Thời sự y học số 324 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHUYÊN ĐỀ NGHIỆN RƯỢU, INTERNET

1/ RƯỢU : CHỈ 8% NHỮNG NGƯỜI BỊ LIÊN HỆ ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ.

4 triệu người Pháp lạm dụng rượu, trong đó 2,5 triệu với một sự tiêu thụ quá mức nhưng không phụ thuộc.
RƯỢU : NHỮNG TÀN PHÁ Ở TẤT CẢ CÁC TẦNG :
NHỮNG TÁC DỤNG BỆNH LÝ CHÍNH :
– Phá hủy tế bào thần kinh :
Rượu có một tác dụng hướng thần (effet psychoactif) lên não bộ
          1. Những phân tử éthanol gắn vào thụ thể của neurone
          2. Thụ thể bị kích thích để đi qua những ion chlore làm phát khởi một tác dụng “khoan khoái”
          3. Tiêu thụ rượu quá mức gây rối loạn hoạt động của neurone, làm rối loạn nghiêm trọng hệ thần kinh.
– Giãn tĩnh mạch thực quản (varices oesophagiennes)
– Những rối loạn tim
– Xơ gan
– Viêm dạ dày mãn tính
– Những rối loạn ruột
– Bất lực
– Run rẩy
– Những cơn thống phong.


Ở tất cả các mức, vấn đề y tế công cộng này bị đánh giá rất thấp ở Pháp.
ADDICTION. Trong khi rượu liên hệ trực tiếp trong 49.000 trường hợp tử vong hàng năm, ở Pháp sự nghiên cứu dành cho vấn đề mặc dầu quan trọng này, khiến nước ta, cùng với Ý, trở thành người học trò kém nhất của châu Âu.” Ta thiếu tất cả, GS Mickael Naassila, giáo sư sinh lý học và giám đốc nghiên cứu ở Inserm về rượu (Amiens) đã xác nhận như vậy. Ta thiếu các nhà nghiên cứu, các postes, các structures, vắn tắt, một kế hoạch alcool thật sự để đáp ứng với quy mô của vấn đề.” Điều đó càng có về bất thường khi rượu mang lại không chỉ những rắc rối cho người tiêu thụ trực tiếp : ít nhất 1/3 những vụ hình sự liên quan gần hoặc xa với rượu. Còn phải thêm vào đó nhiều nạn nhân của bạo lực gia đìnhvà những đứa trẻ có những di chứng, do mẹ uống rượu trong thời kỳ thai nghén. ” Cũng như có những nạn nhân của chứng nghiện thuốc lá thụ động (tabagisme passif), có những nạn nhân của nghiện rượu thụ động (alcoolisme passif), nhưng không ai từng nói đến chúng “, GS Nassila đã nói như vậy. Ý kiến được chia sẻ bởi BS Philippe Batel, truởng unité de traitement ambulatoire des maladies addictives thuộc bệnh viện Beaujon. Ông nhắc lại rằng, tùy theo cách tính toán, ” phí tổn của rượu đối với xã hội có thể đạt đến 17,6 tỷ mỗi năm nếu ta gồm vào những vấn đề y tế, cũng như những phí tổn gián tiếp do những ngày làm việc bị mất, do những tai nạn lao động, do sự đau khổ tâm lý,… Thế mà rượu chỉ ” thu được ” 1,5 tỷ euro thuế mỗi năm.
Một báo cáo năm 2011 gợi ý rằng những điều trị những người bị một căn bệnh do rượu gây nên mặc dầu có một phí tổn cao, nhưng được cân bằng phần lớn bởi tiết kiệm được thực hiện do sự tử vong sớm của họ khi xảy ra ở tuổi lãnh tiền hưu !
Nhiều người còn nghĩ một cách sai lầm rằng chỉ những người uống rượu quá độ không còn khả năng kiểm soát sự tiêu thụ của họ mới bị nguy hiểm. Thật vậy, quả đúng là họ bị nguy hiểm, nhưng những người nghiện rượu nặng suy dinh dưỡng và bị một xơ gan chỉ chiếm 2500 trong số 49.000 trường hợp tử vong mỗi năm có thể quy cho rượu, trong khi những ung thư và những bệnh tim mạch liên quan với một sự tiêu thụ rượu quá mức gây 27.000 trường hợp tử vong cùng lúc.
Vì thiếu thông tin, ” ít người biết rằng bắt đầu từ 3 ly rượu mỗi ngày, một phụ nữ nhân gấp ba nguy cơ phát triển ung thư vú. Cũng vậy, bắt đầu từ 5 ly mỗi ngày, nguy cơ ung thư đại tràng được nhân lên gấp 4, BS Batel đã ghi nhận như vậy. Thế mà những người này không có cảm giác bị những nguy cơ đối với sức khỏe của họ. Có lẽ ngay cả họ nghĩ rằng rượu bảo vệ tim của họ. Điều đó đúng đối với một hay hai ly mỗi ngày ở một lão niên nhưng vô cùng sai ở một thanh niên, không bị thêm nguy cơ tim mạch mà đúng hơn là nguy cơ tai nạn công lộ.”
Để thay đổi cái nhìn lỗi thời về những rối loạn của alcoolisation trong xã hội của chúng ta, các chuyên gia có những ý tưởng của mình. Trước hết cấm dùng thuật ngữ cũ ” người nghiện rượu mãn tính ” (alcoolique chronique), bởi vì nó khiến nghĩ rằng chỉ có một bộ phận nhỏ của dân chúng mới có những vấn đề với rượu. “Tốt hơn thay thế thuật ngữ này bằng một từ ngữ như ” người có những rối loạn của alcoolisation” và thể hiện tốt hơn tính liên tục (continuum) hiện có giữa những người uống một đôi khi, hàng ngày hay quá mức “, GS Paille và BS Batel đã nhấn mạnh như vậy.
Cần thiết có biện pháp khác : ” Khiến tất cả những người hành nghề y tế hỏi bệnh nhân họ uống bao nhiêu ly mỗi ngày, cũng như cách mà họ lo ngại về sự tiêu thụ thuốc lá của những bệnh nhân này. Điều này cho phép những người trong tình trạng khó khăn sau cùng nói lên nỗi bận tâm của mình mà không ngại bị stigmatisé “, GS Henri-Jean Aubin (service d’addictologie thuộc bệnh viện Paul-Brousse ở Villejuif) đã nhận xét như vậy.
Đến lúc phải lo ngại về điều đó : thật vậy chỉ 8% những người có một vấn đề với rượu hiện được điều trị (thường là những trường hợp cực kỳ). ” Nói một cách khác, 92% không nhận được thông tin, lời khuyên, sự hỗ trợ cũng như điều trị, trong khi một can thiệp càng hiệu quả và có lợi cho sức khỏe, nếu được thực hiện sớm. Quả thật là phải khẩn cấp can thiệp ở thượng nguồn, nhờ một chính sách đầy tham vọng phòng ngừa, giáo dục, đào tạo nghiên cứu và điều trị toàn diện”, các GS Aubin và Paille đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 14/10/2013)

2/ TẠI SAO TA CẢM THẤYBỊ MẤT ỨC CHẾ KHI TA UỐNG ?
” Tu t’es vu quand t’as bu ? ” Khẩu hiệu nổi tiếng của một chiến dịch chống nghiện rượu vào đầu những năm 1990 minh họa rõ tác dụng làm mất ức chế (effet désinhibant) của rượu : nói cười không kềm chế, những động tác không chính xác, ego surdimpentionné… Làm sao giải thích một sự chi phối như vậy lên hành vi của chúng ta ? Đó là bởi vì rượu biến đổi quá trình nhận thức và vận động (processus cognitifs et moteurs). ” Lý thuyết khả dĩ nhất là sự kiện say sưa làm biến đổi hoạt tính của những vùng vỏ não trán (région corticale frontale), Mickael Naassila, Giám đốc của Groupe de recherche sur l’alcool et les pharmacodépendance (Inserm) đã giải thích như vậy. Thế mà những vùng này cho phép sự phân tích một tình huống, và do đó kiểm soát những hành vi của chúng ta.” Một khi cái hãm này bị lấy đi, người uống rượu tha hồ biểu lộ những cảm xúc và thèm muốn của mình mà không xét đến những hậu quả cũng như bối cảnh xã hội. Ở các neurone, rượu có hai tác dụng tai ác. Một mặt nó kích thích người tiêu thụ, đẫy người này hành động và nhận lãnh những nguy cơ. Mặt khác, nó ức chế hệ cảnh giác (système de vigilance) đứng trước sự nguy hiểm. Những tác nhân chịu trách nhiệm ? Những phân tử nhỏ éthanol, thành phần của rượu. Những phân tử này làm rối loạn sự tiết những chất hóa học cần thiết cho sự vận hành bình thường của não bộ. Như thế éthanol gia tăng sự phóng thích dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh có liên hệ trong système de récompense et d’addiction, điều này sẽ gây nên một tác dụng dễ chịu, đôi khi khoan khoái. Ngoài ra, éthanol trung hòa tác dụng của hai chất dẫn truyền thần kinh thiết yếu cho sự tri giác môi trường và duy trì khả năng cảnh giác : noradrénaline và sérotonine. Thế mà adrénaline cho phép phản ứng khi đứng trước sự nguy hiểm và sérotonine đóng một vai trò quan trọng trong tính cảm xúc và khí chất. Đó đúng là nguy cơ mà rượu gây nên, khi lái xe hay ở những nơi khác : ta cảm thấy tự tin trong khi tinh thần cảnh giác giảm đi !
(SCIENCE & VIE : QUESTIONS ET REPONSES)

3/ RƯỢU : MỘT NƯỚC UỐNG CÒN CÓ HẠI HƠN CHO CẢ PHỤ NỮ.
