Thời sự y học số 323 – BS Nguyễn Văn Thịnh

cannabisCHUYÊN ĐỀ NGHIỆN MA TÚY

1/ NHỮNG TỔN HẠI KHÔNG ĐẢO NGƯỢC ĐƯỢC CỦA CANNABIS
Trong khi chính các thanh niên là hút nhiều nhất, những công trình nghiên cứu cho thấy rằng cannabis làm rối loại quá trình trưởng thành của não bộ, với nguy cơ bị những rối loạn tâm thần xuất hiện 10 hay 20 năm sau ! Lý do để đoạn tuyệt với ý nghĩ một thuốc ma túy “nhẹ” (une drogue douce)…Điều tra.
Mặc dầu những tác dụng tức thời của cannabis đã được biết rõ : một trạng thái ngủ gà nhẹ có thể đi đến tình trạng đờ đẫn, muốn cười vì một lý do không nghĩa lý gì, giảm sự tập trung (được chứng thực nhất là khi lái xe…), một sự mất lan tỏa trí nhớ…Nhưng, người ta nghĩ như thế, tất cả những hậu quả này sẽ tan biến và, trừ phi bắt đầu dùng trở lại, cơ thể có thể loại bỏ thuốc ma túy được gọi là “nhẹ” này không chút khó khăn nào. Nhưng mà không ! một số ngày càng nhiều những neuroscientifique đã đánh giá như vậy. Họ báo động : những bằng cớ tích lũy về những nguy cơ lâu dài của một sự sử dụng đều đặn của cannabis. Bởi vì nhiều năm sau khi ngừng tiêu thụ, não bộ vẫn còn giữ những dấu vết. Và quy mô của những tổn hại càng lớn khi người dùng càng trẻ. Thật vậy, cannabis làm rối loạn một cách sâu đậm sự phát triển xảy ra vào tuổi thiếu niên của những nối kết của các tế bào thần kinh (connexions neuronales), đến độ tạo điều kiện cho sự xuất hiện của những rối loạn tâm thần ở tuổi trưởng thành (bệnh trầm cảm, tinh thần phân liệt), và làm giảm trí năng (capacité intellectuelle).

Thế mà, khi ta khảo sát về profil của những người hút cannabis ở châu Âu, và đặc biệt ở Pháp, ta chứng thực những thiếu niên đúng là đã trở nên những người tiêu thụ lớn nhất. Cứ 4 thanh niên 17 tuổi thì có một tiêu thụ ít nhất một lần mỗi tháng ; cứ 15 thanh niên lứa tuổi này thì có một hút hơn 10 lần mỗi tháng ! Vậy những não bộ dễ bị thương tổn nhất cũng là bị tiếp xúc nhiều nhất.
Tuy vậy, cây ma túy này, khói thuốc với những tính chất thư giãn và làm khoái trá, tiếp tục được cho là loại ma túy nhẹ (drogue douce). Ít gây nghiện hơn thuốc lá và ít độc hơn rượu, cannabis không bị cấm trong vài nước, thậm chí còn được kê đơn. Anne-Michelle Demierre, chủ tịch của Association Parents Jeunes Cannabis, nêu lên, như là những hậu quả chính, sự thất bại ở học đường và tình trạng tự khép mình lại.
CÀNG NGÀY CÀNG CÓ NHỮNG CHỨNG CỚ.
Mặc dầu những lo ngại như thế là chính đáng, nhưng chúng còn đánh giá quá thấp quy mô của vấn đề, không xét đến những điều được quan sát được thực hiện trong những năm qua. Bởi vì chưa bao giờ những mối nghi ngờ về vai trò tích cực của cannabis lên sự xuất hiện của những rối loạn tâm thần đã mạnh đến như thế. Những công trình nghiên cứu gia tăng, chủ yếu về những liên hệ giữa cannabis và bệnh tâm thần phân liệt. Bệnh loạn thần này, được đặc trưng bởi một sự rối loạn của tư duy và hành vi cũng như những ảo giác, gây bệnh cho khoảng 1% dân số. Cũng như đối với nhiều bệnh lý tâm thần khác, nguồn gốc của nó vẫn là một bí ẩn, nhưng ta cho là do “nhiều yếu tố” (multifactorielle) : bệnh tâm thần phân liệt có đồng thời những nguyên nhân di truyền và môi trường (lịch sử gia đình…)

                         BỆNH TÂM THẦN PHÂN   LIỆT
Những thanh niên từ 14 đến 24 tuổi,   đã hút đều đặn cannabis trong hơn 3 năm, sẽ có một nguy cơ hai lần cao hơn   những người không hút, bị những triệu chứng loạn thần 10 năm về sau

