Thời sự y học số 329 – BS Nguyễn Văn Thịnh

scoliose1/ HIỂU TẤT CẢ VỀ ĐAU LƯNG.

                                NHỮNG CON SỐ
80% những người Pháp đang bị và sẽ bị đau lưng.
 20% những trường hợp nghỉ việc là do đau lưng
 30 triệu : con số những ngày lao động bị mất mỗi năm
 2 tỉ euro tổn phí trực tiếp được ước tính của đau lưng ở Pháp.

Thoát vị đĩa (hernie discale), gãy, vẹo cột sống (scoliose) … Những đau thắt lưng (lombalgie) mà 8 người Pháp trên 10 bị, có nhiều nguyên nhân. Có nên mổ hay không ? Những hướng điều trị mới, không dùng đến dao mổ, có thể cho phép chống lại những bệnh này, nguyên nhân của những triệu chứng đau gây tàn phế (douleur invalidante).
Nguyên nhân đầu tiên của tình trạng tàn tật (invalidité) trước tuổi 45, đau lưng (mal au dos) là động cơ thứ hai của consultation en médecine générale, đứng giữa những trường hợp đau đầu và đau bụng ! 80% những người Pháp đã bị, đang bị hay sẽ bị đau lưng vào một ngày nào đó. Ta biết 4 nguyên nhân chính : sự lão hóa (viellissement) và tình trạng tăng thể trọng (surcharge), những yếu tố làm mòn ; tình trạng ít hoạt động (sédentarité), nguồn của yếu cơ ; stress, nguồn gốc của những căng cơ. Để hiểu rõ, phải biết rằng hàng triệu những cử động tác động lên cột sống, cái cọc đỡ hình chữ S ngược nâng đỡ và làm cử động toàn bộ cơ thể. Mỗi người trong chúng ta nghiêng mình gần 2000 lần mỗi ngày ! Thế mà 1/3 những tư thế có hại bởi vì không được thích ứng. Phần lớn những cử động này được kiểm soát bởi nhiều cơ, như những dây néo của một thuyền buồm, đảm bảo sự vững vàng của phần trên của cơ thể. Nhưng những dây chằng và các đĩa chèn giữa 24 đốt sống di động của cột sống (kể cả 7 cột sống cổ). Không quên những dây thần kinh, phát xuất từ tủy sống, ló ra giữa các đốt sống và mang lại cho vùng tất cả cảm giác và như vậy tính chất đau đớn của nó.
Ngoài ra tính chất phức tạp cơ thể học này cần , sự việc hiếm trong y khoa, rất nhiều năng lực : năng lực của những thầy thuốc khoa thấp khớp (rhumatologue), những thầy thuốc chuyên khoa thần kinh (neurologue), những thầy thuốc X quang (radiologue), những thầy thuốc giải phẫu chỉnh hình (chirurgien orthopédiste), những thầy thuốc ngoại thần kinh, những masseur-kinésithérapeute và những nhà chuyên nghiệp khác về thủ pháp (approche manuelle), mà các bệnh nhân sẵn sàng hướng về họ để được làm thuyên giảm cái lưng đau xé của họ. Đứng trướng một chứng đau lưng (lumbago) hay một đau dây thần kinh tọa (sciatique), điều trị cổ điển nói chung là đủ để làm giảm đau : nghỉ ngơi, những thuốc làm duỗi cơ (décontracturant musculaire), những thuốc giảm đau. Bởi vì, thường nhất, đau được khu trú ở các cơ, bị co lại quá mức và được gọi là tăng sức trương cơ (hypertonie musculaire), thí dụ đó stress, mặc dầu không có một cấu trúc nào khác bị thương tổn. Nhưng tất cả thay đổi nếu các đĩa liên đốt sống bị thương tổn. Thật vậy, được bố trí giữa các đốt sống, chúng đóng một vài trò không thể thay thế được : vài trò của các bộ phận giảm xóc (amortisseur). Bí quyết của sự hoạt động của các đĩa liên đốt sống được giải thích bởi cấu trúc nội tại của chúng.NHỮNG ĐĨA LIÊN ĐỐT SỐNG RẤT BỊ BIẾN DẠNG.
Nằm gần sụn, các đĩa liên đốt sống 80% được cấu tạo bởi nước, collagène, protéine và những tế bào. ..Thế mà dung lượng nước của chúng liên kết trực tiếp với những lực tác động lên chúng và thay đổi tùy theo tư thế của cơ thể. Những đo lường đã được xác lập ngay những năm 1960 nhờ những công trình độc đáo của một người Thụy Điển, BS Alf Nachemson. Nhà tiền phong này, một nhân vật nổi tiếng thế giới về cột sống, đã quan tâm đến áp lực tác động lên các đĩa theo những quan sát được thực hiện trên các tử thi và in vivo trên những bệnh nhân lúc mổ. Ví dụ, ông đã chứng minh rằng tư thế ngồi làm gia tăng 40% những áp lực. Hay ông còn chứng minh rằng ta có thể chuyển từ 1 bar, trị số thấp nhất được nhận thấy ở tư thế nằm ngửa, lên 5 bar lúc đứng và lên đến 23 bar trong một trường hợp mang một trọng lượng 20 kilos với một lưng còng lại…nhưng rằng trị số này có thể giảm còn 17 khi ta gấp đầu gối. Thật vậy, lúc mang một trọng lượng, các đĩa bị biến dạng một cách đáng kể, bị đè ép hay nở ra tùy theo chúng thích ứng với những cử động gấp hay uỡn của cột sống. Và nếu quá trình phục hồi, tư thế nằm dài, không xảy ra hay kéo dài quá, các đĩa sẽ bị thương tổn.
Những công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng, trong 24 giờ, kích thước của các đĩa thay đổi từ 1 đến 2 cm và rằng chúng ta lúc thức lớn hơn là lúc ngủ !
Và, do bị thôi thúc mãi, cấu trúc này cuối cùng có thể bị hỏng… Thật vậy, khi một đĩa hóa sợi và cứng ở ngoại biên, và rất mềm ở bên trong, nó có thể bị nứt ở phần ngoài dưới tác dụng của một gắng sức đơn nhất, không nhất thiết mạnh mẽ, hay do những ứng lực lặp đi lặp lại. Do đó, phần trung tâm có thể trượt và lòi ra trong ống sống (canal rachidien), gần sát với những rễ thần kinh, những rễ của dây thần kinh tọa. ..Đó là thoát vị đĩa (hernie discale).“Từ lâu được xem là thuần cơ học, ngày nay ta biết rằng đau cũng có nguồn gốc hóa học, liên quan với một sự tiết tại chỗ cytokines”, BS Sylvie Rozenberg, thầy thuốc khoa thấp khớp thuộc bệnh viện La Pitié-Salpêtrière (Paris) đã nói rõ như vậy.
Trong những trường hợp khác, đĩa không trượt ra ngoài cấu trúc của nó nhưng bị hao mòn : cột sống trở nên bị đau.” Đau càng trở nên phức tạp để cởi nút và điều trị khi những yếu tố sinh bệnh nhiều và nhằng nhịt “, GS Christian Mazel, thầy thuốc ngoại khoa, trưởng pôle orthopédie thuộc Institut mutualiste Montsouris (Paris) đã tóm tắt như vậy. Bởi vì ngoài 4 nguyên nhân thường gặp nhất đã được nêu lên, còn thêm vào những yếu tố khác : những ứng lực lặp đi lặp lại trong công việc (mang những gánh nặng, những cử động lặp đi lặp lại, những chấn động…), những di chứng của một chấn thương (tai nạn, thể thao), một chứng loãng xương yếu tố gây gãy xương đốt sống, một hư khớp, một biến dạng loại vẹo cột sống, một bệnh phong thấp tiến triển…
CÁC THẦY THUỐC CŨNG VẤP PHẢI NHỮNG THÀNH KIẾN
Một hằng số : điều trị sẽ luôn luôn dài và phức tạp. ” Điều quan trọng là hiểu rõ nguồn gốc của đau trước khi chắc chắn có một điều trị ngoại khoa hiệu quả “, GS Jérome Allain, thầy thuốc ngoại khoa, chủ tịch Institut de rachis và trưởng khoa chỉnh hình thuộc bệnh viện Henri-Mondor (Créteil, Val-de-Marne) đã nhấn mạnh như vậy. Bởi vì những thầy thuốc thực hành đụng phải một khó khăn đặc thù đối với bệnh đau lưng : những định kiến của nhiều bệnh nhân. ” Niềm tin sai lạc, liên kết thoát vị với một sự nhờ đến ngoại khoa một cách hệ thống, rất là phổ biến “, BS Rozenberg đã chỉ rõ như vậy. Thế mà điều đó là sai ! ” Trong khoảng một trường hợp trên hai, không những thoái vị thoái triển một cách ngẫu nhiên mà nó còn có thể thấy được lúc chụp hình ảnh mặc dầu bệnh nhân không thấy đau “, nhà chuyên khoa đã nói tiếp như vậy. Ngoài ra, những thoát vị mà ta mổ là hiếm.
Chướng ngại khác : điều cảm nhận của các bệnh nhân.” Họ thường gán nguyên nhân đầu tiên của chứng đau lưng của họ cho công việc làm, cho ông chủ… BS Rozenberg đã xác nhận như vậy. Nói tóm lại cho những người khác hơn là cho chính mình. Thế mà, sự cải thiện luôn luôn thuận lợi hơn khi bệnh nhân nghĩ mình có liên hệ.” Ngay cả phải ” biết nghe điều mà một cái lưng đau “nói” và không được lơ là những yếu tố tâm lý-xã hội “, Marie-Claude Carreau Defontaine, nhà tâm lý học ở Lille đã xác nhận như vậy
Sau cùng, 90 đến 95% những bệnh nhân bị đau thắt lưng sẽ không phải qua phòng mổ. Và 5 đến 10% sẽ được mổ với một hiệu quả khoảng 85%. Và luôn luôn sau một sự chọn lọc rất nghiêm túc, bằng những bảng câu hỏi tự danh giá (questionnaire d’autoévaluation), nhằm đo lường ảnh hưởng của đau và phế tật lên cuộc sống hàng ngày. Điều này cho phép xác lập những thang điểm, được thêm vào những dữ kiện của phân tích hồ sơ và những phim chụp hình ảnh. Sau đó équipe médicale có thể cho ý kiến, bằng cách cân nhắc những nguy cơ gặp phải đứng trước những lợi ích được mong chờ. ” Phẫu thuật lưng phải là trường hợp ngoại lệ và không được xem là một thuốc trị bách bệnh “, GS Mazel đã nhấn mạnh như vậy. Vì lẽ những động tác, ngay cả được thực hiện bởi những bàn tay của các chuyên gia, dĩ nhiên không phải là không có nguy cơ gây những biến chứng. ” Dưới 0,5% đối với những nguy cơ thần kinh “, BS Christian Garreau de Louvresse, thầy thuốc ngoại khoa của khoa chỉnh hình thuộc bệnh viện Raymond-Carré à Garches (Hauts-de-Seine) đã đánh giá như vậy. Vậy tránh đừng để cho đau lưng xuất hiện vẫn là một ưu tiên, do đó cần muscler nó. Bởi vì lưng được dùng để vận động. Và để ở trong tình trạng sức khoẻ tốt, lưng phải cử động.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2013)