Không có sự bình đẳng giới tính đối với rượu và, sự kiện này sẽ phải được xét đến bởi những người có liên quan chính yếu và bởi chính quyền. ” Nếu nhìn toàn bộ, sự tiêu thụ rượu đã giảm từ những năm 1970, ngược lại nó đã gia tăng ở những thanh niên và ở các phụ nữ. Thế mà, một trong những lý do những người này đặc biệt dễ bị thương tổn là họ không có cùng équipement enzymatique như ở đàn ông : thí dụ, trong trường hợp tiêu thụ rượu cấp tính (alcoolisation aigue), sự thoái hóa của rượu bởi cơ thể họ là ít tốt hơn “, GS François Paille CHU Vandoeuvre-lès-Nancy đã giải thích như vậy.
Nhưng không phải chỉ có thế. ” Những công trình nghiên cứu, được thực hiện trong neurobiologie, đã cho thấy rằng khi ta cho thực hiện những công tác học tập (tache d’apprentissage) ở những ” binge drinker ” (điều này tương ứng với uống trên 4 ly trong cùng một lần), con gái có nhiều thiếu sót hơn so với con trai. Những tổn hại sẽ xuất hiện sớm hơn ở con gái, cũng như tình trạng phụ thuộc rượu, GS Mickael Naassila (Amiens) đã lấy làm lo ngại. Mặc dầu các thiếu niên dễ bị thương tổn hơn bởi vì não bộ của chúng không đủ thành thục để ức chế một hành vi không thích ứng (un comportement inadapté) (điều này khiến chúng tiếp tục), nhưng những rối loạn do sự tiêu thụ rượu (troubles de l’alcoolisation) liên quan đến tất cả các tầng lớp của xã hội.”
Tuy vậy vì những lý do văn hóa và vì ảnh hưởng của các lobbies, xã hội tiếp tục nhắm mắt. Thí dụ thai nghén là trường hợp khá điển hình. Phải cần nhiều năm tranh đấu để một logo nhỏ xíu sau cùng được dán vào các chai rượu, để khiến các phụ nữ có thể đừng uống rượu. Tuy thế điều này là quan trọng bởi vì không thể cho ngưỡng (seuil), qua đó việc uống rượu mặc dầu chỉ một đôi khi trong thời kỳ thai nghén có thể nguy hiểm. Ngoài ra có thể rằng ngưỡng này thay đổi tùy theo các phụ nữ (và di sản di truyền của họ), tùy theo thể trọng, giai đoạn thai nghén..
Về những hậu quả của một sự tiêu thụ rượu hàng ngày, lần này, chúng được biết nhiều hơn : ” một sự tiêu thụ mỗi ngày từ hai đến năm ly rượu có thể gây nên ở đứa trẻ sẽ sinh ra đời một sự chậm tăng trưởng, nhưng cũng một thương tổn não. Trên 5 ly, nguy cơ syndrome alcoolique foetal với những rối loạn quan trọng hành vi và chậm phát triển trí tuệ đúng là có thật. Ta không bao giờ được quên rằng rượu là nguyên nhân đầu tiên của rối loạn tâm thần không do di truyền ở trẻ em. Vậy đã đến lúc phải thay đổi cái nhìn đối với sản phẩm này, thật sự không phải là ân nhân đối với sức khỏe như các lobbies muốn trình bày với chúng ta, BS Philippe Batel (bệnh viện Beaujon) đã nhấn mạnh như vậy. Đó cũng là lý do tại sao chỉ có một thông điệp có thể chấp nhận được, đó là zéro alcool trong khi thai nghén…Và ngay cả, nếu có thể, ngay khi mong muốn có thai, bởi vì nhiều phụ nữ chỉ biết mình có thai vào tháng thứ hai hay thứ ba.
Hôm nay, ta hãy còn xa điều đó : theo ” Bulletin épidémiologique hebdomadaire “, khoảng 23% những phụ nữ có thai tiêu thụ rượu (một đôi khi hay lặp lại) trong khi có thai. Tuy vậy mục đích không phải làm nản lòng những bà mẹ tương lai, mà là để cứu các em bé tương lai. ” Một sự tiếp xúc sớm với rượu trong tử cung là một yếu tố tiên đoán của tình trạng nghiện rượu trong tương lai. Nói một cách khác, một đứa bé bị tiếp xúc với rượu trong tử cung sẽ có nhiều nguy cơ gặp về sau những rối loạn do sự tiêu thụ rượu hơn “, GS Nassila đã ghi chú như vậy. Có phải đúng điều đó mà xã hội mong muốn ? Đã đến lúc hãy tự vấn…
(LE FIGARO 14/10/2013)

4/ RƯỢU : HƯỚNG VỀ SỰ CHẤM DỨT CỦA GIÁO ĐIỀU KIÊNG CỮ.
Không những cái nhìn của chúng ta đối với sự tiêu thụ rượu quá mức đã lỗi thời. Cái nhìn của chúng ta đối với sự điều trị người bị những rối loạn những rối loạn do sự tiêu thụ rượu (trouble de l’alcoolisation)) cũng vậy. ” Trên 4 triệu người Pháp có một sự lạm dụng rượu (consommateur en mésusage d’alcool), 2,5 triệu có một sự tiêu thụ ruợu quá mức mà không bị phụ thuộc và, thường ngay cả không ý thức về điều đó. Những người này không cần phải có những điều trị phức tạp và, ở họ, một can thiệp nhẹ có thể là đủ. Thật vậy, không cần phải nhắm một cách hệ thống vào sự nhịn rượu hoàn toàn như ta nghĩ trước đây. Chỉ cần giảm sự tiêu thụ cũng đủ có những tác dụng rất dương tính lên sức khỏe, nhưng để thực hiện biện pháp này, còn phải nhận thức rằng ta uống quá nhiều ! Ta cũng biết rằng điều có hiệu quả, đó là điều mà bệnh nhân mong muốn : vậy đến lúc phải xét đến điều đó “, GS François Paille (CHU Vandoeuvre-lès-Nancy) đã giải thích như vậy.
NHỮNG ĐIỀU TRỊ MỚI
Ý kiến này được chia xẻ bởi GS Henri-Jean Aubin (bệnh viện Paul-Brousse ở Villejuif), đánh giá rằng những thầy thuốc đặt những affichette trong phòng đợi của bệnh nhân, rằng các brochure được phổ biến rộng rãi hơn (tại sao không trong các hiệu thuốc) và rằng site Alcool info service, được thực hiện bởi Viện phòng ngừa và giáo dục y tế quốc gia (www.alcoolinfoservice.fr) được tất cả mọi người biết đến. Ngoài ra GS Aubin nhắc lại rằng ” nhiều người trong tình trạng khó khăn cản trở không đến khám, bởi vì họ tin chắc rằng người ta sẽ đòi hỏi ở họ phải ngừng uống hoàn toàn, điều này bây giờ không còn như thế nữa “. Tóm lại, cần tác động hơn trên thượng nguồn, không phải chờ đợi sự xuất hiện những biến chứng gan, thần kinh hay ung thư rồi mới lo ngại “, GS Mickael Naassila (Amiens) đã nhấn mạnh như vậy.
Sự điều trị tốt hơn này, mà những người chuyên ngành y tế về nghiện rượu càng dễ thực hiện khi những loại thuốc mới, mặc dầu không diệu kỳ, bổ sung những phương tiện hành động của các thầy thuốc. Bên cạnh những điều trị đã cũ như acamprosate (Aotal, Campral) hay naltrexone (Revia, Nalorex)), những thuốc khác đã xuất hiện. ” Đó nhất là trường hợp của baclofène, cho phép vài bệnh nhân giảm sự tiêu thụ mà không cảm thấy tình trạng thiếu và, như thế, tìm lại một cuộc sống xã hội và nghề nghiệp : hiện nay thuốc này đang được nghiên cứu rộng rãi và những kết quả sẽ được biết từ nay đến cuối năm 2014. Đó cũng là trường hợp của oxybate de sodium (Xyrem), đang được đánh giá trong một công trình nghiên cứu quốc tế, và của topiramate (Topamax), một thuốc chống động kinh dường như tạo điều kiện để làm giảm sự tiêu thụ rượu, nhưng đối với loại thuốc này, những công trình nghiên cứu khác phải được tiến hành “, GS Paille đã ghi chú như vậy.
Và danh sách của các điều trị hẳn còn nhiều thêm : ” Nalméfène (Selincro), đã được Agence européenne des médicaments cho phép thương mãi hóa vào tháng ba năm 2013, sẽ không chậm trễ xuất hiện ở Pháp. Đó là một chất điều biến (modulateur) những thụ thể opioide, tác dụng lên cấu trúc não khen thưởng (structure cérébrale de récompense), làm cho sự thèm rượu ít thúc bách hơn, GS Aubin đã giải thích như vậy. Sau cùng, công cuộc nghiên cứu được tiếp tục với phương pháp kích thích từ qua sọ (stimulation magnétique transcrânienne), nhằm kích thích những tế bào não qua một từ trường, với những kết quả hiện nay còn chưa rõ ràng. Công trình nghiên cứu cũng được tiếp tục với kỹ thuật kích thích vùng sâu não (stimulation cérébrale profonde), nhằm đặt một điện cực giữ lưu (électrode à demeure) trong não : tuy nhiên vì tính chất xâm nhập của phương pháp này, lợi ích của nó sẽ được giới hạn vào những trường hợp phụ thuộc nặng, trong trường hợp thất bại tất cả các điều trị.
Mặc dầu sự xuất hiện của những điều trị mới là một tin vui, tuy vậy 4 chuyên gia của chúng ta đều nhất trí : ” Phải ngừng làm tin rằng một viên thuốc nhiệm màu sẽ giải quyết tất cả những vấn đề rượu, bởi vì tất cả chúng ta cũng đã gặp những thất bại với những điều trị này. Những nguyên nhân của những rối loạn do sự tiêu thụ rượu có nhiều, những profil của các bệnh nhân cũng vậy. Vậy không nên do dự dùng tất cả mọi phương tiện để ngăn cản những người rơi vào trong tình trạng quá độ, sau đó, để kéo những người bị liên hệ ra khỏi tình trạng này : điều đó được thực hiện với những điều trị này, nhưng cũng bởi những liệu pháp bổ sung, một sự theo dõi tâm lý, một sự giúp đỡ trong việc tái hội nhập và một cái nhìn khác đối với xã hội.”
