gia tăng hằng định). ” Hôm nay, phần lớn những người cho được các cặp vợ chồng vô sinh mang đến centre d’aide médicale à la procréation, nhờ người hiến giữ nặc danh, nen hồ sơ của họ được thông qua nhanh hơn “, GS Samir Hanamah, trưởng khoa sinh học và sinh sản đã nhấn mạnh như vậy. Mặc dầu không được dự kiến bởi luật pháp, giấy thông hành đặc biệt này được thực hiện trong hầu hết những trung tâm mà lý do để biện minh là do sự thiếu hụt những giao tử.
Chính với hy vọng tạo nên những trường hợp hiến “ngẫu nhiên” hơn mà Agence đã mở một espace trên Internet, trình bày một cách cụ thể sự can thiệp, với những lời chứng của các bệnh nhân và những buổi nói chuyện với các thầy thuốc. ” Mục tiêu là tạo điều kiện cho sự chuyển qua hành động của các phụ nữ, được thôi thúc bởi một tinh thần đoàn kết, nhưng không biết xử trí như thế nào”, Emmanuelle Prada-Bordenave, giám đốc của Agence de biomédecine đã ghi nhận như vậy. Thật ra nước Pháp, mặc dầu không chịu từ bỏ nguyên tắc hiến miễn phí, nhưng không chỉ bằng lòng tìm kiếm những người hiến vô vụ lợi. Trong những nước láng giềng, như Tây ban Nhà hay Bỉ, ở đây hàng ngàn người Pháp đến để điều trị mỗi năm, những người hiến nhận đến 900 euro tiền thiệt hại.
” Quả đúng là hiến những noãn bào của mình có thể gây lo sợ, Géraldine đã nêu lên như vậy. Điều đó tất nhiên đòi hỏi một sự dấn thân thật sự, nhưng không phải là không thể vượt qua. Còn về phần tôi, lợi ích về mặt tâm lý đã là xứng đáng.” Những người hiến phải có sức khỏe tốt, ít nhất có 37 tuoi (trong thực tế, phần lớn hơn 35) và đã có ít nhất một đứa con. Hàng rào này đã được hủy bỏ vào năm 2011 bởi người làm luật nhưng đạo luật áp dụng còn phải chờ đợi, và các trung tâm tiếp tục từ chối những trường hợp hiến của những phụ nữ không có con.
Những người tình nguyện trước hết lấy hẹn với một nhà di truyền học và một nhà tâm lý học, rồi họ nhận một bilan phụ khoa. ” Một dự trữ buồng trứng không đủ hay một bệnh di truyền (như một ung thư vú hay một hội chứng hưng-trầm cảm) là hủy việc cho “, BS Sophie Catteau-Jonard, thầy thuốc phụ khoa của CHU de Lille đã xác nhận như vậy. Trong trung tâm PMA khu vực này, gần một phụ nữ trên ba bị từ chối. Những người được hiến, là những phụ nữ không thể trở thành mẹ do tuổi tác hay một căn bệnh (mãn kinh sớm, ung thư, thiếu hụt buồng trứng nghiêm trọng).
Người hiến và người nhận sau đó được “appareillé” bởi một kíp y khoa tùy theo màu da và mắt, nhưng cũng tùy theo kích thước và nhóm máu. Chọc noãn bào được thực hiện ở bệnh viện, thường với gây mê tổng quát, sau một kích thích hormone kéo dài 10 và 12 ngày.” Ngày nay những biến chứng y khoa vô cùng hiếm, BS Catteau-Jonard đã ghi nhận như vậy. Những điều trị không phải là không có những tác dụng không mong muốn, như mệt và đau bụng.” Ngoài ra điều trị đòi hỏi một theo dõi y khoa chặt chẽ, điều này làm cho việc điều trị trở nên gò bó. ” Việc hiến cũng tạo nên những lo sợ về mặt tâm lý, thí dụ lo sợ về một sự hủy bỏ tính nặc danh trong tương lai.”