2/ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM : NHỮNG MŨI TIÊM NGẤM CHỈ LÀM THUYÊN GIẢM TẠM THỜI.
Được sử dụng từ hơn 50 năm nay đứng trước những đau vùng thắt lưng (douleur lombaire) và đau dây thần kinh tọa đề kháng, nhiều trăm ngàn mũi tiêm ngấm (infiltration) được thực hiện mỗi năm ở Pháp. Mặc dầu những tỷ lệ rất hiếm bị các biến chứng (khoảng 1 trên 10.000), tuy nhiên chúng vẫn gây lo sợ cho các bệnh nhân. Được đề nghị trong trường hợp thất bại của điều trị nội khoa, những mũi tiêm những chất kháng viêm dẫn xuất của cortisone được thực hiện ở nơi gần nhất của vùng đau. Nhưng hết mũi tiêm ngấm này lại đến mũi tiêm ngấm khác.” Được thực hiện tại phòng mạch của rhumatologue, chúng thường không có tác dụng gì nhiều”, GS Christian Mazel, thầy thuốc ngoại khoa, phụ trách khoa chỉnh hình thuộc Institut mutualiste Montsouris (Paris) đã đảm bảo như vậy.” Nhưng sự thực hiện bởi một thầy thuốc quang tuyến với radioguidage chính xác có thể cải thiện tính hiệu quả của chúng. Như thế các mũi tiêm ngấm có thể cho phép qua được một giai đoạn khó khăn “, BS Gérard Morvan, thầy thuốc X quang (Paris) đã nói rõ như vậy. Trên thực hành chỉ cần dưới 20 phút là đủ. ” Chúng tôi yêu cầu bệnh nhân sau đó nằm dài trong 48 giờ để thuốc bảo tồn nồng độ cực đại ở vùng liên quan và tác dụng mà không bị phân tán “, thầy thuốc X quang đã xác nhận như vậy. Tuy nhiên nhiều ẩn số vẫn còn tồn tại. Cần phải thực hiện bao nhiêu mũi tiêm ngấm ? Với nhịp độ nào, với liều lượng nào ? Trên thực hành, một tối đa 3 mũi tiêm mỗi năm được thực hiện nhưng không có một câu trả lời rõ ràng nào đã được đưa ra cho đến nay bởi y liệu.” Ta chỉ biết rằng chúng không làm giảm sự nhờ đến ngoại khoa, không đẫy nhanh sự tái tục công việc nhưng làm thuyên giảm trong một thời gian ngắn “, BS Sylvie Rozenberg, thầy thuốc khoa thấp khớp thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière (Paris) đã xác nhận như vậy.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2013)