(LE FIGARO 14/10/2013)

5/ BITURE VÀ NÃO BỘ, MỘT MAUVAIS COCTAIL.
Uống nhiều rượu và rất nhanh để đạt tình trạng say : binge drinking, hay biture express, đã trở thành những chuyện bình thường ở các thanh niên. Ngoài những nguy cơ tức thời đối với sức khỏe, cách uống này gây nên những thương tổn não nghiêm trọng.
” Se rendre minable”, “se prendre une mine ou une taule” : những thành ngữ không thiếu để gọi lên một sự tiêu thụ rượu quá mức, trong một thời gian ngắn, điều mà người ta gọi trong thế giới anglo-saxon binge drinking, ” biture express “, bằng tiếng Pháp, hay alcool défonce.
Việc làm này, nhằm uống nhiều và rất nhanh, không phải là mới. Nhưng từ đầu những năm 2000, phương thức này gia tăng mạnh ở những thanh niên, ngay thời thiếu niên. Thật vậy, đối với họ, biture express là một nghi lễ để chuyển qua tuổi trưởng thành (rite de passage vers l’âge adulte). Những hậu quả lên sức khỏe của những thanh niên này đôi khi bi thảm : trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, biture express có thể gây hôn mê rượu (coma éthylique) đưa đến chết. Thường nhất, cách uống này gây nên nhiều hành vi nguy cơ (comportements à risque), như lái xe trong tình trạng say hay những giao hợp không bảo vệ. Nhưng không phải chỉ có thế : theo những công trình nghiên cứu mới đây, binge drinking cũng có những hậu quả nghiêm trọng về lâu về dài lên não bộ và lên những hiệu năng nhận thức (performance cognitive). Nó sẽ làm gia tăng nguy cơ trở nên phụ thuộc rượu.
Để khảo sát một cách chính xác những tác dụng của nó, phải biết chính xác ta nói về điều gì. Thế mà quan niệm còn khá mù mờ : hiện nay, không có sự nhất trí về lượng rượu tối thiểu từ đó ta có thể nói là binge drinking. Theo vài định nghĩa, ngưỡng là 6 đến 7 ly chuẩn (hoặc tổng cộng từ 60 đến 70 g éthanol thuần chất). Những định nghĩa khác đưa ra một nồng độ cồn huyết (alcoolémie) ít nhất 0,8 g mỗi lít máu. Dĩ nhiên, những tiêu thụ trên những ngưỡng này thường được gặp và được các thanh niên khai báo. Để nhắc lại, giới hữu trách y tế Pháp khuyến nghị không bao giờ được uống hơn 4 ly rượu mỗi lần. Cuối cùng binge drinking có thể được định nghĩa như là một sự tiêu thụ rượu với số lượng lớn và nhanh, tiếp theo sau bởi một thời kỳ kiêng uống.
Trong 10 năm qua, loại tiêu thụ này đã lan tràn ở các thanh niên Pháp. Những công trình nghiên cứu khác nhau đã phát hiện quy mô của hiện tượng. Một điều tra của Pháp về sức khỏe và những tiêu thụ ma túy, được mệnh danh Escapad, năm 2011, đã báo cáo một sự gia tăng đáng kể những tình trạng say lặp lại (ivresse répétée : ít nhất 3 lần mỗi năm) và những tình trạng say đều đặn (ivresse régulière : ít nhất 10 lần mỗi năm) ở những thanh niên 17 tuổi. Và 53,2% những thanh niên nói là đã uống ít nhất 5 ly trong cùng một lần, trong tháng vừa qua.
Hiện tượng này gây quan ngại : nhiều trường hợp tử vong của các thanh niên, sau những soirée uống nhiều, được báo chí báo cáo và những khoa cấp cứu chứng thực một sự gia tăng những trường hợp nhập viện vì ngộ độc rượu.Không hiếm thấy đến trong những service d’hépatologie những thanh niên từ 20 đến 25 tuổi với những thương tổn ở gan, điều này thể hiện những tiêu thụ rượu với số lượng lớn từ lúc bắt đầu thời thiếu niên, thậm chí préadolescence. Tuy vậy, những hậu quả của binge drinking chỉ là mặt nổi của hiện tượng. Cách uống này có những nguy hiểm khác về lâu về dài đối với não của những người tiêu thụ.
NHỮNG CHỨC NĂNG NHẬN THỨC VÀ CHẤP HÀNH BỊ BIẾN ĐỔI.
Giữa 15 và 25 tuổi, não bộ chưa chấm dứt quá trình thành thục. Vậy nó đặc biệt dễ bị thương tổn đối với rượu. Những công trình nghiên cứu được tiến hành trên những động vật gặm nhấm cho thấy rằng một sự tiêu thụ rượu với số lượng lớn như binge drinking giết chết 2-3 lần nhiều neurone ở một động vật nhỏ hơn ở một con vật trưởng thành. Ở tuổi thiếu niên, những cơ chế thiết yếu cho sự phát triển não vẫn còn hoạt động, đặc biệt điều mà ta gọi là ” élégage synaptique “. Đó là một quá trình trong đó những synapse vô ích bị loại bỏ và những synapses khác được duy trì, tăng cường hay được thiết lập mới. Elagage này làm cho có thể thực hiện một xử lý phức tạp hơn và hiệu quả hơn những thông tin. Thế mà nó bị làm rối loạn bởi rượu.
Chính vì vậy binge drinking có một hậu quả quan trọng lên những năng lực nhận thức của các thanh niên : nó biến đổi trí nhớ giai đoạn (mémoire épisodique), trí nhớ công tác, planification hay kiểm soát những xung động (impulsion). “Gueule de bois” càng mạnh, sự giảm những hiệu năng học tập và ghi nhớ càng nhiều. Ngoài ra, biture express gia tăng những cảm xúc âm tính và làm khó chịu đựng được stress. Một trạng thái lo âu-trầm cảm (état anxiodépressif) có thể xuất hiện, đôi khi đi đến xuất hiện những ý nghĩ tự tử (idées suicidaires). Khi trở nên trưởng thành, những binge drinker bị những rối loạn stress và khí chất, cũng như những khó khăn trong điều hòa những cảm xúc.
Những quan sát lâm sàng này được hỗ trợ bởi những công trình nghiên cứu thần kinh sinh học được tiến hành ở động vật. Vào năm 2012, Todd Thiele và kíp nghiên cứu của ông thuộc đại học Caroline du Nord (Hoa Kỳ) đã cho các con chuột chịu một sự tiêu thụ rượu giống với biture express ở tuổi thiếu niên. Rồi họ đã hy sinh các con vật để phân tích não bộ của chúng. Kết quả, họ đã quan sát trong amygdale, vùng trung ương trong sự điều hòa những cảm xúc, một sự biến đổi của một phân tử được gọi là CRF (Corticotropin Releasing Factor), rất có liên hệ trong sự quản lý stress và tình trạng lo âu.
NHỮNG BIẾN ĐỔI NÃO CƠ THỂ HỌC.
Ở người, nhiều thương tổn não cơ thể học do binge drinking đã được phát hiện nhờ chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ (IRM). Những biến đổi này ảnh hưởng chất xám, nghĩa là những thân tế bào của các neurone và chất trắng, những sợi trục tạo nên câblage của các circuit neuronal. Như thế nhiều nhóm nghiên cứu đã chứng thực một sự giảm thể tích của hippocampe và những vùng vỏ não trán và trước trán khác nhau, liên kết với những thương tổn của những chất trắng và xám này.Thế mà những cấu trúc não này đóng một vài trò rất quan trọng trong những quá trình học tập, ghi nhớ và trong những chức năng thi hành (fonction exécutive), nghĩa là những năng lực phán đoán, kế hoạch hóa và ức chế một hành vi.
Ngoài những thương tổn thần kinh sinh lý này, binge drinking chịu trách nhiệm những hoạt động não bất thường, nhất là trong những vùng chẩm, hải mã, trán và trước trán. Nó cũng gây nên những bất thường về sự nối kết (connectivité) giữa những cấu trúc vỏ não và limbe có liên hệ trong sự nghiện. Đó là điều được phát hiện những công trình nghiên cứu chụp hình ảnh não bộ được tiến hành ở những binge drinker bằng chụp hình ảnh cộng hưởng từ chức năng (IRM fonctionnelle) hay ghi những potentiels évoqués.
Nhưng những thương tổn đặc hiệu do binge drinking, so với những thương tổn gây nên bởi những dạng tiêu thụ rượu khác vẫn còn cần được xác định với sự chính xác hơn. Một projet franco-anglais, được mệnh danh AlcoBinge với sự tham gia của kíp của chúng tôi, có lẽ sẽ cho phép biết nhiều hơn. Thật vậy, trong projet này, chúng tôi so sánh một nhóm binge drinker không phải với những người không uống, như phần lớn những công trình nghiên cứu thực hiện, mà với những người uống thuộc một loại khác, những người uống xã hội (buveur social), đã trở nên bị phụ thuộc rượu.
Hiện nay, chúng tôi đã quan sát, như những kíp khác đã làm, những tương tự giữa vài loạn năng não do biture express và những loạn năng hiện diện ở những người trưởng thành phụ thuộc rượu : binge drinking và nghiện rượu có thể tương ứng với hai giai đoạn của cùng hiện tượng.