Trong những điều kiện này, các thầy thuốc chuyên khoa PMA tự thấy khá bi quan về những khả năng thuyết phục những người hiến mới, ngoại trừ đề nghị với họ một số tiền bồi thường (indemnisation). Tuy nhiên đạo luật 2011 cho một câu trả lời bằng cách đề nghị những phụ nữ, chịu chấp nhận hiến những noãn bào của mình, khả năng bảo tồn chúng cho chính họ, bằng cách làm đông lạnh trong trường hợp họ sẽ cần đến sau này. Một cuộc cách mạng nhỏ, theo Hamamah ” sẽ cho phép những phụ nữ trẻ chưa có con đẫy lùi một ít những giới hạn của đồng hồ sinh học đồng thời làm một động tác hào hiệp”. Nhưng đạo luật áp dụng không được công bố.
Sau cùng, trong khoảng 10 năm nữa, khi vitrification (một phương thức đông lạnh nhanh) sẽ được sử dụng một cách thường quy, ” các cặp vô sinh, sau khi đã nhận một hỗ trợ y tế sinh sản (aide médicale à là procréation), cũng có thể, Emmanuelle Prada-Bordenave đã nhấn mạnh như vậy, cho những noãn bào đã không được sử dụng của họ vào cuối quá trình điều trị “.
(LE FIGARO 18/11/2013)

7/ UNG THƯ VÚ : CÔNG TÁC PHÁT HIỆN CÓ TỔ CHỨC BỊ TRÌ TRỆ.
Mặc dầu chiến dịch thông tin ” Octobre rose ” xảy ra mỗi năm, nhưng một phụ nữ trên ba không đáp ứng lời mời để được điều tra phát hiện.CANCEROLOGIE. ” Chụp tuyến vú (mammographie), đó là quan trọng. Nhưng tại sao phải đợi đến 50 tuổi ? Điều đó diễn ra như thế nào ? ” Ngay ngày mai, quý vị sẽ khám phá những câu hỏi này, được viết bằng chữ màu hồng chung quanh quý vị. Những câu hỏi sẽ được yết ở cửa hàng bán bánh mỳ, trên những túi giấy trong đó những ổ bánh mì của quý vị được đưa vào. Những câu hỏi này là dấu hiệu của chiến dịch 2013 ” Octobre rose”, nhằm huy động để đấu tranh chống lại bệnh ung thư vú và để cổ vũ chiến dịch phát hiện có tổ chức (dépistage organisé) của căn bệnh này. Được thiết đặt vào năm 2004, dưới sự chỉ đạo của Viện ung thư quốc gia (Inca : Institut national du cancer) và của Bộ y tế, sự điều tra phát hiện có tổ chức được dành cho tất cả những phụ nữa từ 50 đến 74 tuổi.
” Trước khi sự điều tra phát hiện có tổ chức được thiết đặt, 30% những phụ nữ liên hệ tự điều tra phát hiện với tính cách cá nhân. Ngày nay, tỷ lệ tham dự công tác này khoảng 53%. Nếu ta thêm vào đó 10 đến 15% những phụ nữ được điều tra phát hiện nhưng không đi vào trong chương trình có tổ chức, thì tổng cộng hai phụ nữ trên ba được điều tra phát hiện “, BS Jérome Viguier, giám đốc của pôle santé publique et soins de l’Inca đã giải thích như vậy.