3/ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM : NGOẠI KHOA VẪN LÀ NGOẠI LỆ : CHỈ 10% NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC MỔ.
Phần lớn các bệnh nhân bị lombalgie không phải đi qua phòng mổ. Có nhiều giải pháp thay thế trước khi buộc phải phẫu thuật.
Trên 100.000 trường hợp được thống kê mỗi năm ở Pháp, cán bệnh phần lớn (90%) nằm giữa hai đốt sống thắt lưng cuối ở phần thấp của cột sống. Những đĩa đệm này bị đòi hỏi sử dụng nhất và do đó bị thương tổn nhiều hơn. Dưới tác dụng của một lực ép (effort de compression) quá quan trọng, một tư thế xấu, đĩa bị đè bẹp. Và nếu các sợi của cấu trúc ngoài nhất của nó (annulus fibrosus : vòng xơ) bị rách, nhân mềm và keo (gélatineux) (nucleus pulposus : nhân keo) có thể bị đè ép và lòi ra trong ống sống (canal rachidien), được tạo nên do sự xếp chồng lên nhau của các đốt sống, chứa tủy sống. Thoát vị đĩa đệm này, có thể thấy được trên những phim X quang mà không nhất thiết kèm theo đau.” Nếu ta thực hiện những chụp cộng hưởng từ (IRM) một cách hệ thống, ta sẽ tìm thấy những thoát vị đĩa đệm ở 30 đến 50% dân số “, BS Sylvie Rozenberg (bệnh viện La Pitié-Salpetrière, Paris) đã báo cáo như vậy. Bởi vì đau chỉ xuất hiện nếu các mảnh của đĩa đệm kích thích hay đè ép những rễ của những dây thần kinh tọa hay đùi hiện diện ở mức này.
” Mục tiêu là hủy bỏ sự đau đớn, chứ không phải thoát vị đĩa đệm “, BS Rozenberg đã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy rất ít thoát vị đĩa đệm (10%) cuối cùng phải mổ và chỉ những thoát vị gây đau dữ dội và gây những triệu chứng đè ép (khó tiểu) hay bại liệt. ” Thầy thuốc ngoại khoa khi đó can thiệp cấp cứu để lấy đi những mảnh kích thích của đĩa đệm để làm mất sự đè ép, việc làm thông thường là không đụng đến phần còn lại của đĩa đệm “, BS Steffen Queinnec, thầy thuốc ngoại khoa thuộc bệnh viện Beaujon, Chichy (Hauts-de-Seine) đã xác nhận như vậy. Trung bình tỷ lệ hiệu quả là 80% với những đau hậu phẫu có thể thay đổi về cường độ và thời gian. Những kỹ thuật mổ cũng tiến triển. Từ lâu, những đường rạch đã là rộng (15cm). Nhưng, với kỷ nguyên của vi xâm nhập, chúng được giảm còn một nửa nhờ sử dụng những tube nhằm tách các cơ lúc mổ thay vì phải cắt chúng. Những phương pháp tối thiểu này (approche à minima) không được nhất trí vì không một công trình nghiên cứu khoa học nào đã thật sự chứng minh tính ưu việt của nó. Rất được thịnh hành cách nay 20 năm, kỹ thuật được gọi là chimionucléolyse du noyau (phá hủy nhân bằng papaine, một enzyme) đã bị bỏ vì những nguy cơ dị ứng.Những phương pháp khác tác động trực tiếp lên đĩa đệm đang trong giai đoạn trắc nghiệm (laser, ozone, những dung dịch hóa học).
(SCIENCES ET AVENIR 12/2013)

4/ CÓ PHẢI LUÔN LUÔN ĐIỀU TRỊ CÁC THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM BẰNG PHUƠNG PHÁP NGOẠI KHOA ?

Professeur Joel Menkès
Rhumatologue
Membre de l’Académie nationale de médecine.

Ta ước tính rằng 60% đến 80% dân số bị đau lưng ít nhất một lần trong cuộc đời. Trong phần lớn các trường hợp, đau khu trú ở phần thấp của lưng, tương ứng với những đốt sống thắt lưng (vertèbre lombaire). Những rối loạn này đặc biệt thường gặp trong consultation de rhumatologie nhưng cũng ở phòng mạch của những thầy thuốc đa khoa. Phí tổn xã hội kinh tế của chúng là quan trọng bởi vì những lombalgie này chiếm khoảng 20% những trường hợp nghỉ việc và 7% những tai nạn lao động, với những di chứng thường khó.
Yếu tố cảm xúc (charge émotionnelle) nối thương tổn của cột sống với cá nhân người bệnh liên quan với hai mối sợ quan trọng : bại liệt hay ung thư mà các thầy thuốc không phát hiện được. Những lo sợ này hiếm khi được biểu lộ và thường dựa trên sự hiểu biết một trường hợp điển hình ở những người quen.
Sự điều trị đau lưng đòi hỏi thời gian để nghe những lời kêu ca của bệnh nhân, kinh nghiệm và một thăm khám chăm chú. Nguồn gốc của một đau cột sống càng khó xác lập khi không có sự tương quan giữa cường độ đau và dạng vẻ X quang.
Đĩa liên đốt sống (hay đĩa đệm) là một sụn đặc biệt có một vai trò giảm xóc (amortisseur) với một phần ngoại biên cứng hơn, annulus fibrosus (vòng sợi), và một phần trung tâm ngấm nước, nucléus populsus (nhân keo). Những ứng lực (contrainte) và sự lặp lại của những gắng sức sẽ gây nên những vết nứt với hậu quả là sự di chuyển của nhân keo : đó là thoát vị đĩa đệm (hernie discale).
Bắt đầu từ 40 tuổi, thoát vị đĩa đệm được liên kết với những thương tổn hư khớp ít nhiều lan rộng và được đặc trưng bởi một sự phá hủy sụn với những cấu trúc xương, những ostéophyte.
Thoát vị đĩa đệm không thể thấy được trên những phim chụp X quang, được thực hiện chủ yếu để không bỏ sót một thương tổn khối u, ung thư, một spondylarthrite ankylosante hay một nhiễm trùng đĩa-đốt sống. Chụp hình ảnh hiện đại, chụp cắt lớp vi tính hay chụp cộng hưởng từ, cho phép chứng tỏ sự hiện diện cơ thể học của thoát vị đĩa đệm, nhưng không đưa ra một kết luận cơ thể học nào về những hậu quả lâm sàng của nó.
NHỮNG CẤU TRÚC THẦN KINH.
Đau lưng có thể lan tỏa, tùy theo định vị của thoát vị đĩa đệm, về phía sau đùi và cẳng chân, đó là sciatique, hay về phía trước đùi, đó là névralgie du nerf crural. Phải biết rằng trong hơn 80% các trường hợp, đã biết mất một cách ngẫu nhiên trong một thời hạn có thể lên đến 6 tháng.
Hiếm có những trường hợp cần đến một can thiệp ngoại khoa tức thời. Có thể đó là một cơn đau rất dữ dội, đề kháng với các thuốc giảm đau quan trọng với tình trạng mất năng lực hay nhất là những biến chứng thần kinh tiến triển. Những biến chứng thần kinh này bao gồm, ở những mức độ khác nhau, những rối loạn cơ vòng (trouble sphinctérien) và những bại liệt chi dưới, tùy thuộc nơi của thoát vị đĩa. Những rối loạn đường tiểu phải khiến xét đến tức thời một can thiệp. Những bại liệt khởi đầu có thể được điều trị bằng thuốc ngoại trừ ta chứng thực một sự gia trọng dần dần.
Dầu kỹ thuật được sử dụng là gì, can thiệp ngoại khoa có mục tiêu làm giảm ép những cấu trúc thần kinh trọng ống sống. Ở một người trẻ, vài tác giả đã đề nghị bổ sung nạo đĩa đệm (curetage discal) với sự thiết đặt một đĩa giả liên đốt sống (prothèse discal intervertébral). Lợi ích của kỹ thuật này vẫn còn được bàn cãi.
Phẫu thuật thoát vị đĩa đệm không phải là một thuốc trị bá bệnh. Nó có thể bị biến chứng bởi một viêm đĩa đốt sống (spondylodiscite) do nhiễm trùng mắc phải trong lúc nằm viện (infection nosocomiale). Sau phẫu thuật bại liệt thoải triển không nhanh hơn so với phương pháp phục hồi chức năng riêng rẻ. Đau có thể tồn tại thậm chí nặng thêm. Ngày xưa để giải thích ta nêu lên những hiện tượng xơ hóa sẹo (fibrose cicatricielle) Ngày nay ta nghĩ rằng đó là những thương tổn của các rễ thần kinh, thường vĩnh viễn, do huyết khối huyết quản (thrombose vasculaire). Đối với các thầy thuốc ngoại khoa, chính sách đợi thời quá mức (attentisme excessif) và thái độ nhìn xem (attitude contemplative) của vài thầy thuốc khoa thấp khớp tạo điều kiện cho những thương tổn của các rễ thần kinh này.
(LE FIGARO 8/2/2010)