MỘT KHUYNH HƯỚNG NGHIỆN RƯỢU
Như thế binge drinking phải chăng có thể làm dễ sự nghiện rượu ở tuổi trưởng thành ? Thật vậy những công trình nghiên cứu dịch tễ học mới đây chỉ rõ rằng những thương tổn thần kinh sinh học gây nên bởi binge drinking có thể góp phần vào. Rất mới đây phòng thí nghiệm của chúng tôi đã chứng minh rằng những con chuột bị ngộ độc rượu lặp lại ở tuổi thiếu niên mất sự kiểm soát tiêu thụ rượu ở tuổi trưởng thành, và có một động cơ gia tăng bất thường tiêu thụ rượu. Những con vật này trở nên ít nhạy cảm hơn với những tác dụng dễ chịu cũng như khó chịu của rượu, điều này giải thích tại sao chúng tiêu thụ nhiều hơn.
Khi chúng bị nhiễm độc rượu lần nữa ở tuổi trưởng thành, chúng có một sự giảm kích hoạt của noyau accumbens, cấu trúc nằm sâu trong não liên quan với những tác dụng dễ chịu của rượu và của các chất ma túy nói chung. Những nhiễm độc rượu lặp lại để lại những dấu vết dài lâu trong cấu trúc này : những gène khác nhau liên quan trrong nghiện rượu và trong những bệnh tâm thần khác có những biểu hiện bị biến đổi vào lần nhiễm độc đầu tiên ở tuổi niên thiếu, nhưng cũng khi tiếp xúc lại rượu ở tuổi trưởng thành.
Mặc dầu những dữ kiện báo động này, áp lực xã hội trong giới sinh viên trội hơn ảnh hưởng của cha mẹ, đến độ binge drinking được duy trì như một rite d’appartenance et de reconnaissance. Ở Pháp binge drinking lan rộng, khiến con gái tiêu thụ như con trai và theo những phương thức ngày càng quá mức.
LES DOSSIERS DE LA RECHERCHE : ADDICTIONS

6/ ” BITURE EXPRESS” : NÃO BỘ CỦA CÁC THIẾU NIÊN CỤNG LY.
Những sự tiêu thụ rượu cấp tính (alcoolisation aigue) này gây nên những thương tổn của não bộ còn đang phát triển.
ADDICTION. Những hôn mê rượu (coma éthylique) hay lại nữa những tai nạn xe cộ, những “bitures express” (binge drinking của các Anglo-Saxons) có thể kết thúc một cách bi thảm. Những cách tiêu thụ rượu này, từ nay liên hệ khoảng 1 thiếu niên trên hai ở Pháp, cũng có những hậu quả lâu dài hơn, mặc dầu ít ngoạn mục hơn nhưng cũng gây quan ngại. Những tài liệu xuất bản khoa học gia tăng trong lãnh vực này, và tất cả đều đi theo cùng một hướng. Mặc dầu được cách quãng bởi những thời kỳ kiêng khem, sự tiếp nối ” bitures express” (được định nghĩa như là hấp thụ ít nhất 5 ly rượu cùng một lúc) làm hỏng não bộ đang còn trong giai đoạn phát triển của những thiếu niên. Công trình nghiên cứu mới nhất, được công bố trong những báo cáo của Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ (PNAS), mô tả một cách chính xác những thương tổn ở hồi hải mã (hippocampe). Vùng nhỏ bé này, nằm ở thùy thái dương, đóng một vai trò chủ chốt trong những quá trình học hỏi và ghi nhớ, nhất là những thông tin không gian.
Trong những năm qua, những chụp hình ảnh não những người trưởng thành và ngay cả những thiếu niên đã cho thấy rằng sự tiêu thụ liên tiếp rượu gây nên một sự giảm thể tích của hồi hải mã (hippocampe), điều này có thể giải thích một phần những rối loạn trí nhớ ở những người nghiện rượu. Những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, công bố trong PNAS, đã đi xa hơn. Bằng cách phẫu tích não của những macaque trẻ tuổi, bị trong 11 tháng một chế độ binge drinking, tiếp theo bởi một kiêng khem 2 tháng, Michel Taffe (Đại học Californie La Jolla) đã phát hiện một sự thiết sót trong sự hình thành và phát triển của các neurone trong vùng quan trọng này đối với trí nhớ.”
Hồi hải mã không phải là vùng duy nhất bị hỏng do tình trạng nhiễm độc rượu sớm. Theo những công trình nghiên cứu ở chuột, vỏ não trán (cortex frontal), đặc biệt can thiệp trong sự kiểm soát impulsivité, cũng đặc biệt dễ bị thương tổn trong thời kỳ niên thiếu. Còn cần phải xác nhận ở người. Đó là điều mà một công trình nghiên cứu châu Âu dự kiến thực hiện. Công trình này được chỉ đạo bởi Mickael Naassila (Inserm, Amiens), mà kíp nghiên cứu là kíp duy nhất ở Pháp khảo sát tình trạng phụ thuộc rượu và sự tiêu thụ rượu sớm (alcoolisation précoce). Công tác với những người Anh, nhà nghiên cứu này sẽ khảo sát não của hàng trăm sinh viên năm thứ nhất, nhờ những trắc nghiệm thần kinh tâm lý và những thăm dò chụp cộng hưởng từ chức năng. ” Trên nguyên tắc, quá trình thành thục não bộ kéo dài đến tận 20-25 tuổi, Mickael Naassila đã giải thích như vậy. Ở những binge drinker, chúng tôi trông chờ quan sát một sự chậm thành thục của vỏ não, đặc biệt vùng trán. Chúng tôi cũng nghi ngờ một tăng hoạt tính ở hạnh nhân (amygdale), có liên hệ trong những cảm xúc và chứng nghiện.”
Một điều chắc chắn, những thương tổn cơ thể học này không phải là vô hại. Một điều tra, được tiến hành mới đây ở Anh, kết luận rằng những thiếu niên môn đồ của những ” binge express” bị những biến đổi của mémoire prospective (tương ứng với năng lực nhớ là đã thực hiện một hành động đã được nghĩ trước như đến hẹn khám ở một nha sĩ, trả tiền một hóa đơn…). Những thầy thuốc người Bỉ đã chứng thực rằng những sinh viên binge drinker bị một ảnh hưởng rõ rệt của hoạt động não so với những sinh viên không uống rượu.
Mối quan tâm khác của các nhà nghiên cứu là xác định sự tiêu thụ rượu sớm có làm dễ sự tiến triển thành mộ sự tiêu thụ rượu mãn tính (alcoolisation chronique hay những chứng nghiện khác không “, Mickael Nassila đã xác nhận như vậy. Trong một thí nghiệm, những con chuột gặm nhấm được cho bắt đầu sớm ” biture express ” sau đó có động cơ muốn tiêu thụ rượu hai lần nhiều hơn.
NHỮNG TÁC DỤNG GIẢI ƯU
Chúng cũng ít nhạy cảm hơn đối với những tác dụng âm tính của một sự tiêu thụ cấp tính (như chứng ngủ gà) và rất bị chứng lo âu. Những kết quả gợi ý rằng vài thiếu niên nhờ đến rượu do những tác dụng an thần của nó. ” Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã chứng minh rằng khi sự tiêu thụ rượu bắt đầu trước 18 tuổi nguy cơ phụ thuộc rượu được nhân lên 3,8 “, BS Philippe Arvers (Institut de recherche biomédicale des armées, Grenoble) đã xác nhận như vậy. Bằng cách lấy lại những dữ kiện điều tra Phap, nhà dịch tễ học này cũng đã xác lập rằng sự tiêu thụ rượu sớm tương ứng với những hành vi nghiện (comportement d’addiction) khác. ” Sau thí nghiệm đầu tiên với rượu, sự say sưa đầu tiên và thí nghiệm với thuốc lá và cannabis xảy ra vào năm sau “, ông đã ghi nhận như vậy.
Đứng trước bệnh dịch binge drinking ở Pháp (45% các thiếu niên uống theo cách thức này một lần mỗi tháng, 5% hơn mười lần mỗi tháng), những chương trình phòng ngừa phát triển trong trường học, trong các đại học…
(LE FIGARO 7/6/2010)

7/ NHỮNG HƯỚNG MỚI CHỐNG NGHIỆN RƯỢU
Tính dễ thương tổn (vulnérabilité) của chúng ta đứng trước sự nghiện rượu phần lớn tùy thuộc vào những yếu tố di truyền. Chẳng bao lâu nữa, những điều trị sẽ có thể được thích ứng đối với mỗi bệnh nhân tùy theo di sản di truyền (patrimoine génétique) của bệnh nhân này.
Ở Pháp, mỗi năm rượu trực tiếp hay gián tiếp giết 49.000 người. Sự tiêu thụ rượu quá mức gây nên những tai nạn xe cộ, những vụ tự tử hay những bệnh tâm thần. Nó cũng gây nên những ung thư cũng như những bệnh tim mạch và tiêu hóa.
Rượu trở nên độc hại trong hai trường hợp. Hoặc là khi nó được tiêu thụ một cách đều đặn với số lượng quá mức, bắt đầu từ 3 ly mỗi ngày đối với đàn ông và hai ly mỗi ngày đối với phụ nữ (1 ly chuẩn chứa 10 g éthanol thuần chất). Hoặc là khi nó được tiêu thụ một cách một đôi khi nhưng với số lượng quá mức, nghĩa là từ 4 ly mỗi lần).
Ở Pháp, trong số 5 triệu người có một sự tiêu thụ rượu có nguy cơ (une consommation d’alcool à risque), một nửa trong số những người này đã hoàn toàn không thể kiêng khem : họ trở nên bị phụ thuộc (dépendant). Sự tiêu thụ rượu lâu dài của họ làm họ bị những vấn đề nghiêm trọng về sức khoẻ. Thật vậy, khác với những chất ma túy khác, rượu không biết một rào chặn nào trong cơ thể : nó đi xuyên qua màng của các tế bào và đi vào đến tận nhân, ở đây rượu có thể làm biến đổi sự biểu hiện của các gène.