Nhưng tỷ lệ tham gia này bị đình trệ. Nói một cách khác, một phụ nữ trên ba, ở Pháp, vẫn luôn luôn không được theo dõi hay một cách không đều đặn. Tuy vậy, sự điều tra phát hiện ung thư vú chắc chắn là công tác được những người Pháp biết rõ nhất : 98% những người trên 25 tuổi và 99% những phụ nữ từ 50 đến 74 tuổi đều hay biết về sự hiện hữu của công tác này. Médiatisation d’ “Octobre rose” có lẽ đã góp phần làm cho mọi người đều biết : những cuộc điều tra được tiến hành bởi Inca cho thấy rằng trong 3 thập niên qua, 80 -86% các phụ nữ nhớ một cách ngẫu nhiên là đã đọc, đã thấy hay đã nghe một chiến dịch về điều tra phát hiện ung thư vú… Vậy những kềm hãm không phải là do một sự hiểu biết tồi về sự bố trí được thiết đặt. Những kềm hãm này cũng không còn phải do những bất bình đẳng xã hội nữa. ” Nhờ sự liên kết của chiến dịch thông tin với việc gởi những courrier cho mỗi cá nhân, nên những trình độ xã hội-kinh tế và giáo dục không còn quan trọng nữa trong sự lựa chọn của các phụ nữ, theo baromètre cancer 2010 “, BS Jérome Viguier đã nhấn mạnh như vậy.
Ngược lại việc khó tiếp cận với những điều trị có vẻ như một cái hãm mạnh. Việc lấy hẹn, sự thông hiểu những kết quả, tình trạng cô lập xã hội hay địa lý có thể là những rào cản thật sự đối với vài phụ nữ. ” Khía cạnh tâm lý cũng phải được xét đến, BS Marc Espié, giám đốc của trung tâm của các bệnh của vú ở bệnh viện Saint-Louis (Paris) đã giải thích như vậy, tình trạng lo âu, sự sợ những kết quả, một thuyết định mệnh nào đó là bấy nhiêu những lý do khiến vài phụ nữ muốn tránh mammographie.”
Cái hãm khả dĩ khác, những cuộc tranh luận tái diễn về sự biện minh và tính hiệu quả của công tác điều tra phát hiện có tổ chức. Nhất là với cuộc tranh cãi liên quan đến những nguy cơ sur-diagnostic (chẩn đoán quá mức). Mục tiêu của công tác điều tra phát hiện là phát hiện những ung thư vú ở giai đoạn sớm. Tuy nhiên, vài thương tổn được phát hiện bởi mammographie sẽ không tiến triển thành bệnh trong suốt cuộc đời của các bệnh nhân. Sur-diagnostic chiếm khoảng dưới 10% những trường hợp ung thư vú được phát hiện. Những tranh luận đều đặn khác : ảnh hưởng của công tác điều tra phát hiện lên tỷ lệ tử vong của ung thư vú hay lại nữa nhưng ung thư vú gây nên bởi phóng xạ (cancer radio-induit).
Inca đã muốn biết những cuộc tranh luận này được cảm nhận như thế nào bởi các phụ nữ bằng cách hỏi 508 phụ nữ tuổi từ 50 đến 74. 1/4 trong số họ đã nghe nói đến những cuộc tranh luận này. Họ nói là nhớ những hạn chế của mammographie (17%), những nguy hiểm của các tia quang tuyến (16%), tần số quá cao và nguy hiểm của mammographie (11%) hay những “dương tính giả” (10%). ” Sur-diagnostic là một cuộc tranh cãi của các chuyên gia. Điều làm các phụ nữ quan tâm , trước hết đó là không bị sous-diagnostiqué rồi sur-traité khi ta khám phá ở họ một thương tổn”, BS Brigitte Seradour , người đã tổ chức sự thiết đặt dépistage organisé của ung thư vú đã bình luận như vậy.
Có lẽ, nhưng những phụ nữ sau khi đã nghe nói về những cuộc tranh luận này thì tham gia dè dặt hơn vào việc điều tra phát hiện : 56% trong số họ xác nhận rằng chiến dịch khiến họ đi chụp mammographie, trong khi tỷ lệ này là 60% khi họ đã không nghe nói đến. ” Những cuộc tranh luận này là độc hại. Trong tình trạng hiểu biết hiện nay, việc điều tra phát hiện ung thư vú là cần thiết. Chúng ta không có khả năng biết người phụ nữ nào sẽ phát triển hay không một ung thư vú. 2/3 những phụ nữ không có một yếu tố nguy cơ nào sẽ bị một ung thư vú “, BS Suzette Delaloge, thuộc Viện ung thư học Gustave-Roussy đã nhấn mạnh như vậy.