Ngay trong những năm 1980, cannabis đã được nhận diện như là một yếu tố nguy cơ khả dĩ. Tuy vậy, các thập niên đã trôi qua mà một mối liên hệ nhân quản vững chắc giữa cây ma túy và bệnh lý không được xác lập. Mặc dầu những công trình nghiên cứu dịch tễ học đã thống kê nhiều người bệnh hơn trong những nhóm những người hút thuốc. Nhưng những nhà nghiên cứu có thể rút ra hai kết luận : hoặc cannabis làm dễ sự xuất hiện của bệnh lý, hoặc sự sử dụng nó thường gặp hơn ở những nạn nhân bị những rối loạn này.
” Nhiều người trẻ làm dịu những lo âu của mình với cannabis “, Jean-Philippe Guéguen, thầy thuốc tâm thần cho các thiếu niên và thanh niên ở bệnh viện Simone Veil (Eaubonne) đã xác nhận như vậy. Và vì những thí nghiệm ở động vật cho ít thông tin đáng tin cậy về những rối loạn tâm thần, đặc hiệu cho người…Lý thuyết thứ hai, lý thuyết của một sự tiêu thụ được xem như là hậu quả của căn bệnh, là được chấp nhận nhất.
Nếu ngày nay khuynh hướng đảo ngược lại, đó là bởi vì nhiều công trình nghiên cứu sau cùng đã quan tâm đến profil của những người tham dự trước khi họ bắt đầu tiêu thụ cannabis. Như thế đảm bảo, khi entretiens psychiatriques, rằng những thanh niên trẻ được theo dõi không có những dấu hiệu của một bệnh loạn thần phát sinh trước khi trở nen những người hút cannabis.
CHO ĐẾN TĂNG GẤP ĐÔI NGUY CƠ BỊ BỆNH LOẠN THẦN
Một công trình nghiên cứu năm 2011, được tiến hành ở đại học Maastricht (Hòa Lan), cho thấy, trung bình, một sự tăng gấp đôi nguy cơ bị bệnh loạn thần ở những thanh niên đã hút cannabis ít nhất 5 lần trong những năm qua. Một khuynh hướng đã được nhận thấy vào năm 2010, trong một công trình nghiên cứu của đại học Queensland (Úc), đuợc thực hiện chỉ ở anh chị em của người hút để hạn chế sự thiên lệch do những tố bẩm di truyền. Một quan sát quan trọng khác đã được xác nhận bởi công trình nghiên cứu này : sự tiêu thụ càng sớm, nguy cơ phát triển một bệnh tâm thần phân liệt càng quan trọng. Vào năm 2008, một công trình nghiên cứu của Viện về sức khỏe tâm thần GGZ Eindhoven (Hòa Lan), gợi ý rằng, ngay cả trong trường hợp bỏ cannabis ở tuổi trưởng thành, nguy cơ vẫn y hệt.
Mặc dầu những công trình nghiên cứu khác đã không phát hiện mối liên hệ thống kê giữa sự tiêu thụ cannabis ở tuổi thiếu niên và sự phát triển một bệnh tâm thần phân liệt vài năm sau đó. Nhưng khi xét đến toàn bộ tài liệu khoa học được công bố cho đến năm 2007, những nhà nghiên cứu Anh ở Bristol và Cambridge dầu sao cũng đã đánh giá ít nhất 40% sự gia tăng nguy cơ ở những thiếu niên tiêu thụ một cách đều đặn cannabis. Và sự tăng cao lại còn quan trọng hơn ở những cá nhân vốn đã có những tố bẩm di truyền hay xã hội cho sự phát triển của căn bệnh này.
KHÔNG GIỐNG NHAU ĐỐI VỚI CÁC TÁC DỤNG
Bệnh tâm thần phân liệt không phải là bệnh lý duy nhất nằm trong đường nhắm của các nhà nghiên cứu. Bệnh trầm cảm (dépression) cũng làm họ lo ngại. Mặc dầu, đối với căn bệnh ảnh hưởng lên gần 3% dân số thế giới này, những dữ kiện khoa học ít quyết đoán hơn.

                                         BỆNH   TRẦM CẢM

Dầu   tuổi bắt đầu hút như thế nào, những người hút cannabis khi còn trẻ có một   nguy cơ gia tăng bị bệnh trầm cảm ở tuổi trưởng thành. Nếu họ đã bắt đầu   trước 15 tuổi, nguy cơ này sẽ khoảng 2 lần cao hơn.

Thí dụ vào năm 2002, một công trình nghiên cứu của đại học Tiểu bang Michigan (Hoa Kỳ) đã cho thấy một sự gia tăng từ 60 đến 90% nguy cơ trầm cảm ở những người hút cannabis ; trong khi đó một công trình nghiên cứu khác, được thực hiện ở Viện Karolinska (Stockholm) (Thụy Điển) lại không phát hiện một nguy cơ đặc biệt nào.
Làm sao giải thích những kết quả mâu thuẫn như vậy ? Đối với Tiziana Rubino, nhà nghiên cứu dược lý thuộc đại học Insubrie (Y), những điều không ăn khớp này là do sự việc các công trình nghiên cứu không luôn luôn xét đến cùng những loại người hút. ” Người ta hẳn đã tập trung vào những người hút nặng, tiêu thụ nhiều “joint” mỗi ngày. Có lẽ chính ở họ mới hiện hữu một nguy cơ “, nhà nghiên cứu đã đánh giá như vậy. Nhưng ngay cả mức độ tiêu thụ giống nhau, hai người sẽ không nhất thiết chịu cùng những hậu quả. Như thế, ” dường như các phụ nữ nhạy cảm hơn đối với những tác dụng của cannabis lên chứng trầm cảm, và những người đàn ông lên những bệnh loạn thần (psychose) “, nhà nghiên cứu đã tiết lộ như vậy.
Có một sự tổn hại âm ỉ hơn, ăn mòn một cách thầm lặng não bộ của nhiều người hút cannabis : sự giảm chậm, và dai dẳng của những trí năng của họ. Từ mười năm qua, nhiều công trình nghiên cứu đã phát hiện những hiệu năng ít tốt hơn của những người hút đối với những trắc nghiệm khác nhau về trí nhớ, logique…, và ngay cả nhiều ngày sau đợt tiêu thụ cannabis cuối cùng.