5/ CÁC GIÀY CHỈNH HÌNH CÓ LÀM GIẢM ĐAU LƯNG ?

Professeur Richard Trèves
Rhumatologue (CHU de Limoges)
Membre correspondant
de l’Académie nationale de médecine.

Ta nói rằng nếu con người không đứng, nó sẽ không bị hay ít đau lưng. Nhưng tư thế đứng là nguồn gốc của sự phát triển của não bộ và của trí thông minh và đau lưng là cái giá phải trả… với điều kiện không ngồi quá mức, sự gia tăng của tình trạng ít hoạt động của chúng ta giải thích rằng hôm nay 80% dân số đã bị hay sẽ bị đau thắt lưng (douleur lombaire) vào một lúc nào đó của cuộc đời mình.
Đau lưng có thể là do hư khớp (arthrose), do một bất thường của độ cong của cột sống, do tăng quá mức (hyperlordose : tăng uỡn cột sống) hay do lệch (scoliose : vẹo cột sống). Trong trường hợp vẹo cột sống, có thể được thêm vào đó một sự không đồng đều chiều dài của các cẳng chân, mà ta đo dễ dàng bằng chụp X quang khung chậu với bệnh nhân đứng tư thế thẳng, nhưng không cần thực hiện điều trị một cách hệ thống, lại còn ít hơn ở những người già 70 tuổi hoặc hơn (cột sống của những người già đã quen với sự mất cân bằng của khung chậu), cũng như ở những em bé (đôi khi những cẳng chân có chiều dài không đồng đều ngay khi sinh).
Theo quy tắc chung, ta không kê đơn những giày chỉnh hình (semelle orthopédique) cho các trẻ em. Phải chờ quá trình thành thục vận động (maturation locomotrice) trong thời kỳ tăng trưởng để biến mất một cách ngẫu nhiên ở tuổi trưởng thành những bàn chân bẹt (pieds plats) và dáng bước với các đầu gối và các bàn chân hướng vào trong, bình thường (và không đau) ở những trẻ nhỏ tuổi nhất. Ở tuổi thiếu niên, chính những di chứng gãy xương thường nhất tạo nên một sự khác nhau chiều dài của các cẳng chân. Nhưng khi đó, ta chỉ sẽ chỉ cho mang những giày chỉnh hình nếu bị đau lưng. Trong tất cả những trường hợp, vô ích khi tìm cách tạo một cân bằng với một giày chỉnh hình, mà chiều cao bằng một nửa số đo của sự không đồng đều chiều dài của cẳng chân (thí dụ, trong trường hop sự không đồng đều là 5 cm thì cần một semelle 2,5 cm). Một sự điều chỉnh chỉ bắt buộc trong trường hợp đầu và khi sự không đồng điều chiều dài của một cẳng chân so với cẳng chân kia vượt quá 2 cm ; mang một semelle orthopédique cho phép nâng cao gót chân, khi đó có thể là một giải pháp tốt. Chừng nào sự không đồng đều chiều dài giữa hai cẳng chân không đáng kể, mang giày cũng đủ.
Nguyên thủy được kê đơn để làm thuyên giảm vài bệnh gây đau ở chân (bàn chân hõm hay bẹt, các bệnh dây gân, những thương tổn chấn thương…), sau đó những giày chỉnh hình này cũng được khuyến nghị để tái cân bằng những điểm tì của lòng bàn chân hay để làm dễ sự bước, thậm chí để kích thích nó, và làm giảm đau lưng. Trong trường hợp đầu, những giày chỉnh hình được gọi là nâng đỡ (semelle de support) lấp đầy những chỗ hõm dưới các bàn chân để phân bố đều hơn những trọng tải : ta sử dụng chúng đối với những douleur d’appui (đau do tì) ở những người đứng nhiều, tăng thể trọng, hay với những vùng tì giới hạn (pied creux : bàn chân hõm). Nhưng, chúng sẽ không bao giờ thay thế một sự mất cân để không tì quá nhiều kí trên các gót chân mỗi ngày. Ngoài ra, nếu chân bị biến dạng vì một tư thế xấu hay một suy cơ, giày chỉnh hình chỉ làm bất động sự việc và ngăn cản một autoéducation.
Những giày chỉnh hình kích thích (semelle de stimulation), mảnh và không có chỗ nổi, chỉ là những surépaisseur dưới những nơi nhất định của bàn chân, để biến đổi những automatisme de posture lúc nghỉ ngơi và lúc bước và để hủy bỏ vài trường hợp đau. Một người già hay dậm chân nhiều sẽ không có lợi bao nhiêu, và tốt hơn nên sử dụng những giày chỉnh hình nâng đỡ (semelle de soutien), ngay cả chỉ để ” palliatif “, nghĩa là không có hiệu quả điều trị. Sau cùng những semelle có thể làm thuyên giảm những bàn chân bẹt (pieds plats) gây đau, điều này khá hiếm, nhưng chúng không thay đổi gì hết tiến triển của những bàn chân này. Thật vậy, cũng như phần lớn những điều trị, chính trước khi xuất hiện những rối loạn hay ngay giai đoạn đầu mà các giày chỉnh hình có thể có hiệu quả.
Không nên gán cho các giày chỉnh hình nhiều vai trò hơn là chúng xứng đáng để làm giảm đau lưng, bởi vì chúng không cho phép ngăn ngừa đau lưng và cho đến nay không có một bằng cớ nào về tính hiệu quả của chúng về mặt điều trị, nếu không chỉ có tính cách hỗ trợ.
(LE FIGARO 22/4/2013)

6/ NHỮNG CẶP SÁCH QUÁ NẶNG CÓ THỂ GÂY CHỨNG VẸO CỘT SỐNG Ở TRẺ EM ?