Rượu là một trong những phân tử độc nhất đối với não bộ, bởi vì nó làm xáo trộn sự liên lạc giữa các neurone. Rượu đặc biệt kềm hãm quá trình thành thục của não bộ trong sự phát triển. Rượu cũng ảnh hưởng nhiều cơ quan khác, như tim và gan. Chứng nghiện rượu là một trong những yếu tố chính chịu trách nhiệm sự mất đi năm sống lành mạnh, với tình trạng suy dinh dưỡng và những giao hợp không được bảo vệ. Và những hậu quả của nó về mặt y tế gây tổn phí cho xã hội Pháp 16 tỷ euro mỗi năm.
Vì lẽ những tổn hại gây nên bởi rượu từ nhiều năm, tại sao ta không thành công hiệu chính những điều trị hiệu quả ? Đó là bởi vì sự nghiện rượu là một bệnh đa dạng đã không được xác định một cách hoàn hảo.
Rất thường bị stigmatisé, những người nghiện rượu họp thành một population hétérogène những bệnh nhân mà rối loạn không được nghiên cứu một cách đủ chính xác. Thật vậy, những điều trị thuốc và tâm lý liệu pháp hiện nay chỉ có hiệu quả trong một số giới hạn các trường hợp. Và phần lớn các bệnh nhân tái phát chỉ vài tháng sau khi bắt đầu điều trị.
CÁ THỂ HÓA NHỮNG ĐIỀU TRỊ
Vì lẽ có nhiều dạng nghiện rượu, do đó ngày nay ta nghĩ rằng không có một điều trị nào có thể hiệu quả ở tất cả những bệnh nhân. Nói một cách khác, phải điều trị mỗi loại bệnh nhân một cách đặc thù. Ý tưởng về một sự cá thể hóa những điều trị không phải là mới. Ý nghĩ này xuất hiện vào những năm 1980, thời kỳ trong đó khoảng một chục xếp loại đã được đề nghị. Những xếp loại này xác định những loại phụ thuộc rượu phát xuất từ những quan sát lâm sàng. Những quan sát được biết nhất là những quan sát được xác lập vào năm 1987 và 1988 bởi những thầy thuốc tâm thần Hoa Kỳ Thomas Babor và Claude Cloninger.
Sự xếp loại này tính đến những dạng khác nhau mà bệnh có thể có, với những yếu tố như bệnh sử gia đình của chứng nghiện rượu, tuổi của lần say rượu đầu tiên (điều mà ta gọi là bắt đầu uống rượu, có thể sớm, trước 25 tuổi hay muộn, sau 45 tuổi), loại nhân cách (chống xã hội…), những vấn đề gây nên bởi sự tiêu thụ rượu (gia đình, xã hội, tâm thần). Mục tiêu là có thể xác định điều trị hiệu quả nhất đối với mỗi loại bệnh nhân. Thật vậy nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng những xếp loại này cho phép tiên đoán tính hiệu quả của những điều trị tùy theo profil của bệnh nhân. Tuy vậy, đã không tìm thấy một sự nhất trí nào về tính hữu ích lâm sàng của chúng.
Vào giữa những năm 1990, ý tưởng cá thể hóa những điều trị đã trải qua một phát triển mới, với những bước đầu của pharmacogénétique. Môn học này nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của di sản di truyền lên đáp ứng với một điều trị. Từ những năm 1970, ta biết rằng những yếu tố di truyền góp phần đến 50% vào nguy cơ phát triển một sự nghiện rượu : những công trình nghiên cứu, được tiến hành trên một số lượng lớn những bệnh nhân, đã cho phép khám phá nhiều biến thể di truyền làm dễ sự phát triển bệnh. Phần lớn những biến thể này tương ứng với sự thay đổi của một base nucléique duy nhất của ADN. Base này liên quan đến những gène de neurotransmetteur hay d’enzymes, liên quan trong những cơ chế phụ thuộc. Đồng thời nhiều quan sát lâm sàng đã cho thấy rằng đáp ứng với những điều trị rất thay đổi ở các cá thể. Sau cùng, những công trình nghiên cứu đã phát hiện rằng những bệnh nhân có được những tác dụng có lợi với cùng một điều trị thường có chung một hay nhiều biến thể di truyền.
Phát xuất từ những yếu tố này, những công trình nghiên cứu pharmacogénétique đã bắt đầu trắc nghiệm tính hiệu quả của vài điều trị ở những nhóm bệnh nhân mang cùng một biến thể di truyền. Công trình nghiên cứu đầu tiên, được tiến hành theo chiều hướng này vào năm 1995 bởi một kíp nghiên cứu người Úc, đã lưu tâm đến tính hiệu quả của bromocriptine. Thuốc này là một chất đối kháng của dopamine, chất dẫn truyền thần kinh có liên hệ trong cảm giác khoái lạc. Bởi vì những công trình trước đây đã cho thấy rằng một biến thể nào đó (allèle A1) của một gène mã hóa những thụ thể của dopamine loại D2 được liên kết với một tính dễ thương tổn lớn hơn đối với rượu.
Do đó những nhà nghiên cứu Úc đã trắc nghiệm tính hiệu quả của bromocriptine ở những người phụ thuộc rượu mang biến thể này. Họ đã chứng thực rằng những người này có được những tác dụng có lợi quan trọng hơn những bệnh nhân mang một biến thể khác của cùng gène (allèle A2).
LÀM PHONG PHÚ NHỮNG PHƯƠNG TIỆN ĐIỀU TRỊ
Sau công trình nghiên cứu này, những loại thuốc khác đã được trắc nghiệm ở những bệnh nhân có những biến thể di truyền khác nhau. Trong số những loại thuốc này, có 3 loại thuốc hiện nay được chấp thuận để điều trị tình trạng phụ thuộc rượu (alcoolodépendance) : naltrexone (Nalorex), disulfiram (Antabuse) và acamprosate (Campral). Những loại thuốc này có một tính hiệu quả thấp ở đại đa số các bệnh nhân, và 70% những người được điều trị tái phát sau một năm. Với những tiến bộ của pharmacogénétique, những loại thuốc này có thể được kê đơn một cách đặc hiệu hơn cho vài bệnh nhân mà chúng có hiệu quả hơn.
Nhưng, để thật sự cá thể hóa những điều trị tùy theo tất cả các loại phụ thuộc rượu, phải có một arsenal thérapeutique phong phú hơn là 3 loại thuốc được chấp thuận hiện nay. Chính vì vậy mà cũng hiện nay ta trắc nghiệm ở người những loại thuốc, mặc dầu chưa được chấp thuận để điều trị phụ thuộc rượu, nhưng đã được xác nhận trên những mô hình động vật của bệnh.
Ở Pháp, 3 loại thuốc hiện đang đặc biệt được nghiên cứu : baclofène, GHB và nalméfène. Từ đầu những năm 2000, có nhiều công trình nghiên cứu pharmacogénétique trắc nghiệm những loại thuốc khác nhau này. Hiện nay, trên bình diện quốc tế, những kết quả đáng lưu ý nhất đã có được với naltrexone ở những người mang biến thể A118G của một gène mã hóa những thụ thể mu, nằm trên màng của vài neurone. Những thụ thể này chuyên tiếp nhận những opioides endogènes, được phóng thích trong não, nhất là khi ta tiêu thụ rượu ; sự phóng thích opioides này làm gia tăng sự phóng thích dopamine trong circuit de récompense. Thế mà, biến thể A118G làm gia tăng tính nhạy cảm của các thụ thể mu đối với opioides. Kết quả, ở những người mang biến dị này, rượu gây nên một sự phóng thích dopamine quan trọng hơn. Do đó họ có nhiều nguy cơ phát triển một tình trạng phụ thuộc hơn.
Vào năm 2003, một kíp Hoa Kỳ đã cho thấy rằng những người mang biến thể A118G đáp ứng đặc biệt tốt với naltrexone. Thuốc này là một chất đối kháng của thụ thể mu của các opioides. Do đó nó làm giảm sự thèm rượu và nguy cơ tái phát. Những nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng 90% những bệnh nhân mang biến thể A118G có được những tác dụng có lợi với naltrexone sau hai tuần điều trị, trong khi tỷ lệ này là 50% ở những bệnh nhân khác. Và, trong số những người mang biến thể này, những người được lợi nhất bởi điều trị này là những người có một phụ thuộc sớm và tiêu thụ rượu vì những tác dụng dễ chịu của chúng.
ĐÁNH GIÁ TỐT HƠN TÍNH HIỆU QUẢ CỦA MỘT LOẠI THUỐC
Loại thuốc khác với những kết quả chứng thực là ondansétron, một thuốc chống trầm cảm đã được trắc nghiệm chống nghiện rượu. Thuốc này ức chế hoạt tính của những thụ thể loại 3 của sérotonine, điều này làm giảm nồng độ của chất dẫn truyền thần kinh có nhiệm vụ kiểm soát những xung động này. Vào năm 2011, kíp của Bankole Johnson, thuộc đại học Virginie (Hoa Kỳ) đã chứng minh rằng thuốc này hiệu quả hơn nhiều ở những bệnh nhân mang vài biến thể của gène mã hóa chất vận chuyển của sérotonine. Ở những bệnh nhân này ondansétron làm giảm một cách hiệu quả hơn số ly rượu được tiêu thụ và làm gia tăng số những ngày kiêng khem. Cùng kíp nghiên cứu vào năm 2013 đã khám phá rằng tính hiệu quả của ondansétron tùy thuộc vào một sự phối hợp của những biến thể di truyền ở vài bệnh nhân.
Những kết quả tốt đã có được với những loại thuốc khác, nhưng ít rõ rệt hơn. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ, vào năm 2006, đã quan tâm đến olanzapine (thuốc chống bệnh tâm thần phân liệt) mà người ta hiện nay đang thử nghiệm chống sự phụ thuộc rượu. Kíp nghiên cứu đã chứng tỏ rằng loại thuốc này hiệu quả hơn ở những người mang một biến thể của gène mã hóa thụ thể của dopamine D4. Nó gây nên một sự giảm rõ rệt hơn sự tiêu thụ rượu và craving.