                                HẠ THƯƠNG SỐ THÔNG MINH

Những người trưởng thành phụ thuộc cannabis từ lâu mất nhiều điểm QI   (quotient intelligent) hơn khi họ đã bắt đầu trước 18 tuổi.

NHỮNG MESSAGE NERVEUX NGOÀI KIỂM SOÁT
Những năm 2012 đã đánh dấu một bước ngoặt trong những nghiên cứu. Ở Hoa Kỳ, đại học Duke đã tiết lộ một công trình nghiên cứu, lần đầu tiên loại bỏ nhiều thiên lệch. Các nhà nghiên cứu đã thu thập những dữ kiện trên hơn 1000 người Tân Tây Lan, được theo dõi từ lúc sinh cho đến năm 38 tuổi. Những trắc nghiệm thần kinh tâm lý (test neuropsychologique) đã được thực hiện lúc 13 và 38 tuổi, và sự tiêu thụ cannabis hay không được đánh giá ở tuổi 18,21,26,32 và 38.
Những kết quả làm sáng tỏ : những người hút cannabis nặng, phụ thuộc trong ít nhất nhiều năm, chịu giữa tuổi thiếu niên và tuổi trưởng thành một sự sụt giảm trung bình 8 điểm thương số thông minh (Q.I), trên một trị số trung bình 100, trong khi đó những người không hút lại có được một sự gia tăng nhẹ. Nhất là, sự hạ thương số thông minh này, được quan sát ở trình độ giáo dục như nhau, kéo dài hơn 1 năm sau khi dùng cannabis, và quan trọng hơn nhiều ở những người đã bắt đầu tiêu thụ chất ma túy này trước 18 tuổi.
Bệnh tâm thần phân liệt, chứng trầm cảm, thương số thông minh sụt giảm : làm sao giải thích rằng cannabis để một dấu ấn như thế trên não bộ thiếu niên, ngay cả nhiều năm sau khi ngừng tiêu thụ ? Câu trả lời không hẳn rõ ràng, bởi vì những thành phần của bộ máy não còn rất là bí mật. ” Cannabis làm rối loạn quá trình thành thục của những nối kết thần kinh (connexions neuronales) vốn xảy ra ở tuổi thiếu niên “, Daniela Parolaro, pharmacologiste thuộc đại học Insubrie đã giải thích như vậy.
Hiện tượng này, thiết yếu cho sự phát triển của một não bộ trưởng thành hoạt động hoàn hảo, bao hàm tác dụng của một chất dẫn truyền thần kinh đặc biệt : những endocannabinoides. Những endocannabinoides này, được khám phá trong những năm 1990, điều hòa cường độ của nhiều message nerveux được gởi từ neurone này đến neurone khác, bằng cách gắn vào những thụ thể đặc hiệu, hiện diện ở bề mặt của vài neurone. Cơ chế điều hòa này là thiết yếu cho quá trình thành thục tốt của não bộ ở tuổi thiếu niên.
Thế mà hoạt chất của cannabis THC (tétrahydrocannabinol) rất giống với những endocannabinoides. Điều này cho phép THC, thay vì những endocannabinoides, gắn vào những thụ thể đặc hiệu của endocannabinoide. Khi đó các endocannabinoides không có thể thực hiện công việc điều hòa các message thần kinh nữa. Chính như thế mà sự phóng thích dopamine, chất dẫn truyền thần kinh của khoái lạc, không còn được kiểm soát nữa, và chính như vậy mà cannabis gây nên một cảm giác thoải mái. Chính như thế mà, ở người thiếu niên hút đều đặn, những nối kết giữa các neurone phát triển một cách bất thường, và sinh ra một não bộ có hoạt động bị biến đổi ở tuổi trưởng thành.
Vài công trình nghiên cứu đã cho thấy những khác nhau về cấu trúc giữa những não bộ của những người hút cannabis và những não bộ của những người không hút cannabis. Đó là trường hợp của công trình nghiên cứu được công bố năm 2005 bởi kíp của Karen Bolla, thuộc đại học Johns-Hopkins de Baltimore (Hoa Kỳ), cho thấy những khác nhau về thành phần giữa chất trắng (các sợi thần kinh) và chất xám (các nhân của các neurone) trong những vùng khác nhau của vỏ não và hồi hải mã.
KHÔNG CÒN NGHI NGỜ GÌ NỮA.
Còn về sự vận hành chức năng của não bộ của những người hút cannabis, những sự khác nhau cũng đã được quan sát. Nhất là, ” ở những chuột gặm nhấm tiếp xúc với THC, một sự mất cân bằng giữa những chất dẫn truyền thần kinh glutamate và GABA, tương đương với sự mất cân bằng được quan sát ở những người bị bệnh tâm thần phân liệt “, Tiziana Rubino đã giải thích như vậy. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu muốn được an tâm : ” Những tác dụng này kéo dài, nhưng tôi không nghĩ rằng chúng hoàn toàn không thể đảo ngược được. Sau khi ngừng tiêu thụ và với một điều trị tốt, tính dẻo của não bộ (plasticité du cerveau), ngay cả ở tuổi trưởng thành, sẽ có thể bù.”
Raymond Niesink, neurotoxicologue thuộc đại học Utrecht (Hòa Lan) không chia xẻ ý kiến này : Vài phần của não bộ có thể tiến triển để bù, một phần, sự mất chức năng của những phần khác. Nhưng một khi não đã phát triển theo một chiều hướng xấu, ta không thể lùi lại một cách hoàn toàn ! ”
Những công trình nghiên cứu được tích lũy, những cơ chế sinh học càng ngày càng được hiểu rõ hơn…Một cách logic, ta có thể dự kiến trong 10 năm đến một làn sóng chưa từng có những trường hợp tâm thần phân liệt ở những người trưởng thành trẻ tuổi. Tuy nhiên, hiện nay, số những bệnh nhân dường như đã không gia tăng một cách tỷ lệ với số tăng cao quan trọng của những thanh niên hút cannabis được quan sát trong những năm 1990. Nhưng điều đó có thể được giải thích bởi sự giảm những yếu tố nguy cơ khác (xã hội, môi trường,…) của căn bệnh. Mặc dầu vậy, cái mỏ cặp (étau) được xiết lại. Và trong lúc chờ đợi cuộc tranh cãi kết thúc, hiện nay chính hàng triệu thiếu niên trên thế giới đang làm cho não bộ chịu những nguy hiểm tiềm tàng của cannabis.
(SCIENCE & VIE 2/2013)