Professeur Jean Bubousset
Orthopédie pédiatrique
Membre de l’Académie nationale de médecine.

                                   NHỮNG CON SỐ
70% những trường hợp vẹo cột sống được gọi là “không rõ nguyên nhân” (scoliose idiopathique), nghĩa là không có một căn nguyên nào được tìm thấy.
10 đến 15% những trường hợp vẹo cột sống không không rõ nguyên nhân tiến triển nặng dần.
12 đến 13 tuổi : Đó là lứa tuổi những bệnh lý cột sống xuất hiện thường nhất ở con gái, 13-14 tuổi ở con trai. Trong thời kỳ tăng trưởng nhanh chóng của cột sống này, đứa trẻ phải được kiểm tra định kỳ.
GÙ LƯNG (CYPHOSE) Đó là tên của một biến dạng khác của lưng, thường bị lẫn lộn với scoliose. Ta nhận biết cyphose ở một cái lưng tròn, vouté. Đó là một rối loạn của sụn tăng trưởng (cartilage de croissance) của các đốt sống, những đốt sống này lớn lên về phía sau hơn là phía trước.

Chứng vẹo cột sống không phải là hậu quả cơ học của việc mang trên lưng một trọng lượng ít hay nhiều không đối xứng, của một sự không đồng đều chiều dài của các chi dưới hay những hiện tượng khác cần được xếp vào chương của những định kiến. Đó là một triệu chứng được thể hiện bởi một sự vẹo cột sống theo 3 mặt phẳng của không gian với, đặc biệt, một sự xoắn theo trục (torsion axiale), được phát hiện bởi một bướu gù (gibbosité) ở ngực hay thắt lưng.Trong vài trường hợp, những nguyên nhân của chứng vẹo cột sống được biết rõ. Đôi khi đó là một biến dạng bẩm sinh, thụ đắc trước khi sinh, do một bất thường của cột sống xảy ra rất sớm trong đời sống phôi thai do một sự rối loạn của horloge de la segmentation, đôi khi nguồn gốc di truyền, nhưng thường nhất là mắc phải. Các đốt sống cũng có thể có những bất thường cấu trúc và bị biến dạng dần dần dưới ảnh hưởng của những yếu tố cũng có thể có nguồn gốc di truyền. Sau cùng, những rối loạn “liệt” (trouble paralytique) nguồn gốc thần kinh có thể gây nên một hoạt động bất đối xứng của các cơ bao quanh cột sống, do đó gây nên một sự biến dạng của cột sống và của sự thẳng hàng trong lúc chúng tăng trưởng.
Những chứng vẹo cột sống mà việc mang cặp sách chịu trách nhiệm, là chứng vẹo cột sống được gọi là không rõ nguyên nhân (scoliose idiopathique), chứng vẹo mà ta vẫn không biết được căn nguyên, mặc dầu đã có nhiều công trình nghiên cứu trên toàn thế giới. Tuy nhiên, dường như rằng, trên cơ sở tính nhạy cảm di truyền (susceptibilité génétique), những cơ chế thần kinh-kích thích tố rất tinh tế phát khởi một hiện tượng sẽ gia trọng một cách nhanh chóng ít hay nhiều, đặc biệt vào lúc dậy thì và với một tần số lớn hơn ở các con gái. Thế mà những biến dạng như thế không hiện hữu ở những động vật 4 chân, và tất cả những cố gắng thí nghiệm nhằm làm phát khởi một vẹo cột sống ở những động vật này, mà không trực tiếp đụng đến cột sống và các cơ chung quanh, đều vô ích. Vậy ít nhất chúng ta biết được một điều, đó là chứng vẹo cột sống là điển hình của tư thế đứng và như thế đặc thù cho loài người.
Trong đại đa số các trường hợp, các trẻ em, mà ở chúng ta khám phá chứng vẹo cột sống không rõ nguyên nhân (scoliose idiopathique) này, hoàn toàn bình thường trên bình diện vật lý và trí tuệ. Vậy trước hết chính sự vận hành nội tại của các hệ thống tự trị của não bộ phụ trách sự cân bằng của tư thế đứng, cùng với sự tăng trưởng của cột sống, bị rối loạn. Chứng vẹo cột sống không liên quan gì với việc mang những gánh bất đối xứng (charges asymétriques), dầu đó là trọng lượng của một cặp sách (cartable) hay một sac à dos.
Nhưng phải công nhận một lợi ích quan trọng đối với những sự thật sai lệch này : chúng dẫn đến một sự theo dõi tốt hơn những trẻ em trên bình diện chỉnh hình, thần kinh và X quang, và khiến chúng nhận được những thăm khám tốt bởi những thầy thuốc thực hành có năng lực. Chính bố mẹ lưu ý, ngay khi con họ còn trong những lớp học nhỏ, nhìn lưng đứa trẻ khi nó đứng, những bàn chân khít lại với nhau, những cánh tay thỏng xuống dọc theo thân thể ; nếu đường gấp của taille có vẻ bất đối xứng hay nếu, khi làm đứa trẻ nghiêng mình về phía trước, các bàn tay chắp lại giữa hai đầu gối, và khi nhìn lưng ” à jour frisant”, họ chứng thực một sự bất đối xứng ngay cả tối thiểu giữa bên phải và bên trái, khi đó tốt nhất là nên nói với thầy thuốc về điều đó.
Nếu chẩn đoán chứng vẹo cột sống không rõ nguyên nhân được xác nhận, nguy cơ tiến triển được xác lập theo những điều chứng thực trên lâm sàng, nhất là tình trạng trưởng thành sinh dục lúc dậy thì, và theo những kết quả chụp X quang. Có thể đạt được một tiên lượng đáng tin cậy ngay lần khám đầu tiên và cliche 3 D đầu tiên. Cần nhắc lại rằng chứng vẹo cột sống không rõ nguyên nhân của trẻ em là mềm mại và không đau ; do đó , nếu thăm khám phát hiện đau hay cứng, chẩn đoán một u xương đốt sống hay một bất thường rễ thần kinh-tủy phải được kiểm tra bằng một IRM và sẽ đưa đến một điều trị đặc hiệu.
CORSET
Chẩn đoán chứng vẹo cột sống không rõ nguyên nhân sau khi đã được xác lập, vấn đề sau đó là điều trị hay không. Vài trong số những trường hợp vẹo cột sống này tiến triển nặng một cách nhanh chóng và đòi hỏi một điều trị tích cực, đôi khi ngay lần thăm khám đầu tiên, với bó bột và mang corset cho đến cuối thời kỳ xương thành thục. Đối với những trường hợp khác, ngoại khoa là giải pháp duy nhất, mặc dầu đó chỉ là một rattrapage, bởi vì, mặc dầu montage métalique được thực hiện đề dựng đứng lại cột sống và ghép xương kèm theo làm cứng phần instrumenté, vẫn luôn còn những vùng tự do và do đó cử động về mặt cơ năng.
THEO DÕI ĐỀU ĐẶN
Nhưng phần lớn chứng vẹo cột sống ít hoặc không tiến triển một chút nào và chỉ đòi hỏi một sự theo dõi cho đến cuối thời kỳ tăng trưởng. Khi đó những đứa trẻ này được phép có một cuộc sống bình thường, chơi thể thao… và mang một cặp sách nặng trên lưng ! Tuy nhiên mặc dầu những cặp sách quá nặng không giải thích chứng vẹo cột sống, nhưng tốt nhất là tránh không để chúng vượt qua 10% trọng lượng của đứa bé. Thế mà đó là điều xảy ra một trường hợp trên hai, điều mà y tế lao động sẽ không cho phép đối với những người lớn..
Dầu thế nào đi nữa, những đứa trẻ vốn có một vấn đề cột sống trong thời kỳ thơ ấu, được mổ hay không, phải được theo dõi đều đặn ở tuổi trưởng thành. Mặt khác, những trường hợp vẹo cột sống có thể xảy ra ở tuổi trưởng thành ở một cột sống hoàn toàn lành mạnh cho đến khi đó, do một sự thoái hóa đĩa liên đốt và dây chằng. Một khi được khởi phát, chúng hầu như luôn luôn trầm trọng thêm, một cách ít nhiều quan trọng, do sự lão hóa.
(LE FIGARO 14/5/2013)