Vào năm 2011, kíp của Henry Kranzler, thuộc đại học Pensylvanie (Hoa Kỳ) đã trắc nghiệm sertraline (một thuốc chống trầm cảm) ở những bệnh nhân có biến thể LL của gène mã hóa thụ thể của dopamine D4. Thuốc đã được cho trong 12 tuần. Trong số những bệnh nhân, một số đã trở nên phụ thuộc rượu muộn, sau 45 tuổi, một số khác phụ thuộc rượu sớm, trước 25 tuổi. Kết quả gây bối rối : ở những bệnh nhân đầu tiên, sự tiêu thụ rượu và số ngày tiêu thụ mạnh bị giảm, trong khi ở những bệnh nhân thuộc nhóm hai, những người trẻ hơn, số ngày tiêu thụ lại gia tăng !
NHẬN DIỆN NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ.
Ngoài hy vọng một ngày nào đó có thể tiên đoán tính hiệu quả của một điều trị, pharmacogénétique còn có một lợi ích khác : nó cho phép nhận diện những cá nhân có thể nhạy cảm nhất đối với những tác dụng phụ của các loại thuốc. Thí dụ, kíp của Lana Ray thuộc đại học Brown ở Providence (Hoa Kỳ), vào năm 2009, đã chứng minh rằng một biến thể di truyền nào đó được liên kết với những tác dụng phụ nghiêm trọng hơn khi được điều trị với topiramate, thuốc chống động kinh được trắc nghiệm chống phụ thuộc rượu. Biến thể di truyền này tương ứng với sự thay đổi của một bazơ của ADN ở gène mã hóa một thụ thể của glutamate.
Trong những công trình nghiên cứu khác nhau này, các nhà nghiên cứu đã chỉ trắc nghiệm một loại thuốc duy nhất. Phòng thí nghiệm của chúng tôi đã đi hơi xa hơn. Lần đầu tiên trên thế giới, chúng tôi đã đối chiếu tính hiệu quả của hai điều trị chống nghiện rượu ở những bệnh nhân có những biến thể di truyền khác nhau. Chúng tôi đã chọn lọc 108 bệnh nhân có những biến thể của 7 gène mã hóa những thụ thể của các chất dẫn truyền thần kinh. Chúng tôi đã khảo sát tác dụng của naltrexone lên 52 bệnh nhân và tác dụng của acamprosate (thuốc được cho là làm giảm những nguy cơ tái phát) trên 56 bệnh nhân khác. Những kết quả được công bố năm 2009 đã tiết lộ rằng tính hiệu quả của mỗi điều trị tùy thuộc vào một sự phối hợp của những biến thể di truyền, hơn là chỉ một biến thể.
Cần có những công trình nghiên cứu để xác nhận những kết quả này với một số lượng bệnh nhân quan trọng hơn, và để xem những hậu quả lâu dài hơn, đặc biệt là lên sự tái phát. Nhưng một điều chắc chắn, tính dễ thương tổn di truyền đối với một bệnh tùy thuộc vào nhiều biến thể và mỗi biến thể có lẽ chỉ đóng một vai trò nhỏ. Chính vì vậy mà ta nói rằng bệnh này là do nhiều gène (multigénique). Vậy trong tương lai phải hiệu chính một algorithme để cho phép tính điều trị nào thích ứng nhất cho mỗi bệnh nhân tùy theo những biến thể di truyền khác nhau của nó. Ngoài ra, tình trạng phụ thuộc rượu do một sự tương tác giữa những yếu tố di truyền và môi trường. Vậy algorithme cũng phải dựa vào những thông tin sẵn có về người bệnh : những thông tin về sinh học, démographique, hành vi…
PHÂN TÍCH GENOME ĐỂ CÓ MỘT ĐIỀU TRỊ TỐT HƠN.
Vào lúc này, sự cá thế hóa (personnalisation) những điều trị phụ thuộc rượu còn thuộc về lãnh vực của nghiên cứu. Nhưng trong những thập niên đến, có thể rằng nó sẽ trở thành một thực tế trong lâm sàng, đặc biệt nhờ những technique de séquençage et d’analyse du génome. Thật vậy, ngày nay có thể xét đến việc xác định toàn bộ génome của một người và épigénome (nghĩa là toàn bộ những biến đổi hóa học của ADN và của những protéine liên kết có nhiệm vụ kiểm soát sự biểu hiện của các gène). Tất cả điều đó có thể được thực hiện trong vài phút với một trăm euro. Trong tương lai, những thông tin này sẽ cho phép hướng điều trị trên cơ sở những yếu tố nguy cơ đặc hiệu, di truyền và sinh học.
Để đạt được điều đó, nhiều giai đoạn vẫn cần phải vượt qua. Thí dụ, phải thành công kết hợp sự nhận diện những biến thể di truyền (variant génétique) với sự nhận diện những chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) khác, như sự kích hoạt não đáp ứng với những kích thích liên kết với rượu hay với sự phóng thích dopamine gây nên bởi rượu. Đó cũng là suy nghĩ cách thực hiện génotypage của những bệnh nhân phụ thuộc rượu, không phải trong mục đích nghiên cứu, mà để hỗ trợ nhà lâm sàng trong việc lựa chọn điều trị sẽ có nhiều may mắn thành công nhất.
LES DOSSIERS DE LA RECHERCHE : ADDICTIONS

8/ BACLOFENE ĐƯỢC CHO PHÉP ĐỂ CHỐNG NGHIỆN RƯỢU
Trước cuối hè vừa qua, một khuyến nghị sử dụng tạm thời sẽ cho phép các thầy thuốc chính thức kê đơn thuốc giãn cơ này (décontracturant musculaire), sẽ có thể chữa lành 50% những người uống rượu.
Một quyết định được mong chờ từ lâu bởi các bệnh nhân và thầy thuốc.
Tổng giám đốc của ANSM (Agence nationale de sureté du médicament), Dominique Maraninchi, đã hứa một khuyến nghị sử dụng tạm thời (RTU : recommendation temporaire d’utilisation) nhân một colloque về sự sử dụng thuốc này chống lại tình trạng phụ thuộc ruợu (alcoolo-dépendance), được tổ chức ở bệnh viện Cochin, Paris. Một quyết định đã mang lại một sự nhẹ nhõm trong số những bệnh nhân và người kê đơn, bởi vì baclofène từ nay sẽ có thể được kê đơn hợp pháp, chứ không còn ngoài quy chế như hiện nay. Thật vậy, vào năm 1997 loại thuốc này đã được phép thương mãi hóa như là thuốc giãn cơ (décontractant musculaire), chứ không phải là điều trị chống nghiện rượu. RTU sẽ cho phép rất nhiều thầy thuốc kê đơn baclofène cho các bệnh nhân mà không có nguy cơ.
Sự áp dụng mới này của baclofène trong phụ thuộc rượu đã được tiết lộ vào tháng 12 năm 2004 bởi GS Olivier Ameisen trong một bài báo của tạp chí Alcohol and Alcoholism. 4 năm sau sự công bố này, cuốn sách Le Dernier Verre đã mang lại cho ông một tiếng vang to lớn trong công chúng, làm bùng nổ sự bán thuốc générique bị bỏ quên này. Tuy vậy điều này không làm quan tâm những hãng bào chế. Novartis không thấy lợi ích khi phải lăn mình vào một công trình nghiên cứu lâm sàng để đánh giá một cách chính xác tính hiệu quả của thuốc này trong điều trị alcoolo-dépendance.
Thế mà, gần một thập niên sau khám phá của Olivier Ameisen, tình hình của baclofène ở Pháp cuối cùng thoát khỏi mọi sự kiểm soát của pharmacovigilance. Số người sử dụng gia tăng mỗi năm, đạt đến hơn 50.000 người có một toa thuốc để có một điều trị mặc dầu không được công nhận chính thức!
3 thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành để đánh giá sự sử dụng của baclofène chống bệnh nghiện rượu. Một ở Hòa Lan và hai ở Pháp : Bacloville, được cho phép vào tháng tư 2012, và Alpadir, được phát động vào tháng 10 năm qua. Chúng sẽ cho những kết quả vào cuối năm 2014.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2013)

9/ BACLOFENE, THUỐC NHIỆM MÀU CHỐNG NGHIỆN RƯỢU ?
Baclofène đã làm tuôn tràn nhiều mực từ khi ở Pháp được giáo sư Olivier Ameisen cổ võ sử dụng để điều trị chứng nghiện rượu. Ông này, vừa qua đời vào mùa hè năm nay, chính ông lại là người bị phụ thuộc rượu, nói đã được chữa lành bởi sản phẩm này và đã kể câu chuyện của mình trong một cuốn sách Le Dernier Verre, xuất bản năm 2008. Cuộc tranh luận khi đó đã nổ ra ở Pháp chung quanh loại thuốc này, được kê đơn để điều trị nghiện rượu mặc dầu chưa được phép thương mãi hóa : vài người thì ca ngợi trong khi những người khác vẫn hoài nghi.
Baclofène là một thuốc giãn cơ (myorelaxant) được sử dụng từ năm 1975 để điều trị những co cứng trong bệnh xơ cứng rải rác và những bệnh tủy, nguồn gốc não. Năm 1987, một công trình nghiên cứu Pháp, được tiến hành bởi Martine Daoust, thuộc đại học Amiens, chứng minh tính hiệu quả của nó để làm giảm sự tiêu thụ rượu ở chuột. Sau đó vài công trình nghiên cứu lâm sàng được thực hiện ở Ý và ở Hoa Kỳ nhưng không mang lại kết quả chứng thực.