” Vấn đề thật sự, đó là ngày nay có hơn 50.000 trường hợp ung thư vú mỗi năm, và rằng có nhiều lợi ích hơn là nguy cơ để được điều tra phát hiện “, GS François Bourdillon, giáo sư về y tế cộng đồng thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière đã kết luận như vậy. Chỉ còn phải thuyết phục 33% những phụ nữ đã không tham gia công tác này.
(LE FIGARO 30/9/2013)

8/ CÓ ĐÚNG LÀ VIỆC ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN UNG THƯ VÚ CÓ NGUY CƠ ?
Nguy cơ phát triển một ung thư vú gây nên bởi bức xạ vô cùng thấp. Vậy nó không hề đặt lại vấn đề phát hiện điều tra. Thật ra, cuộc tranh luận về những lợi ích và nguy cơ không phải là mới ; nhưng mới đây sự tranh cãi được phát động trở lại sau sự công bố, vào tháng 10 2011, một công trình nghiên cứu của Pháp, tiet lo rang những mammographie gây nên những chỗ gãy trong ADN của những tế bào vú. Để đi đến những kết luận như vậy, Catherine Colin, thầy thuốc X quang của Hospices civils de Lyon, và Nicolas Foray, radiobiologiste thuộc Viện y tế và nghiên cứu y học quốc gia, cũng ở Lyon, đã sử dụng những tế bào vú lấy bằng sinh thiết ở 30 phụ nữ có hay không một tố bẩm gia đình đối với ung thư vú. Rồi, nhờ những mammographe, họ đã chiếu bức xạ những canh cấy tế bào này với những liều khác nhau, 2 milligrays (mGy), 2x 25 mGy cách nhau 3 phút (hoặc tương đương liều được nhận khi mammographie) và 4 mGy. NHỮNG THƯƠNG TỔN KHÔNG ĐẢO NGƯỢC CỦA ADN.
” Mặc dầu những liều bức xạ rất thấp, khoảng 10 lần ít hơn một scanner, chúng tôi đã quan sát rằng những tiếp xúc bức xạ do chụp tuyến vú gây nên trên những tế bào này những thương tổn của ADN không được sửa chữa sau 24 giờ và, điều gây ngạc nhiên hơn, tác dụng này supra-additif : hai phim chụp kế tiếp nhau không gây nên hai lần nhiều thương tổn hơn, mà từ 8 đến 22 lần nhiều hơn tùy theo các phụ nữ “, Nicolas Foray đã giải thích như vậy. Và hậu quả này cao hơn trên những mô được lấy ở những phụ nữ có nguy cơ, chính những phụ nữ này lại là những phụ nữ khả dĩ nhất chịu một số chụp hình ảnh tuyến vú quan trọng. Tuy nhiên, Catherine Colin nói, ” mặc dầu quả đúng là những thương tổn của ADN được sửa chữa không tốt làm gia tăng nguy cơ sinh biến dị (mutagenèse), rồi ung thư hóa (cancérisation), nhưng những quan sát của chúng tôi hiện nay chỉ được giới hạn vào sự phát hiện sự sinh ra và sự tồn tại của những chỗ gãy của ADN trong những tế bào bị bức xạ, và như vậy không có nghĩa một sự gia tăng nguy cơ ung thư do bức xạ (cancer radio-induit) “. Đối với Catherine Hill, nhà dịch tễ học thuộc Viện ung thư học Gustave Roussy, ở Villejuif, nguy cơ đúng là hiện hữu nhưng cực kỳ thấp.” Vào năm 2010, một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ đã tính toán rằng một mammographie mỗi năm, giữa 40 và 80 tuổi, được liên kết với một nguy cơ tử vong vì ung thư vú trên toàn cuộc đời là 20 đến 25 đối với 100.000 phụ nữ, hoặc ít hơn 0,03%, bà ta đã giải thích như vậy. ” Nguy cơ chết vì một ung thư không được phát hiện cao hơn nhiều nguy cơ chết vì một ung thư gây nên bởi bức xạ, Jérome Viguier, phụ trách khoa điều tra phát hiện thuộc viện ung thư quốc gia đã xác nhận như vậy. Thật vậy, công trình nghiên cứu này tuyệt đối không xét lại chương trình điều tra phát hiện của ung thư vú. ” Chương trình này, được phổ biến vào năm 2004, yêu cầu tất cả các phụ nữ từ 50 đến 74 tuổi thực hiện, mỗi hai năm, một mammographie. Ngược lại, ông nói, ” công trình nghiên cứu này yêu cầu thận trọng hơn. Ở những phụ nữ có nguy cơ cao, nhất là những phụ nữ mang một biến dị của những gène BRCA1 và BRCA2 mà hiện nay ta kê đơn một mammographie và một IRM, nhưng vài công trình nghiên cứu có khuynh hướng cho thấy rằng IRM, thăm dò không phát bức xạ, có thể là đủ.”