7/ CHỨNG VẸO CỘT SỐNG Ở TRẺ EM : TECHNIQUE DE RADIOGRAPHIE A MICRODOSE MỚI.
GS Guy Schlag, trưởng khoa chụp hình ảnh nhi đồng và thai nhi thuộc bệnh viên đại học Robert-Debré, giáo sư đại học y khoa Paris-VII-Denis Diderot, mô tả những ưu điểm của cải tiến chụp hình ảnh nhi đồng này.
Hỏi : Những đặc điểm của một chứng vẹo cột sống, rất thường gặp ở trẻ em là gì ?
GS Guy Sebag : Đó là một sự biến dạng 3 chiều của cột sống với một độ cong trên 10 độ. Chứng vẹo cột sống thường xảy ra nhất ở những thiếu niên từ 10 đến 13 tuổi, trong đó khoảng 90% là những con gái. Trong vài trường hợp, các trẻ sơ sinh hay những trẻ nhỏ tuổi cũng bị chứng biến dạng này. Ta không biết nguyên nhân, ta chỉ biết rằng có vài yếu tố di truyền và gia đình. Có những dạng với tiến triển chậm và những dạng khác (1 trường hợp trên 5) có tiến triển nhanh, trong đó sự gia tốc của quá trình tăng trưởng lúc dậy thì sẽ làm trầm trọng sự biến dạng, khi đó có thể gia tăng một độ mỗi tháng.
Hỏi : Tùy theo tiến triển của bệnh, ta điều trị chứng vẹo cột sống như thế nào ?
GS Guy Sebag : Để xác lập chẩn đoán, ta bắt đầu bằng thăm dò những bệnh nhân bằng những chụp X quang tư thế thẳng và nghiêng. Nếu đó là một dạng tiến triển chậm, ta chỉ cần theo dõi đều đặn bằng những kiểm tra đều đặn. Trong trường hợp cột sống trở nên bị cong quá nhanh, ta sẽ cho mang một corset bằng chất plastic, được chế tạo tùy theo kích thước. Mục tiêu là dựng đứng lại cột sống và kềm hãm hoặc làm ngừng sự tiến triển của biến dạng. Nhưng để đạt được điều đó, corset này phải được đặt càng sớm càng tốt, trước 11 hay 12 tuổi.
Hỏi : Nếu, khi chẩn đoán, chứng vẹo cột sống thuộc dạng tiến triển nhanh, điều trị như thế nào ?
GS Guy Sebag : Trên nguyên tắc ta cần đến một can thiệp ngoại khoa, nhằm thiết đặt một arthrodèse (tige bằng kim loại) để dựng đứng lại và giữ cột sống, nhưng để tránh điều đó, trước hết ta thử điều trị bằng cách cho mang một corset trong ít nhất 12 giờ mỗi ngày. Với điều trị không xâm nhập này, 3/4 những bệnh nhân được ổn định. Nếu đứa trẻ chịu được khi phải mang corset này từ 12 đến 18 giờ mỗi ngày, trung bình ta có được tỷ lệ thành công 90%.
Hỏi : Để theo dõi những vẹo cột sống và để đánh giá tính hiệu quả của những điều trị, những chụp X quang đều đặn có cần thiết không ?
GS Guy Sebag : Vâng, chúng phải được thực hiện trung bình mỗi 4 tháng. Nhưng những bức xạ ion hóa (radiation ionisante) liên tiếp này không phải là không có nguy cơ.
Hỏi : Những nguy cơ này là gì ?
GS Guy Sebag : Trong vài trường hợp một sự tiếp xúc lâu dài với những tia X gây nên, vào những năm sau này, sự xuất hiện các ung thư ở những cơ quan dễ thương tổn như vú, tuyến giáp trạng, tủy xương. Thí dụ một công trình nghiên cứu rộng lớn của Hoa Kỳ đã chứng minh rằng nguy cơ tử vong vì ung thư vú tăng gấp đôi ở những thiếu nữ thường xuyên bị tiếp xúc những bức xạ để theo dõi một chứng vẹo cột sống.
Hỏi : Để hạn chế những nguy cơ này, kỹ thuật mới chụp X quang được sử dụng trong trung tâm của ông ở bệnh viện Robert-Debré là kỹ thuật nào ?
GS Guy Sebag : Kỹ thuật này sử dụng système de radiographie à balayage biplan EOS, cung cấp những hình ảnh của toàn khung xương ở tư thế đứng và theo 3 chiều không gian. Một phương thức chụp X quang mới ” microdose ” (vi liều lượng) được hiệu chính cách nay 1 năm trong trung tâm của chúng tôi với những máy phát hiện cực kỳ nhạy cảm, phát ra 6 lần ít những tia bức xạ hơn phương pháp chụp hiện nay. Những liều bức xạ của một buổi duy nhất tương ứng với những liều của một rayonnement naturel được nhận bởi môi trường trong khoảng 10 ngày. Nhờ kỹ thuật vi liều lượng (microdose) này, ta theo dõi sát tiến triển của độ cong vẹo cột sống, điều này cho phép khi cần biến đổi corset hay ngay cả thay nó.
Hỏi : Ông hay giải thích cho chúng tôi ưu điểm của chụp X quang trẻ em ở thể đứng là gì ?
GS Guy Sebag : Khi đứa trẻ nằm, ta đánh giá thấp độ cong vì hiện tượng trọng lực sẽ làm gia tăng độ cong này. Khi đứng, ta sẽ có thể đánh giá tầm quan trọng của nó và thấy được đứa trẻ có bù bất thường này ở phần còn lại của cột sống và khung chậu như thế nào. Ưu điểm khác của tư thế này : ta phân tích sự biến dạng theo 3 chiều của không gian.
Hỏi : Mức độ đáng tin cậy của phương pháp chụp X quang vi liều lượng này ?
GS Guy Sebag : Chúng tôi đã tiến hành cùng với kíp của tôi một công trình nghiên cứu trên 43 thiếu niên. Những kết quả được trình bày mới đây ở Journées françaises de radiologie đã cho thấy một chất lượng hình ảnh rất tốt và những đo lường vô cùng đáng tin cậy.
(PARIS MATCH 21/11-27/11/2013)