2/ CANNABIS LÀM HẠI NGHIÊM TRỌNG HƠN THUỐC LÁ ?
Drogue dure đối với những người này ; không có tác dụng gây nghiện, thậm chí có những đặc tính điều trị đối với những người khác ; quy chế của cannabis cũng mù mờ như những pháp chế về sự sử dụng nó trên khắp thế giới. Ở Pháp, sự tiêu thụ cannabis bị cấm chỉ : có phải suy ra từ đó rằng cannabis độc hại hơn thuốc lá ? Sự so sánh có thể dường như khó, bởi vì một người tiêu thụ cannabis hàng ngày thường hút ít “joints” hơn một người tiêu thụ thuốc lá hút những điếu thuốc. Tuy nhiên khói thuốc được hít vào sâu hơn nhiều khi nó chứa cannabis, điều này làm dễ sự đi vào trong đường hô hấp những hắc ín sinh ung thư (goudron cancérigène). Hiện tượng này gia tăng với những pipes à eau (điếu hút thuốc) : chỉ một lần hít, ta hấp thụ 100 lần khói thuốc nhiều hơn so với một “joint”.
Nhất là, với những tỷ lệ như nhau, cannabis sinh ra, chủ yếu, 7 lần nhiều hắc ín sinh ung thư hơn. Và bởi vì phần lớn những “joints” gồm có cannabis và thuốc lá, nên những tác hại của cả hai phối hợp với nhau. Sau cùng, mặc dầu tiềm năng sinh ung thư của mỗi yếu tố được chứa trong cannabis (chất tác dụng tâm thần, những produits de coupe…) khó đánh giá được, nguy cơ xuất hiện ung thư lưỡi, những đường hô hấp trên và các phế quản mới đây đã được phát hiện ở những người tiêu thụ cannabis. Ngoài ra, những ung thư phế quản này lại sớm hơn so với những người hút thuốc lá đơn độc.
Những người tiêu thụ tìm thấy trong chất ma túy này một cảm giác bớt căng thẳng, thoải mái, khoái trá, thậm chí một sự cải thiện những tri giác giác quan, mặc dầu những hiệu quả rất thay đổi đối với mỗi cá thể. Những hiện tượng này được giải thích bởi tác dụng của những chất có tác dụng hướng thần (substance psychoactive) được chứa trong cannabis và hoại chất chính là THC (tétrahydrocannabinol). Khi hít khói cannabis, THC đi vào trong cơ thể. Nó đi qua máu rồi phân tán để đi vào chủ yếu những cơ quan giàu lipides, như não. Thế mà hàng rào máu não (barrière hémato-encéphalique), phân cách máu với não bộ, mặc dầu có tác dụng lọc nhiều chất, lại thẩm thấu rất nhiều đối với THC.
GÂY NGHIỆN TƯƠNG ĐƯƠNG VỚI NICOTINE.
Sự đến tiếp xúc với bề mặt của những tế bào não của THC dẫn đến một sự biến đổi trong sự phóng thích của những chất trung gian thần kinh (neuromédiateur), những chất có nhiệm vụ đảm bảo sự liên lạc giữa các neurone. Với tác dụng nào ? Các nhà nghiên cứu đã khảo sát hiện tượng trên những động vật phòng thí nghiệm, ở chúng họ đã quát sát một “catalepsie” (chứng giữ nguyên tư thế) : các con vật càng ngày càng ít cử động và chấp nhận một tư thế không thoải mái nhưng không phản ứng. Những nhịp tim và hô hấp của chúng bị xáo trộn. Chúng cũng có những rối loạn học tập và trí nhớ không gian (mémoire spatiale). Ở người, theo nhiều tài liệu xuất bản khoa học, những người tiêu thụ đều đặn (hút ít nhất một lần mỗi 3 ngày) có những rối loạn trầm cảm cũng như mất động cơ (perte de motivation), có thể là nguyên nhân của những khó khăn ở trường học ở những người trẻ. Để tóm tắt, pharmacologue Jean Costenti, nhà nghiên cứu ở CNRS, đề nghị công thức : ” Pétard du matin, poil dans la main ; pétard du soir, trou de mémoire. ”
Còn về nghiện THC, chứng nghiện này gần như tương đương với nghiện nicotine, hoạt chất của thuốc lá. Tuy nhiên với một khác nhau quan trọng : THC vẫn hiện diện trong cơ thể lâu hơn. Và sự việc trở nên trầm trọng với năm tháng trôi qua. Thật vậy, sự chọn lọc di truyền của các cây cannabis, kèm theo phương pháp trồng cực kỳ hiện đại (trồng ngoài đất với một liều tối ưu những cung cấp chất khoáng, một sự chiếu sáng nhân tạo, những chăm sóc thích ứng với những nguồn gốc địa lý của cây ma túy) đã dẫn đến một sự phong phú đều đặn THC của nhựa cannabis. Như thế, một joint ngày nay có thể bằng với 10 joint hôm qua…
(SCIENCES & VIE : QUESTIONS ET REPONSES)

3/ CANNABIS CŨNG NGUY HIỂM CHO TIM ?