HẠN CHẾ NHỮNG MAMMOGRAPHIE
Về phía mình, Nicolas Foray và Catherine Colin gợi ý chỉ thực hiện một phim chụp độc nhất (nghiêng) cho mỗi vú thay vì hai (tư thế thẳng và bên). ” Nếu không có một yếu tố nguy cơ đặc biệt nào được nhận diện, không có lý lẽ để thực hiện một mammographie trước 50 tuổi và/hoặc hơn một lần mỗi 2 năm “, Jérome Viguier đã nói chư vậy. Nhất là bởi vì giữa 40 và 50 tuổi, có một nguy cơ surdiagnostic quan trọng. Quá 50 tuổi, ngược lại, cán cân lợi ích/nguy cơ sẽ nghiêng về phía điều tra phát hiện.
” Sự phân tích các thử nghiệm, trong đó một nửa số người tham dự được kêu gọi để được điều tra phát hiện, và một nửa thì không, cho thấy rằng việc kêu gọi điều tra phát hiện làm giảm 15% tỷ lệ tử vong bởi ung thư vú. Một con số tăng lên 20% ở những phụ nữ thật sự được điều tra phát hiện, Catherine Hill đã xác nhận như vậy. Nếu xét rằng, trong 10 năm, nguy cơ tử vong do ung thư vú là 4,2 đối với 1000 trường hợp ở lứa tuổi 50, sự điều tra phát hiện 1000 phụ nữ cho phép tránh 1 tử vong trong 10 năm. Ở tuổi 60, con số này xuống còn 600 phụ nữ được điều tra phát hiện để tránh một trường hợp tử vong “. Mặt khác, thay cho lời kết luận, Jérome Viguier nói thêm, ” sự điều tra phát hiện cũng cho phép làm giảm morbidité : một ung thư được phát hiện sớm, điều đó cũng có nghĩa một điều trị ít nặng nề và ít cắt xẻo hơn “.
(SCIENCE & VIE : QUESTIONS ET REPONSES)

9/ SỰ TIẾN BỘ CỦA PHÁT HIỆN NHỮNG BỆNH LÚC SINH
Chẳng bao lâu nữa khoảng 501 bệnh lý có thể được phát hiện.
PREVENTION. Vài giọt máu, lấy ở gót chân của em bé mới sinh được 4 ngày, rồi gởi cho phòng xét nghiệm trên một mẫu giấy thấm, đã biến đổi cuộc đời của hàng ngàn trẻ em. Trắc nghiệm Guthrie, tên của nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã hiệu chính kỹ thuật này, hiện nay cho phép phát hiện 5 căn bệnh hiếm, có tiềm năng rất nghiêm trọng.Được thực hiện trong tất cả những nhà hộ sinh, động tác lấy máu này dường như gần như tầm thường. Tuy vậy đó là một thành công của hệ điều trị của Pháp, đã thiết đặt nó cách nay 40 năm. Thế mà những tiến bộ của kỹ thuật học, mở rộng con số những bệnh lý rất hiếm khả dĩ được phát hiện lên đến 50, làm cho hôm nay một sự tiến triển của dispositif này trở nên cần thiết. ” Sự cải tiến này nêu lên nhiều vấn đề đạo đức và thực hành mà chúng ta phải chuẩn bị “, GS Michel Roussey, chủ tịch của Hiệp hội Pháp về điều tra phát hiện và phòng ngừa những phế tật của trẻ em đã phân tích như vậy.