8/ CHỨNG VẸO CỘT SỐNG : DỰNG ĐỨNG LẠI CỘT SỐNG BỊ BIẾN DẠNG.Căn bệnh này mà tên phát xuất từ chữ Hy lạp skolios (tortueux) gây nên một sự biến dạng của cột sống trong ba chiều không gian, do một torsion của một hay nhiều đốt sống lên chính nó. Chứng vẹo cột sống là một bệnh nghiêm trọng bởi vì sự vẹo này thường được kèm theo bởi một sự biến dạng của ngực và bụng. Những nguyên nhân của nó không được biết trong 70% các trường hợp, những yếu tố di truyền rất được giả định. Mặc dầu thường gặp hơn ở con gái (80%) so với con trai, chứng vẹo cột sống có thể xuất hiện ở bất cứ lứa tuổi nào và ta cho rằng ở tuổi 16, 0,5% và 3% dân chúng bị liên hệ. Chứng vẹo cột sống có thể được phát hiện : một cục bướu (bosse) với một sự bất đối xứng hai phía của trục của cột sống có thể thấy được khi người bệnh nghiên mình về phía trước. Mang một corset trong nhiều năm, bó bột hay không, là liệu pháp phổ biến nhất. Vậy quyết định mổ chỉ được thực hiện trong những thể trầm trọng nhất khi mang corset không có hiệu quả.
Mỗi năm, những kíp rất chuyên môn mổ khoảng 1500 lưng bị biến dạng, hoặc dưới 10% những bệnh nhân. ” Động tác phẫu thuật nặng nề và làm cứng cột sống”, BS Christian Garreau de Louvresse, thầy thuốc ngoại khoa thuộc bệnh viện Garches (Hauts-de-Seine) đã ghi nhận như vậy. Vấn để chủ yếu là phải biết khi nào mổ, bởi vì không gì cho phép tiên đoán sự trầm trọng của một chứng vẹo cột sống. Trong trường hợp can thiệp, plaques, vis và tiges “redresseuses” khi đó được sử dụng để điều chỉnh những biến dạng và tái lập tốt nhất vẻ thẩm mỹ. ” Những can thiệp này kéo dài hơn 8 giờ và từ nay càng ngày càng nhận được một sự theo dõi được gọi là surveillnace intraopérative multimodale, nghĩa là với một sự ghi liên tục hoạt động của những dây thần kinh và của tủy sống”, thầy thuốc ngoại khoa nói tiếp như vậy.
Trái với một định kiến, một chứng vẹo cột sống thắt lưng thoái hóa (scoliose lombaire dégénérative) có thể xảy ra ở những người trên 50 tuổi, phần lớn ở những phụ nữ mãn kinh. ” Những dạng này càng ngày càng thường gặp do sự lão hóa, tình trạng không hoạt động và sự lên cân “. GS Jean-Charles Le Huec, trưởng khoa chỉnh hình của CHU de Bordeaux đã xác nhận như vậy. Lại nữa, phẫu thuật có thể được xét đến trong trường hợp tiến triển nhanh của bệnh.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2013)

9/ CHỨNG VẸO CỘT SỐNG CŨNG XẢY RA Ở CỘT SỐNG LÃO HÓA.
tsyh329 6Chứng vẹo cột sống không rõ nguyên nhân (scoliose idiopathique) là một căn bệnh của trẻ em và có thể tải xuất hiện sau 50 tuổi. Chứng vẹo cột sống (scoliose) cũng có thể bắt đầu muộn khi cột sống bị già di : khi ấy đó là chứng vẹo cột sống thoái hóa (scoliose dégénérative), do sự lão hóa của các dây chằng, các cơ và những đĩa sống.
Tế nhị hơn khi chẩn đoán chứng vẹo cột sống của một colonne vieillissante, mặc dầu những triệu chứng mà nó gây ra và những hậu quả của chúng là tuong từ với những chứng vẹo cột sống của trẻ em. Chứng vẹo cột sống của trẻ em là do một rối loạn tăng trưởng, mà cơ thể có thể bù khi cột sống đang thành hình nhưng, ở tuổi trưởng thành, những bất quân bình do sự biến dạng của cột sống tạo nên không được bù. Ngoài ra những biểu hiện hư khớp có thể được liên kết, làm lẫn lộn chẩn đoán. Như thế chứng vẹo cột sống thoái hóa hay lão hóa (scoliose dégénérative ou viellissante) kèm theo đau, sẽ là đích đầu tiên của những điều trị.
TIẾN TRIỂN KHÔNG LAY CHUYỂN ĐƯỢC.
Các phụ nữ thường nhất bị những vẹo cột sống muộn này (scoliose tardive), phát khởi sau thời kỳ mãn kinh. Vùng thắt lưng (zone lombaire), giới hạn giữa ngực và phần thấp của lưng thường bị ảnh hưởng nhất, gây nên những triệu chứng đau thắt lưng (lombalgie) đôi khi khó chịu được. Sự biến dạng của cột sống và sự mòn của các đĩa liên đốt sống có thể đè ép những rễ thần kinh. Các bệnh nhân khi đó bị đau dây thần kinh tọa (sciatique), đau dây thần kinh đùi (cruralgie) hay đau trong các chi tùy theo định vị của vùng bị đè ép
Trong vài trường hợp, chứng vẹo cột sống gây claudication lúc gắng sức, lúc bước. ” Nếu đau là triệu chứng khiến phải đi khám bệnh, không nên coi thường ảnh hưởng thẩm mỹ của sự biến dạng của lưng, mà đôi khi bệnh nhân khó tỏ bày “, GS Pierre Guigui, trưởng khoa ngoại chỉnh hình thuộc bệnh viện Beaujon, Chichy, đã nhắc lại như vậy.
CORSET ĐỂ LÀM GIẢM ĐAU
Sự mất cân bằng quan trọng của cột sống cũng có thể ngăn cản vài động tác của đời sống hàng ngày và, khi thân mình thật sự lún xuống, dẫn đến suy hô hấp hay những đè ép của bộ máy tiêu hóa.
Điều trị triệu chứng gồm nhiều yếu tố : thuốc, infiltration, phục hồi chức năng, orthèse. Corset chỉnh hình không có chức năng điều chỉnh, như ở trẻ em, nhưng nó cho phép giữ cột sống trong một tư thế thuận lợi để sinh hoạt hàng ngày hay để làm giảm đau. Kinésithérapie cũng cho phép làm nhẹ bớt áp lực lên cột sống và giới hạn những đau đớn. Nếu sự mất cân bằng quá quan trọng, khi đó phải xét đến phẫu thuật.
” Có nhiều giải pháp mà chúng tôi có thể đề nghị với bệnh nhân để làm giảm bớt những triệu chứng, nhưng tiến triển là không thể lay chuyển được, GS Guigui đã nhấn mạnh như vậy. Với một sự theo dõi đều đặn, có thể nhận diện lúc tốt nhất để thực hiện một can thiệp ngoại khoa trước khi không còn có thể làm được nữa.” Cũng như ở trẻ em, mục tiêu khi đó là hạn chế sự hợp nhất của các đốt sống nhằm tránh làm cứng toàn bộ lưng đồng thời điều chỉnh tình trạng mất cân bằng và như thế, đôi khi sự đau đớn.
(LE FIGARO 24/9/2012)