Professeur André Vacheron
Président honoraire de l’Académie nationale de médecine
Professeur Jean Costentin
Pharmacologue
Membre de l’Académie nationale de médecine et de pharmacie

Cannabis, có được từ vài loại gai dầu (chanvre), là một chất ma túy được sử dụng rộng rãi bởi các thanh niên, hút nó dưới dạng nhựa (résine) trộn với thuốc lá (joint). Theo Observatoire français des drogues et des toxicomanies, cứ năm thiếu niên thì có một đã hút một joint ở trường trung học và ở Pháp có hơn 1 triệu người tiêu thụ đều đặn cannabis.
Hoạt chất là THC (tétrahydrocannabinol), mà hàm lương trong cỏ ma túy (herbes) biến thiên từ 4 đến 9% và trong nhựa (résine) từ 8% (đối với cannabis từ Maroc) đến 30% (đối với cannabis từ Afganistan). THC kích hoạt những thụ thể tế bào não, vốn đóng một vai trò trong sự điều hòa những cảm xúc. Cannabis làm giảm sự chú ý và biến đổi những tri giác giác quan (perceptions sensorielles). Những tác dụng của nó có thể được tiếp tục gần 24 giờ sau khi tiêu thụ. Tính chất nguy hiểm mà nó gây nên khi lái xe là điều chắc chắn.
Sự phổ biến của cannabis lan rộng, mặc dầu tính độc hại của nó được xác nhận. Tính có hại này bị tăng thêm khi những tiêu thụ đầu tiên xảy ra ngày càng sớm, với một tính dễ thương tổn (vulnérabilité) đặc thù của thời kỳ niên thiếu, đó là một sự dễ dàng trở nên bị phụ thuộc hơn, một tương tác không hợp lúc với những cơ chế thành thục não bộ (diễn ra vào thời kỳ này), đó là một ảnh hưởng rất âm tính lên những quá trình học tập. Ngoài ra, những sản phẩm hiện đang lưu hành (résine, hay shit, hay haschich) và chính cây ma túy (herbe hay marijuana) có những nồng độ hoạt chất quan trọng, 5 đến 10 lần cao hơn những nồng độ mà ta tìm thấy trong những sản phẩm trước đây. Hậu quả là su gia tăng của những tác hại tâm thần : say, désinhibition, biểu hiện mê sảng, những ảo giác, lo âu, trầm cảm, nhưng rối loạn trí nhớ, sự xuất hiện và sự trở nên trầm trọng cua những rối loạn tâm thần phân liệt (trouble schizophrénique) ở những người có tố bẩm, gây nên những chứng nghiện ma túy khác.
Các nhà khoa học Tân tây lan đã xác nhận tính thương tổn (vulnérabilité) của não bộ của các thiếu niên đối với độc tính thần kinh của cannabis, gây nên, qua năm tháng, một sự giảm dần đều đặn của thương số thông minh (quotient intellectuel) với những rối loạn của trí nhớ và sự chú ý. GS John Churchwell, thuộc đại học Utah (Hoa Kỳ) đã chứng thực, bằng chụp hình ảnh điện tử (IRM : imagerie à résonnance magnétique), một sự giảm thể tích của vỏ não trước trán (cortex préfrontal) của những người tiêu thụ cannabis. Vùng này, can thiệp vào trong việc hoạch định (planification), sự đưa ra quyết định, sự làm chủ tính xung động (impulsivité), càng bị biến đổi khi những người hút cannabis đã bắt đầu càng sớm. Cannabis cũng có thể gây nên hẹp các động mạch não với những di chứng thường nghiêm trọng, như một công trình nghiên cứu mới đây của Wolff và các cộng sự viện (Strasbourg) đã chứng minh điều đó.
Những hậu quả tùy thuộc vào liều tiêu thụ và cá nhân. Sự đốt chất nhựa cannabis liên kết với sự đốt thuốc lá sinh ra không những những goudron sinh ung thư mà còn monoxyde de carbone (CO), gắn vào hémoglobine và làm giảm cung cấp oxy đến các mô và cơ tim (cũng là cơ quan tiêu thụ nhiều oxy).
MỘT NGUY CƠ GIA TĂNG BỊ NHỒI MÁU
Trước mắt, cannabis làm gia tăng sự phóng thích catécholamines, những chất kích thích tố trung gian (hormone médiatrice) của hệ giao cảm, làm gia tốc tim và làm dễ những rối loạn nhịp và thương tổn thiếu máu cục bộ của cơ tim tiến triển thành nhồi máu và ngay cả gây chết đột ngột trong trường hợp bệnh động mạch vành. Sự gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim trong nhiều giờ sau khi tiêu thụ cannabis đã được chứng minh. Về lâu về dài, cannabis được tiêu thụ với thuốc lá làm dễ sự tạo thành những mảng xơ mỡ (plaque d’athérome), thu hẹp lòng các động mạch, có thể gây nên viêm động mạch của các chi dưới và nhất là những thương tổn động mạch vành sinh nhồi máu cơ tim. Một phân tích méta được công bố bởi Nawrot vào năm 2011 trong Lancet, được thực hiện trên 36 công trình nghiên cứu tập hợp gần 50.000 trường hợp trong toàn dân, chỉ rõ rằng cannabis làm tăng gấp 5 nguy cơ nhồi máu tim. Vậy điều thận trọng là phải khuyến nghị ngừng tiêu thụ cannabis ở những bệnh nhân động mạch vành được xác nhận và những bệnh nhân có nguy cơ cao tim mạch. Nhưng trước kết phải tăng cường công cuộc đấu tranh chống lại cannabis ở những thiếu niên.
(LE FIGARO 10/6/2013)