Trong 40 năm, gần 30 triệu trẻ em đã hưởng được chương trình này. Đối với hơn 18.000 trong số những trẻ em này, một bệnh lý đã có thể được khám phá đúng lúc.
Nếu không có sự điều tra phát hiện một cách hệ thống này, Marie Balança-Devaux sẽ không bao giờ có được văn bằng kỹ sư hàng hải (ingénieur aéronautique). ” Có lẽ tôi sẽ không lập gia đình và không bao giờ mơ đến một cuộc sống gia đình như tôi có hôm nay, người phụ nữ trẻ đã nói như vậy. Đối với bố mẹ của tôi, mọi chuyện đáng lẽ ra sẽ khác hẳn.” Cách nay 28 năm, trắc nghiệm Guthrie của Marie đã trở nên dương tính. Lúc đi ra khỏi nhà hộ sinh, bố mẹ của Marie được biết rằng đứa trẻ mới sinh bị phénylcétonurie, một bệnh chuyển hóa sẽ gây nên thiểu năng tâm thần nặng nếu đứa trẻ không được điều trị sớm. Bố mẹ của Marie sẽ không bao giờ nhận thấy điều đó, bởi vì Marie dường như rất mạnh khỏe, nhưng cơ thể của Marie không thể biến đổi phénylalanine, hiện diện trong nhiều thức ăn, và ngăn cản não bộ phát triển bình thường.
THÔNG BÁO GIẢ ĐỊNH
Nhờ một chế độ rất nghiêm túc, được thiết đặt ngay tháng đầu tiên của đời sống, tương lai của Marie sẽ được đảm bảo. ” Đối với căn bệnh này, thật sự đó hoặc là tất cả hoặc là không gì hết, bà mẹ cua Marie đã làm chứng như vậy. Nếu không được phát hiện, đó là tình trạng suy độn (débilité). Được phát hiện và được điều trị đúng đắn, mọi chuyện sẽ tốt đẹp…Chúng tôi có nhiều may mắn.”
Gây bệnh cho một trẻ sơ sinh trên 16.000, phénylcétonurie là bệnh lý đầu tiên được đưa vào trong chương trình quốc gia. Từ đó 4 bệnh lý khác đã đến bổ sung”. ” Có những tiêu chuẩn nghiêm túc để đưa vào chương trình một căn bệnh, GS Frédéric Huet, thầy thuốc nhi khoa thuộc CHU de Dijon đã xác nhận như vậy. Căn bệnh phải đặc biệt có thể phát hiện được một cách đáng tin cậy mặc dầu không có những triệu chứng và phải có thể được điều trị trước khi xuất hiện những thương tổn không thể đảo nghịch được.”
Sự điều tra phát hiện hệ thống cũng đòi hỏi một đả thông vững chắc đối với gia đình, bởi vì “test du buvard” không bắt buộc. Tuy nhiên những từ chối là ngoại lệ. ” Những đứa trẻ được phát hiện và gia đình của chúng sau đó phải được điều trị một cách thích ứng, rồi được theo dõi lâu dài “, GS Huet đã nói thêm như vậy.
Với một phí tổn trung bình 10 euro đối với một đứa bé, hoàn toàn được tài trợ bởi Assurance-maladie, dispositif Pháp rất hiệu năng đối với tập thể. ” Tổ chức của chúng tôi đã chứng tỏ hiệu quả, bởi vì nó đảm bảo sự công bằng và lợi ích của đứa trẻ “, GS Roussey đã nhấn mạnh như vậy.