Những kết quả của một công trình nghiên cứu, được chỉ đạo bởi thầy thuốc tâm thần Renaud de Beaurepaire thuộc bệnh viện Paul-Guiraud (Villejuif), và được thực hiện trên 100 bệnh nhân đề kháng với những điều trị khác, được công bố vào năm 2012 trong Frontiers in Psychiatry. 62% những bệnh nhân, được điều trị với những liều tăng dần baclofène, báo cáo một sự cải thiện đáng ngạc nhiên, ngay cả sau 2 năm : sự tiêu thụ của họ đã chuyển từ một tình trạng “nguy cơ cao”, vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu, sang tình trạng “vừa phải thậm chí thấp”, hai năm sau. Tuy nhiên đó không phải là một thử nghiệm lâm sàng theo những quy tắc, bởi vì trong công trình nghiên cứu này ta đã quan sát tính hiệu quả của điều trị in situ, mà không so sánh với tính hiệu quả của một placebo.
Trong nhiều trường hợp, baclofène không hiệu quả thậm chí nguy hiểm, vì lẽ những tác dụng phụ của nó : mệt và buồn ngủ, mất ngủ, chóng mặt, rối loạn cảm giác, nôn và mửa,… Điều trị cần gia tăng, đôi khi một cách quan trọng và ở một tốc độ nào đó, những lượng được cho để đạt liều lượng có hiệu quả. Và chính sự gia tăng liều lượng này có thể sinh ra những tác dụng phụ mà bệnh nhân không chịu được.
Vậy, hơn bao giờ hết, cần chờ đợi những kết quả của hai thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành, được dự kiến năm 2015, để kết luận về tính hiệu quả của baclofène tùy theo profil của các bệnh nhân. Tuy nhiên, một khuyến nghị tạm thời sử dụng có thể được đưa ra từ nay đến cuối năm bởi Cơ quan an toàn thuốc và các sản phẩm y tế quốc gia.
LES DOSSIERS DE LA RECHERCHE : ADDICTIONS

10/ CÓ SỰ HIỆN HỮU CỦA NGHIỆN INTERNET KHÔNG ?
Internet có phải là một thứ ma túy như rượu hay thuốc lá ? Có nên nói nghiện đứng trước những người sử dụng cuồng nhiệt Web này đến độ sao lãng đời sống xã hội ? Các nhà khoa học có những ý kiến khác nhau về vấn đề này.
Internet chỉ vừa mới là một hệ thống dành cho những technophile say mê thì một nhà tâm lý học Hoa Kỳ, Kimberly Young, đã mô tả chứng nghiện Internet và mở trung tâm chuyên môn đầu tiên về điều trị rối loạn này, vào năm 1996. 17 năm sau, và sau 700 ấn bản dành cho chủ đề này, vấn đề phụ thuộc Net hơn bao giờ hết ở tâm điểm của một cuộc tranh luận ồn ào.
Không ai phủ nhận sự hiện hữu của một sự sử dụng quá mức và có vấn đề ở những người tiêu thụ. Nhưng trong khi các chuyên gia xem sự lạm dụng này như là một chứng nghiện mới, một sự mất kiểm soát của các impulsion cần phải điều trị, những chuyên gia khác chỉ thấy ở đó là một thói quen xâm nhập (une habitude envahissante), có thể so sánh với sự sử dụng TV hay diện thoại. Hiện nay, rối loạn này không được liệt kê trong bất cứ xếp loại quốc tế về bệnh tật nào. Một cuộc tranh luận mới xảy ra về việc đưa rối loạn này vào trong nouvelle version của Manuel diagnostique et statistique des troubles mentaux, le DMS-5, được công bố tháng năm 2013. Một tháng trước khi công bố, các tác giả của ” bible des maladies mentales ” này cuối cùng đã quyết định, gợi nó như là một ” tình trạng cần nhiều nghiên cứu hơn trước khi xét nó như là một căn bệnh”
ẢNH HƯỞNG LÊN NÃO BỘ KHÔNG ĐƯỢC XÁC NHẬN.
Cuộc luận chiến này không ngừng tiếp liệu cho các tờ báo khoa học. Đặc biệt bởi vì không có một định nghĩa về nghiện (addiction) nào tạo nên sự nhất trí. Đối với những người bảo vệ phương pháp sinh-y khoa, nghiện được xác định bởi những biến đổi của hệ thống não gây nên một sự biến đổi của những hành vi. Đó là điều mà ta quan sát trong trường hợp của những phụ thuộc đối với những chất như héroine, cocaine hay cannabis. ” Nhờ những mô hình động vật, hôm nay chúng ta biết rằng tất cả những sản phẩm, làm phát khởi một tình trạng phụ thuộc, biến đổi điều mà ta gọi là hệ của những chất điều biến thần kinh (système des neuromodulateurs). Đó là những neurone sản xuất những chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmetteurs) (noradrénaline, sérotonine hay dopamine) phân bố thần kinh toàn não bộ. Chúng kiểm soát những cảm xúc, đặc biệt qua circuit cérébral de récompense. Chính sự biến đổi này tạo nên nghiện”, Jean-Pol Tassin, neurobiologiste chuyên gia về nghiện ở Inserm (Paris) đã tóm tắt như vậy.
Những sự rối loạn điều hòa neurone này hiện giờ không thể chứng minh trong trường hợp nghiện không có chất gây nghiện (addictions sans substance). Vì một lý do đúng đắn : các kỹ thuật chụp hình ảnh hiện nay không cho phép phân biệt in vivo hệ của các chất điều biến thần kinh này, nằm sâu trong não. Chỉ có những công trình nghiên cứu trên động vật mới cho phép điều đó.
Thế mà, mặc dầu cho một con chuột những chất ma túy là chuyện dễ, nhưng ta chưa tìm ra bằng cách nào làm cho nó phụ thuộc internet. ” Trong vài năm nữa, những tiến bộ của chụp hình ảnh có lẽ sẽ cho phép quan sát trực tiếp hệ những neurone này nơi người “, Jean-Pol Tassin đã dự kiến như vậy. Tuy vậy nhà chuyên gia này không mong chờ chứng thực cùng những biến đổi não bộ giữa một người nghiện ma túy và một người nghiện internet, ” trừ phi người nghiện internet này có một chứng nghiện khác, nghiện rượu hay thuốc lá “.
Dẫu sao vài công trình nghiên cứu chụp hình ảnh não, được thực hiện trên những người lạm dụng Internet, đã chứng minh sự hiện hữu của những biến đổi của các mạng neurone. Ta quan sát nhất là một sự mất mật độ neurone trong vỏ não trước trán (cortex préfrontal), vùng não bộ trung tâm của sự quyết định, cũng bị ảnh hưởng ở những người phụ thuộc ma túy. Nhưng những công trình nghiên cứu này chịu nhiều hạn chế, bắt đầu là số người tham dự rất thấp (khoảng 20 bệnh nhân mỗi công trình nghiên cứu). Ta cũng có thể ghi nhận ở đó những hậu quả phát xuất từ những bệnh lý khác thường được tìm thấy ở những thanh niên nghiện Net này (lo âu, trầm cảm…) thậm chí những hậu quả của sự sử dụng những chất bất hợp pháp, hay đơn giản hơn do thiếu ngủ.
NHẤN MẠNH VÀO NHỮNG HÀNH VI.
Các nhà chuyên khoa tâm lý và tâm thần học đã phát triển một quan điểm khác về sự nghiện. Từ hơn 40 năm nay, họ cố xác định những tiêu chuẩn hành vi cho phép phân biệt một manie đơn thuần với một bệnh tâm lý thật sự. Trong những năm 1970, theo sáng kiến của thầy thuốc tâm thần người Anh Griffith Edwards, Tổ chức y tế thế giới đề nghị một định nghĩa đầu tiên về nghiện dựa trên những triệu chứng khác nhau : một hành vi bắt buộc (obligation comportementale) (sự việc hành động không còn vì vui thú mà vì nhu cầu), một sự mất kiểm soát, một sự ham muốn ám ảnh (un désir obsédant), một hội chứng cai (syndrome de sevrage) và sự hiện diện của những tái phát. Định nghĩa này, ngày nay vẫn còn là một quy chiếu (référence), vài năm sau đã được dùng để soạn thảo những tiểu chuẩn của tình trạng phụ thuộc trong những xếp loại quốc tế của các bệnh tâm thần. ” Thế mà, trong phần lớn các trường hợp, thiếu hai tiêu chuẩn để có thể xếp loại sự sử dụng cuồng nhiệt internet như là một chứng nghiện : hội chứng cai và sự tái phát. Những người sử dụng cuồng nhiệt jeux en ligne (những trò chơi trên mạng) có thể bỏ không chơi nữa bởi vì họ đã tìm ra một công việc, rồi chơi lại một phần nhưng không phải vì vậy mà lại rơi vào một sự sử dụng tích cực “, Serge Tisseron, thuộc đại học Paris-Ouest de Nanterre đã giải thích như vậy. Tuy nhiên nhà tâm thần học này công nhận rằng nghiện Internet có thể hiện hữu, nhưng rất hiếm, và chỉ ở người trưởng thành.
Điều đó xảy ra ” nhất là khi những người này bị một rối loạn tâm thần có trước hay khi họ tiêu thụ những chất độc”, ông đã xác nhận như vậy. Hôm nay, nhiều chuyên gia chấp nhận những định nghĩa về những tình trạng phụ thuộc được gọi là “hành vi” (dépendance comportementale), trong đó không có những tiêu chuẩn hội chứng cai và tái phát. Nhưng không có định nghĩa nào được sự nhất trí.
Sau cùng, cách thứ ba để định nghĩa nghiện : phương pháp lâm sàng. Phương pháp này dựa vào cảm giác chủ quan bị bệnh tâm thần (sentiment subjectif d’aliénation) của các bệnh nhân. Các thầy thuốc xem là phụ thuộc mọi người mong muốn giảm hay ngừng một hành vi nhưng không đạt được. ” Nhưng chứng nghiện Net này hiện hữu vì lẽ chúng ta có những bệnh nhân đến khám để xin trừ bỏ nó “, Marc Valleur, thuộc centre médical Marmottant (Paris) đã xét đoán như vậy. Ông sợ rằng sự không công nhận tình trạng phụ thuộc này sẽ kèm theo sự không công nhận nỗi khổ của những bệnh nhân này.