4/ UNG THƯ TINH HOÀN : CANNABIS, YẾU TỐ NGUY CƠ.
DROGUE. Danh sách những nguy hiểm của sự tiêu thụ cannabis đối với sức khỏe không ngừng gia tăng qua thời gian và qua những công trình nghiên cứu y khoa. Tác hại mới nhất được chứng tỏ của marijuana, một nguy cơ gia tăng xuất hiện một ung thư tinh hoàn, một ung thư khó điều trị hơn những ung thư khác.
Một kíp những nhà nghiên cứu của đại học Nam California đă sàng lọc quá khứ của 163 thanh niên đă được chẩn đoán ung thư tinh hoàn và đă so sánh những dữ kiện này với những dữ kiện được thu thập ở 292 những người đàn ông khác có tình trạng sức khoẻ tốt và cùng chủng tộc.
Kết quả, những người đàn ông đã hút cannabis có hai lần cao hơn nguy cơ phát triển một dạng ung thư tinh hoàn có tiên lượng xấu, so với những người đàn ông không hút. ” Chúng tôi không biết một cách chính xác những thành phần của marijuana đã tác dụng như thế nào lên các tinh hoàn để dẫn đến một quá trình sinh ung thư, Victoria Cortessi, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu đã công nhận như vậy. Giả thuyết của chúng tôi là điều đó có thể xảy ra ở sytème interne endocannabinoide ; hệ thống này tương tác với những thành phần hoạt tính của cannabis và hệ này cũng quan trọng đối với sự sinh tinh trùng (spermatogénèse).”
Đó là một ung thư hiếm (khoảng 1-2 % của tất cả những ung thư) nhưng đó cũng là ung thư thường gặp nhất ở người đàn ông từ 15 đến 35 tuổi. Gần 95% những ung thư có thể chữa lành. Tỷ lệ xuất hiện của nó, cũng như của ung thư tuyến tiền liệt, gia tăng đều đặn trong những năm 1900, và rõ rệt hơn trong những nước da trắng từ những năm 1950 (gia tăng 3-5 lân từ những năm 1950 đến 2000).
Ở Pháp, viện theo dõi y tế quốc gia (Institut national de veille sanitaire) đã thực hiện vào năm 2011 một công trình nghiên cứu về các ung thư tinh hoàn. Viện chứng thực rằng từ giữa thế kỷ XX, ” tỷ lệ xuất hiện của ung thư tinh hoàn đã không ngừng gia tăng”. Ở Pháp, sự gia tăng này là 2,5% mỗi năm (đối với 1980-2005). Những bệnh nhân chủ yếu là những người đàn ông từ 20 đến 64 tuổi, với một tuổi trung bình lúc chẩn đoán là 37. Alsace, Lorraine, Bretagne và Pays de là Loire là những vùng bị ảnh hưởng nhất, trái với Languedoc-Roussillon và Ile-de-France, hai vùng ít bị ảnh hưởng nhất. Nhưng ta không biết giải thích những khác nhau vùng này.
(LE FIGARO 10/9/2012)

5/ TA CÓ THỂ XÉT HỢP PHÁP HÓA CANNABIS ?

Professeur Jean Costentin
Pharmacologue
Membre de l’Académie nationale de médecine.