Ý KIẾN THUẬN LỢI CỦA BỘ Y TẾ
Do đó được đặt ra vấn đề hiệu chính một kỹ thuật học mới, spectrométrie de masse en tandem, cho phép phát hiện ít nhất khoảng 50 căn bệnh chỉ với một giọt máu. Nhiều nước đã sử dụng máy này, như Áo phát hiện 29 bệnh lý. Kỹ thuật đặc biệt cho phép phát hiện sự thiếu hụt MACD, một căn bệnh chuyển hóa hiếm, được biểu hiện bởi những cơn mất bù có thể gây tử vong trong trường hợp nhịn đói.
Vào năm 2011, Bộ Y Tế đã thông qua một ý kiến thuận lợi cho việc đưa sự phát hiện mới này vào nước Pháp. Trước hết cần phải trang bị các phòng xét nghiệm. Khi đó con đường sẽ được mở ra cho việc phát hiện nhiều bệnh lý chuyển hóa khác, một vài bệnh vô cùng hiếm, những bệnh khác không có điều trị hiệu quả.
Theo GS Roussey, “chương trình sẽ được mở rộng trong những năm đến cho những bệnh mới, với điều kiện ta tôn trọng những tiêu chuẩn hiện hành từ 40 năm qua, nghĩa là đó là những bệnh rất được biết rõ, tiến triển nặng và có thể được điều trị để cho phép những đứa bé sống tốt hơn và lâu hơn..”
(LE FIGARO 14/1/2013)

10/ AUGUSTE NELATO : VẪN CÒN HIỆN DIỆN TRONG CÁC BỆNH VIỆN
Một ống thông (sonde) 3 euro, một cathéter 3 centimes. Đó là những sonde de Nélaton rẻ tiền vẫn còn được bán một cách đều đặn, 200 năm sau khi chúng được phát minh. Với tốc độ của những tiến bộ y khoa, đó không phải là không đáng kể lắm đối với một thầy thuốc ngoại khoa tuyệt vời.Auguste Nélaton sinh ở Paris năm 1807 trong một gia đình thợ thuyền. Ông học ở lycée Bourbon trước khi bắt đầu học y khoa lúc 21 tuổi. Ông là ngoại trú trong khoa của Dupuytren rồi giành được văn bằng doctorat vào năm 29 tuổi nhờ một luận án về bệnh lao xương. Ông sẽ trải qua cả sự nghiệp của mình ở Paris và đặc biệt ở bệnh viện Saint-Louis, ở đây ông được bổ nhiệm professeur agréé lúc 32 tuổi sau thành công của ” Traité des tumeurs de la mamelle “.
Vào năm 43 tuổi, ông thử thời vận trong cuộc thi tuyển vào ghế giáo sư ngoại khoa nhưng ông thi hỏng. Tuy nhiên năm sau ông được chọn để giảng dạy ngoại khoa lâm sàng bởi vì luận án của ông, được bảo vệ cật lực, lôi kéo sự chú ý đến độ được dịch ra nhanh chóng bằng tiếng Đức. Nélaton vẫn còn ở lại vài năm ở Saint-Louis trước khi đến Hopital des cliniques của đại học y khoa Paris.
NHỮNG PHÁT MINH TÀI TÌNH.
Ở bệnh viện Saint-Louis, ông sáng tạo một số nào đó những thực hành ngoại khoa độc đáo. Thí dụ ông là người đầu tiên gợi ý cột hai đầu của một động mạch trong trường hợp xuất huyết và phát triển nhiều giai đoạn của chirurgie plastique. Sự nổi tiếng của ông tăng lên ngày ông sử dụng stylet recouvert de porcelaine để xác định vị trí của viên đạn trong chân của Garibaldi, vị anh hùng của tự do người Ý. Các đồng nghiệp của ông khẳng sinh một khi viên đạn được lấy ra thì việc cắt cụt sẽ không thể tránh được. Nélaton chứng tỏ với họ điều trái lại, tuy nhiên ông để cho những đồng nghiệp người Ý công việc lấy viên đạn ra. Ngoài ra, phần lớn những cải tiến mà cá nhân ông đã nghĩ ra lại được thực thi bởi những người khác.