10/ ALBERT NEISSER, LUÔN LUÔN GẮN LIỀN VỚI BỆNH LẬU
Thật vậy nhà khám phá lậu cầu khuẩn (gonocoque) là một nhà vi trùng học và thầy thuốc chuyên khoa hoa liễu có tài. Và chính cả một họ vi khuẩn sẽ mang tên ông sau khi ông qua đời, cũng liên kết ông với những bệnh viêm màng não. Lúc sinh thời, như diều mà ta thường thấy, ông không được sự nhất trí.tsyh329 7
Albert Ludwig Neisser, sinh năm 1855 ở một nơi không xa thành phố đại học Breslau (Đức). Bố ông là một thầy thuốc nổi tiếng người Do Thái, gởi ông đến học ở một trường địa phương rồi ở Gymnasium de Breslau, ở đây ông đã bắt đầu một tình bạn thân thiết suốt đời với Paul Ehrlich. Cùng với Paul, ông lao mình vào học y khoa và tốt nghiệp năm 22 tuổi.
Vì thiếu một nhiệm sở nội khoa, ông chấp nhận làm thường trú khoa da liễu (dermatologie-vénérologie), một khoa ở đó đang bao trùm bởi một chủ nghĩa bài do thái vốn đã thịnh hành. Bị ảnh hưởng bởi những khám phá của những người tiền bối của vi khuẩn học, vào năm 24 tuổi ông có một khám phá quan trọng : ông chứng minh, ở 44 người trưởng thành bị bệnh viêm niệu dạo do lậu (urétrite blennorragique), ở 7 trường hợp nhiễm trùng sơ sinh và ở hai nhiễm trùng mắt, sự hiện diện của trùng cầu (coccidie) giống hệt. Ông nhuộm vi trùng với thuốc thử violet de méthyle nhưng không thành công cấy được nó. Ông công bố khám phá của ông 3 năm sau và đưa vào thuật ngữ gonococcus. Ông sẽ cần 10 năm để có thể làm tăng sinh nó trong hoạt dịch (liquide synoviale).
MỘT SỰ ĐAM MÊ ĐỐI VỚI BỆNH HỦI.
Vào năm 27 tuổi, Neisser được triệu hồi đến Leipzig để điều khiển khoa dermatologie, một chức vụ mà ông sẽ giữ cho đến khi ông qua đời.
Vào năm 30 tuổi, Neisser khám phá bệnh hủi (lèpre) qua những tài liệu xuất bản của người Na Uy Hansen. Vào thời kỳ này, chỉ có hai bệnh ở người được công nhận có nguồn gốc vi khuẩn (anthrax năm 1850 và borréliose năm 1868) và những luận cứ của Hansen được tiếp nhận với tinh thần hoài nghi. Neisser đi Na Uy và thăm viếng 3 trại hủi (léproserie). Ở đây ông thực hiện những sinh thiết da và lấy những mẫu nghiệm khác nhau. Khi trở về nước, ông nhuộm màu chúng với thuốc thử fuchsine và violet de gentiane và chứng minh một cách rõ ràng sự hiện diện của những trực khuẩn (bacille).
Ông trình bày những khám phá của mình vài tháng trước khi Hansen bảo vệ quyền ưu tiên của mình. Cuối cùng, trực khuẩn bệnh hủi lấy tên Hansen nhưng Neisser được pcông nhận là người khám phá đầu tiên của kỹ thuật nhuộm màu. Ông tiếp tục nghiên cứu mầm bệnh nhưng sẽ không bao giờ thành công cấy được nó.
NHÀ LÂM SÀNG VÀ THẦY THUỐC CHUYÊN BỆNH NGOÀI DA.
Trong 20 năm, Neisser xuất bản về những vấn đề khác nhau của dermatologie clinique, nhấn mạnh chẩn đoán phân biệt và quan tâm đến những hậu quả của y tế công cộng. Ông chủ trương chú ý đến không những khía cạnh vật lý mà còn tâm lý đối với các gái mãi dâm. Trắc nghiệm nhận diện các lậu cầu khuẩn của ông được thực hiện đối với những trường hợp nhập viện để chẩn đoán bệnh này. Nhưng tiến bộ này tạo nên những vấn đề tài chánh bởi vì bệnh viện không có khả năng điều trị một cách hiệu quả những bệnh nhân được nhập viện lâu dài này.
Vào năm 44 tuổi, Neisser là một trong những người sáng lập Société dermatologique allemande và ông tổ chức chống lại những bệnh hoa liễu. Ông cũng nghiên cứu bệnh giang mai và dám tiêm huyết thanh của những người bệnh giang mai cho những bệnh nhân ở giai đoạn khởi đầu, rồi chủng phòng ngừa dưới da nhiều gái mãi dâm, như thế gây nên vụ tai tiếng đạo đức đầu tiên của thí nghiệm y khoa. Neisser bị phạt 300 marks và tiếp tục cho rằng những cobaye của ông đã trở thành những bệnh nhân giang mai do lối sống của họ. Sau đó ông thí nghiệm những ý tưởng của mình lên khỉ và ngay cả đi Java (Indonésie) với tính cách tư nhân, ở đây ông thu được 1000 mẫu nghiệm.
NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI
Vào năm 1912, lúc 57 tuổi, một tai nạn làm ông bị gãy cổ xương đùi và sự bình phục của ông diễn ra chậm và khó nhọc. Vợ ông chết năm sau và sự mất mát này làm ông suy mòn. Ông bị nhiều cơn đau quặn thận và phát triển bệnh đái đường.
Mặc dầu rất phế tật, ông tiếp tục tham dự những cuộc hội nghị và công bố xuất bản. Cuối cùng ông quyết định chấp nhận mổ lấy sỏi (lithotomie chirurgicale), nhưng phẫu thuật chuyển thành nhiễm trùng máu và ông qua đời ngày 30 tháng bảy năm 1916 lúc ông 61 tuổi. Tro của ông được rãi trong vườn của ngôi biệt thự.
Thuật ngữ Neisseria gonorrhoeae, được đề nghị bởi một nhà vi khuẩn học người Ý, khi Neisser chỉ mới 30 tuổi và bị từ chối khi ông còn sinh tiền và sự thông qua vĩnh viễn thuật ngữ này sẽ phải đợi những năm 30.
Albert Neisser và vợ Toni là những người ham mê nghệ thuật và là những nhà sưu tầm. Ngôi biệt thự của họ chứa đầy những tác phẩm nghệ thuật và trở thành trung tâm văn hóa của thành phố Breslau ; năm 1920, ngôi nhà của ông trở thành một viện bảo tàng. Vào năm 1933, những đảng viên quốc xã cướp phá biệt thự và biến nó thành một quán trọ nhưng, may mắn thay, những tác phẩm của ông được cứu thoát bởi một thầy thuốc tên gọi là Bock.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 29/11/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(19/12/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s