Yêu cầu hợp pháp hóa cannabis không phải là mới, nhưng cannabis không còn là ” fumette ” nữa như cách nay 40 năm. Ngày nay, nó đậm đặc chất tétrahydrocannabinol (hoạt chất của cannabis) hơn nhiều và tưởng tượng rằng sự thương mãi hóa, bởi một công ty quốc gia, một sản phẩm có nồng độ thấp hơn ” sẽ làm dịu cơn nghiện ” là điều ảo tưởng…Những “Superskunk” và những “Iceblue” khác tiếp tục ào đến từ Hòa Lan. Vài nước, sau khi đã hợp pháp hóa cannabis, đã kín đáo thối lui. Những coffee-shop bị đóng cửa ở Amsterdam…với lý do người ta đã bắt gặp ở đó những người hút thuốc lá !
Cuộc đấu tranh chống lại thuốc lá, làm 66.000 người chết mỗi năm, không hẳn đã thắng cuộc ; có can phải thêm vào do độc tính của cannabis với 8 lần hắc ín sinh ung thư (goudron cancérigène) nhiều hơn ? Và đi từ một chứng nghiện này qua một chứng nghiện khác, nguy hiểm hơn, bởi vì độc tính của cannabis hủy bỏ ý chí, làm tiêu ma mọi cố gắng cá nhân muốn giải độc (désintoxication). Sự hợp pháp hóa cannabis như đối với thuốc lá sẽ nhân gấp 10 số người tiêu thụ, từ 1.600.000 người hiện nay lên 15.000.000, ngang bằng với những người phụ thuộc thuốc lá (tabaco-dépendants), nhưng với một nguy cơ rất có khả năng là, cũng như đối với thuốc lá và rượu, luật pháp không thành công bảo vệ những trẻ vị thành niên.
MỘT TÌNH TRẠNG PHỤ THUỘC TÂM THẦN
Những thiếu niên, phần lớn, đều tôn trọng pháp luật. Tuy nhiên, một vài vi phạm luật pháp khi chuyển qua tuổi trưởng thành, nhất là khi tiêu thụ cannabis. Nếu biên giới này không còn hiện hữu nữa, tức thì chính cánh cửa dẫn đến héroine mà những thiếu niên sẽ đến gõ, nhất là bởi vì tình trạng nghiện cannabis làm dễ dàng hơn nhiều cho sự vướng phải bởi héroine. Những người chủ trương hợp pháp hóa cannabis cũng đòi mở những “salles de shoots” (phòng chích) cho những người nghiện ma túy. Với nhiều người phụ thuộc cannabis hơn, chắc chắn là sẽ không thiếu những ứng viên cho những salle de shoot này… Còn về hủy bỏ tính chất trọng tội do sự hợp pháp hóa của cannabis, khi đó hãy tưởng tượng những người buôn ma túy được chuyển nghề qua bán kem và sorbets…
Nước Pháp là nước tiêu thụ cannabis đứng đầu châu Âu và chắc chắn không phải bằng cách hợp hợp pháp hóa hóa chất ma túy được gọi một cách sai lầm là nhẹ này mà chúng ta sẽ ở vị trí tốt hơn. Ta có biết rằng ở Thụy Điển, sự tôn trọng pháp luật liên kết với một sự giáo dục có hiệu quả sinh ra mười lần những người nghiện ma túy ít hơn so với mức trung bình ở châu Âu ?
Không phải đợi cho đến khi lửa cháy lan rộng rồi mới phải từ bỏ những máy dập tắc lửa. Cannabis không phải là một loại thuốc, dầu nghĩ thế nào thì nghĩ những người đi đến chỗ đề nghị giao sự thương mãi hóa cannabis cho các dược sĩ. Người ta đã chứng tỏ rằng các chất hắc ín của cannabis gây ung thư đối với họng và phổi ; người ta đã chứng minh rằng cannabis gây nên một sự suy giảm miễn dịch ; vì nó mà ta bị viêm động mạch (artérite), nhồi máu cơ tim, các tai biến mạch máu não, những ung thư tinh hoàn ; Cannabis đe dọa sự phát triển tốt của thai nghén và của nhũ nhi ; nó chịu trách nhiệm những tai nạn (mà số lượng vẫn còn không được đánh giá đúng) ở nơi làm việc, trên đường xá, trong cuộc sống hàng ngày ; sự phụ thuộc tâm thần (dépendance psychique) đặc biệt mạnh với những rối loạn trí nhớ, lo âu, trầm cảm và, ở những người trẻ tuổi nhất, một khuynh hướng nghiện nhiều chất ma túy (polytoxicomanie), một sự gia tăng những trường hợp tự tử và những rối loạn tâm thần phân liệt. Những rối loạn này có thể bị nặng thêm khi chúng vốn đã hiện diện và/hoặc tạo nên một sự đề kháng với các điều trị, và làm phát khởi những đợt cấp tính mới trong những thời kỳ thuyên giảm triệu chứng.
Thử dùng cannabis càng sớm, thì phụ thuộc nó càng nhanh và càng hư hỏng mạnh, bởi vì não bộ con người chỉ đạt trình độ chín mùi sau 20 tuổi ; thế mà cannabis làm rối loạn quá trình thành thục này.
(LE FIGARO 6/9/2011)
Chú thích :
– Fumette : sự hút haschisch hay marijuana.
– Haschisch : Nhựa hướng thần (résine psychotrope) trích từ lá và cụm hoa của chancre indien, thường nhất được tiêu thụ bằng hút.
– Marijuana : chất được tạo thành bởi lá và ngọn hoa của chanvre indien (Cannabis sativa), được sử dụng như thuốc ma túy.
– Drogue (ma túy) : chất hướng thần (substance psychotrope), nói chung có hại đối với sức khỏe, có khả năng gây toxicomanie (nghiện ma túy), và được tiêu thụ không đơn thuốc. Drogue dure : sinh nhanh chóng một trạng thái phụ thuộc vật lý (dépendance physique). Drogue douce : được cho là chỉ có những tác dụng nhẹ lên cơ thể.