Cathéter mang tên ông sẽ được hãng Goodyear phát minh phuong thức vulcaniqation du caoutchouc. Ngày nay cathéter vẫn còn bằng cao su đỏ, tận cùng bằng một đầu rắn được đâm thủng bởi một con mắt. Những di sản khác mang tên ông được ít biết hơn liên quan một kyste trong xương, một vết loét xuyên lòng bàn chân (ulcère perforant plantaire) và thủ thuật cho phép nắn những sai khớp của hàm dưới.
CHUỖI DÀI VINH DỰ
Auguste Nélaton là người tiền phong của phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng (ovariectomie) ở Pháp. Ông mô tả hématocèle rétroutérine và, trong một lãnh vực khác, cải thiện điều trị những khối u vùng mũi họng (tumeurs nasopharyngiennes). Một vài trong những đề nghị ngoại khoa của ông rõ ràng là những tiến bộ quan trọng. Ông được công nhận là đại giáo sư ngoại khoa (grand professeur de chirurgie) và là một phẫu thuật viên thành thạo.
Vào năm 56 tuổi, ông là thành viên của Viện hàn lâm y học, vào năm 60 tuổi là thành viên của Institut và Académie des sciences. Năm sau, ông trở thành sénateur impérial. Nélaton, mặc dầu khiêm nhường và không có tham vọng quá mức, cũng đánh giá sự công nhận này, bởi vì chiếc ghế mà ông từng hy vọng sau cũng được trao cho ông. Còn hơn thế nữa, Napoléon III chọn ông như là chirurgien personnel và ban cho ông distinction de grand officier de la Légion d’honneur (người được thưởng huân chương Bắc Đẩu bội tinh).
CHÂN DUNG RIÊNG TƯ
Nélaton là một con người khiêm tốn và rộng rãi. Nhân cách hiền dịu của ông làm ông được bệnh nhân, sinh viên và bạn bè thương mến. Không sáng tác nhiều, ông chỉ để lại vài travaux écrits. Vinh quang của ông, với tư cách tác giả, chủ yếu dựa trên 5 volume ” Eléments de Pathologie Chirurgicale “. Tuy nhiên ông đóng góp quan trọng vào sự chuẩn bị cho một Rapport sur le Progrès de Chirurgie en France.
Theo các nhà sử học, đó không phải là một thiên tài nhưng là một phẫu thuật viên xuất sắc và là một giáo sư đáng tin cậy, không bao giờ ứng biến chẩn đoán hay điều trị, luôn luôn đánh giá tình hình theo những phương pháp khoa học nghiêm túc. Điều đáng ngạc nhiên là mặc dầu ông được đánh giá như thế vào thời đại của ông, ông lại ít muốn tìm cách nổi hơn hay vượt qua những kẻ khác, trái với người đã từng là mentor của ông khi ông theo học, Guillaume Dupuytren.
Mặc dầu giàu có, Nélaton sống giản dị với vợ và 4 con và yêu cầu lễ táng không được huy hoàng và không đọc diễn văn. Bị bệnh tim và thận, ông mất năm 64 tuổi và nằm yên nghỉ ở nghĩa trang Père Lachaise.
Julius Pagel, nhà sử học Đức về y khoa, nói về ông trong Dictionnaire Biographique des Médecins en vue du Dix-neuvième siècle : ” Ông là một người có phán đoán rõ ràng, có kinh nghiệm chín mùi, có sự khôn ngoan vững chắc và ông giữ một cách chính đáng vị trí của thầy thuốc ngoại khoa vĩ đại nhất trong số những thầy thuốc ngoại khoa của Pháp của thế kỷ thứ 19 “.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 13/12/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(27/12/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s