Đối với ông, đó là điều chắc chắn : càng ngày càng có nhiều người đến tìm kiếm sự giúp đỡ để bỏ Internet. ” Những cyberdépendant này chiếm 20% khách hàng của chúng tôi “, ông đã chỉ rõ như vậy. Theo những công trình nghiên cứu dịch tễ học mới nhất được công bố ở Hoa Kỳ, ở Na Uy, trong Liên hiệp châu Âu và châu Á, tỷ lệ lưu hành của những người phụ thuộc internet trong số những người sử dụng Internet biến thiên từ 1% đến hơn 35% (nhất là ở châu Á). Tính chất biến thiên này chủ yếu được giải thích bởi sự kiện là những nghiên cứu này không dựa trên cùng những định nghĩa của nghiện. Trong số những người phụ thuộc này, ta phân biệt hai nhóm. Những người trong nhóm thứ nhất phụ thuộc vào những nội dung đặc thù. Đó chủ yếu là những người chơi cờ bạc trên mạng và những môn đồ của cybersexe. Đối với họ, ” Không phải chính Internet đã tạo ra tình trạng phụ thuộc này, mà nó chỉ làm dễ, vì lẽ Internet mang lại một khả năng tiếp cận tuyệt đối (une accessibilité absolue), không có sự kiểm soát của xã hội “, Marc Valleur đã chứng thực như vậy.
Những người thuộc nhóm thứ hai tập hợp những người phụ thuộc vào chính công cụ Internet. Đó chủ yếu là những người mê say những trò chơi trên mạng (accros aux jeux en ligne), những trò chơi chỉ hiện hữu nhờ Web, nhưng cũng những người cuồng nhiệt (fanatique) những mạng xã hội và tất cả hình thức giao tiếp tức thời (e-mail, chat, blog, Facebook, Tweeter…)
Một nét chung duy nhất cho tất cả những người mê say Web này đã được phát hiện : đó là những người này có những rối loạn hành vi khác. Dựa trên những công trình nghiên cứu khác nhau, thầy thuốc tâm thần Hoa Kỳ Jerald Block cho rằng khoảng 86% những người được xem là phụ thuộc Internet có một hay nhiều bệnh ly tâm thần trước đó : lo âu (angoisse), trầm cảm, sợ xã hội (phobie sociale), cơn hoảng sợ…
Theo một thăm dò, được tiến hành năm 2009, được thực hiện trên 3399 người Na Uy, 41,4% những người sử dụng được đánh giá là phụ thuộc Net đã nêu lên một cảm giác trầm cảm trong năm trước khi thực hiện công trình nghiên cứu, so với 15,8% ở những người sử dụng hợp lý. Cũng vậy, 13,6% đã báo cáo đã lạm dụng rượu hay chất ma túy, so với 1,1% trong số những người sử dụng khác.
Sự phụ thuộc Internet vậy phải chăng chỉ là biểu hiện của những rối loạn tâm lý khác ? ” Trong tất cả những chứng nghiện, ta chứng thực những rối loạn đã có trước, Marc Valleur đã phản bác lại. Điều đó không thể là một lý lẽ để chống lại sự hiện hữu của một chứng nghiện Net thật sự.”
Còn một vấn đề cuối cho cuộc tranh luận này : nếu chứng nghiện Internet chỉ là một triệu chứng của một hay nhiều bệnh khác, vậy có phải cần được điều trị như thế ? Đưa nghiện internet vào trong version sắp đến của DSM với tư cách là một căn bệnh, như vài nhà lâm sàng đã yêu cầu, sẽ là một thị trường đáng kể đối với những xí nghiệp dược phẩm. ” Nếu một ngày nào đó việc đưa vào này có hiệu lực, các hãng bào chế thuốc sẽ đề nghị với chúng ta những giải pháp nhiệm màu của họ để chống lại căn bệnh mới này”, Serge Tisseron đã đánh cá như vậy. ” Những công trình nghiên cứu về những loại thuốc chống lại những ham muốn không cưỡng được đối với Internet bắt đầu xuất hiện “, Marc Valleur đã xác nhận như vậy. Hiện nay chỉ cần những liệu pháp tâm lý, theo ông, cũng đủ để chữa lành những người bị phụ thuộc Net. Tuy nhiên điều này cũng tạo nên một thị trường : ở Hoa Kỳ, phí tổn của một đợt giải độc chứng nghiện Internet được ước tính hơn 14.000 dollar.
LES DOSSIERS DE LA RECHERCHE : ADDICTIONS

11/ TỪ SỰ NHẬN DIỆN CUỒNG SẢN RƯỢU CẤP (DELIRIUM TREMENS) ĐẾN SỰ NHẬN DIỆN TRÒ CHƠI BỆNH LÝ.
1813 : một thầy thuốc người Anh, Thomas Sutton, đưa vào ý niệm cuồng sản rượu cấp (delirium tremens) để chỉ những rối loạn gây nên bởi sự tiêu thụ rượu quá độ : mê sảng, run, sốt, những rối loạn cân bằng…
1849 : ý niệm nghiện rượu mãn tính (alcoolisme chronique) được tạo ra bởi giáo sư y khoa tâm thần người Thụy Điển Magnus Huss để chỉ nhiễm độc rượu từ từ, khác với nhiễm độc rượu cấp tính (alcoolisme aigu).
1859 : nhà hóa học người Đức Albert Niemann trích cocaine từ lá coca và mô tả những tác dụng gây mê của nó.
1870 : Trên chiến trường của chiến tranh Pháp-Phổ, việc nhờ đến morphine để làm giảm đau những người bị thương gây nên một bệnh lý được gọi là “morphinomanie” hay ” maladie du soldat”
1898 : Từ morphine, nhà hóa học người Đức tổng hợp héroine, mà ông chủ trương điều trị những bệnh hô hấp như lao phổi.
1935 : Phong trào của những người nghiện rượu vô danh, nhằm vào một điều trị thành từng nhóm (thérapie de groupe), được phát động ở Hoa Kỳ bởi những người Mỹ William Wilson và Robert Smith.
1940 : Primatologue người Mỹ Robert Spragg, cho thấy rằng, cũng như người, các động vật có thể phát triển một sự phụ thuộc morphine.
1954 : Người Mỹ James Olds và người Canada Peter Milner, thuộc đại học McGill (Canada), khám phá ở chuột “circuit de la récompense” thúc đẫy tìm kiếm và lặp lại những hành động phát sinh khoái lạc.
1962 : Nhà sinh học người Mỹ James Weeks hiệu chính kỹ thuật tự cho thuốc ma túy bằng đường tĩnh mạch ở chuột.
1964 : Nhà hóa học người Israel Raphael Mechoulam khám phá hoạt chất của marijuana, THC (tétrahydrocannabinol), chịu trách nhiệm những tác dụng hướng thần (effet psychoactif) của nó.
1965 : Những người Mỹ Vincent Dole và Marie Nyswander đưa vào méthadone như là điều trị thay thế héroine.
1973 : Nhiều kíp khám phá sự hiện diện của các thụ thể của morphine trong não, điều này gợi ý sự hiện hữu của những morphine nội tại hay endomorphine.
1981 : Nhà tâm lý học người Canada Bruce Alexander cho thấy rằng những con chuột được đặt trong một môi trường kích thích, được gọi là “được làm phong phú” (environnement enrichi) tiêu thụ ít morphine hơn khi chúng ở trong một chiếc lồng rỗng.
1986 : Với sự xuất hiện của dịch bệnh sida, phòng tiêm ma túy đầu tiên trên thế giới được mở ra ở Thụy Sĩ.
1990 : Một kíp nghiên cứu của Viện sức khỏe tâm thần ở Bethesda (Hoa Kỳ) phát hiện những thụ thể đối với THC trong hệ thần kinh trung ương.
1990 : Nhà tâm thần học người Mỹ Aviel Goodman xác lập những tiêu chuẩn khác nhau để nhận diện bệnh nghiện. Trong số những tiêu chuẩn này là sự không có năng lực để chống lại xung lực (impulsion) thúc đẫy chuyển qua hành động hay sự mất kiểm soát ngay từ đầu cơn cai nghiện (crise de manque).
1995 : Kíp của Bibhash Paria, thuộc đại học Kansas (Hoa Kỳ) phát hiện in vitro tác dụng gây rối loạn của THC lên những giai đoạn phát triển đầu tiên của phôi thai ở chuột.
1996 : 31 năm sau Hoa Kỳ, nước Pháp đưa vào những điều trị thay thế héroine với hai dược phẩm : méthadone và buprénorphine.
1998 : Serge Ahmed, thuộc đại học Bordeaux, và George Koob, thuộc đại học San Diego, phát minh một thủ thuật để nghiên cứu sự chuyển tiếp giữa sự sử dụng đơn thuần những chất ma túy và chứng nghiện ở động vật.
2007 : Từ tháng hai, ở Pháp đạo luật Evin cấm những người hút thuốc tiêu thụ những điếu thuốc ở những nơi công cộng khép kín.
2010 : Những kíp của Pier-Vincenzo Piazza và Véronique Deroche, thuộc đại học Bordeaux, gợi ý rằng một sự mất tính dẻo của khớp thần kinh (plasticité synaptique) giải thích sự chuyển tiếp thành chứng nghiện ở vài người dùng chất ma túy.
2013 : Sự mở một phòng tiêm chất ma túy đầu tiên được cho phép ở Pháp.
2013 : Version mới của xếp loại những bệnh tâm thần của Hoa Kỳ, được công bố tháng năm, DSM-V định nghĩa, lần đầu tiên, trò chơi bệnh lý (jeu pathologique) như là một rối loạn nghiện (trouble addictif), nhưng chỉ chấp nhận những trò chơi cờ bạc (jeu d’argent) trong loại này.
(LES DOSSIERS DE LA RECHERCHE : ADDICTIONS)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(1/11/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thời sự y học số 324 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 505 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 514 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s