6/ ECSTASY GÂY NHỮNG RỐI LOẠN TIM.
Thuốc ma túy này, được xem lầm và để vui chơi giải trí (récréative), lại rất là độc.
CARDIOLOGIE. Cách nay hai năm, một thanh niên 33 tuổi được nhập viện cấp cứu ở clinique des Cèdres de Toulouse vì đau ngực, khó thở và rất mệt. Sau một loạt những xét nghiệm, và nhất là một siêu âm tim, bệnh nhân này bị một thương tổn quan trọng của các van hai lá (valve mitrale). Sau khi hỏi bệnh, thì ra bệnh nhân là một người nghiện ma túy, tiêu thụ đều đặn ecstasy.
Trong một bài báo, được công bố trên site Internet của British Journal of Clinical Pharmacology, các thầy thuốc chuyên khoa tim của clinique des Cèdres, với kíp addictovigilance (cảnh giác nghiện) thuộc CHU de Toulouse, tuyên bố rằng thương tổn của các van hai lá trong trường hợp này là hậu quả của việc tiêu thụ ecstasy. Và rằng những thương tổn được quan sát tương tự với những thương tổn gây nên bởi thuốc Mediator. Tài liệu công bố này hẳn góp phần báo động những người tiêu thụ ecstasy về những nguy cơ tim gặp phải.
Trái với những lời nói của những người buôn thuốc ma túy bất hợp pháp, ecstasy là một sản phẩm nguy hiểm. Những tác dụng thần kinh đã được mô tả. Nhưng lần đầu tiên, một tác động lên tim vừa được khám phá. Quan sát đầu tiên này hẳn góp phần đo lường hiện tượng đồng thời tăng cường sự cảnh giác.
Người thanh niên này đã tiêu thụ nhiều viên ecstasy mỗi tuần từ nhiều năm, anh ta đã giải thích với các thầy thuốc chuyên khoa tim của clinique des Cèdres như vậy. Hai vị thầy thuốc này đã hỏi anh ta nhằm tìm kiếm những thuốc được dùng như Mediator khả dĩ giải thích sự biến đổi các van hai lá này, rất hiếm ở lứa tuổi này. Trên bình diện thuốc men, người thanh niên này đã không dùng gì cả, chỉ dùng ecstasy mà thôi. Chính lúc mổ bệnh nhân để đặt prothèse valvulaire mà các thầy thuốc ngoại khoa đã rất ngạc nhiên chứng thực rằng những van hai lá của bệnh nhân có cùng những thương tổn như những thương tổn được quan sát trên các van của vài bệnh nhân đã sử dụng Mediator (lésions bourgeonnantes).
ETUDES SYSTEMATIQUES.
Sau khi tiếp xúc, trung tâm cảnh giác nghiện (centre de additovigilance) của Toulouse đã xác nhận rằng ta có thể chấp nhận khả năng quy tội (imputabilité) giữa ecstasy và căn bệnh. GS Patrick Bruneval, chuyên viên giỏi nhất của Pháp về cơ thể bệnh lý về vấn đề này (hôpital Georges-Pompidou, Paris) đã xác nhận, sau khi đã xem xét các bệnh phẩm, rằng những thương tổn là điển hình của những thương tổn gây nên bởi Mediator và một cách tổng quát bởi những thuốc thuộc họ fenfluramines. Không có một yếu tố nguy cơ nào khác đã có thể được phát hiện.
” Đó là quan sát lâm sàng đầu tiên về một mối liên hệ giữa một bệnh van tim và ecstasy, GS Jean-Louis Montastruc thuộc trung tâm cảnh giác dược (centre de pharmacovigilance) của Toulouse đã đảm bảo như vậy. Những dữ kiện thí nghiệm đã phát hiện rằng ecstasy có thể gây nên những bất thường tim. Ở Bỉ, cách nay vài năm, một thầy thuốc đã gợi ý, sau khi đã thực hiện những siêu âm tim một cách hệ thống ở những người nghiện ma túy, một nguy cơ gia tăng bị bệnh van tim, nhưng không chắc về sự liên kết này. Đó là sự chứng minh hoàn toàn đầu tiên về mối liên hệ giữa ecstasy và bệnh van tim.”
Ecstasy, có những tượng tự về cấu trúc với các amphétamine, tác dụng lên cùng thụ thể sérotonique ở tim như Médiator và những fenfluramines. Ngoài ra, chất này cũng tấn công những neurone sérotoninrgique của não với những nguy cơ thần kinh về lâu về dài. Điều quan sát này hẳn sẽ dẫn đến sự tìm kiếm việc sử dụng ecstasy ở những người bị những bệnh van tim. Và tiến hành những công trình nghiên cứu hệ thống về chủ đề này nhằm đánh giá chính xác hơn nguy cơ. Từ nay, phải làm nhạy cảm hơn nữa các thanh niên về những nguy hiểm của ecstasy, được xem như là một thuốc ma túy giải trí (drogue récréative), nhưng có thể có những hậu quả tai hại lên cơ thể. Ở Pháp gần 800.000 người đã từng thử loại ma túy này, và nhất là 3,8% là những người từ 24-35, theo một báo cáo của Observatoire des drogues et des toxicomanies năm 2008.
(LE FIGARO 9/3/2012)

7/ CÁC THUỐC MA TÚY TÁC ĐỘNG LÊN CÁC NEURONE CỦA CHÚNG TA NHƯ THẾ NÀO ?
Rượu, thuốc lá, cannabis, các thuốc hướng thần (psychotropes…)… Bấy nhiêu chất ma túy, bấy nhiêu những tác dụng lên não bộ ? Không hẳn là như vậy. Bởi vì neurosciences đã cho thấy rằng dopamine, chất dẫn truyền thần kinh của khoái lạc, là tác nhân chủ chốt của sự mất cân bằng não bộ dẫn đến tình trạng phụ thuộc (dépendance)…dầu cho chất ma túy thuộc loại nào. Tất cả các chất gây nghiện dẫn đến, ít nhất trong giai đoạn đầu của sự tiêu thụ, sự phóng thích dopamine trong noyau accumbens và trong vỏ não trước trán (cortex préfrontal), từ một vùng được xem như là bản lề của bệnh nghiện : aire tegmentale ventrale (ATV). Được kích hoạt bởi các chất ma túy, những vùng này (thuộc ” circuit de la récompense “, vòng khen thưởng) sinh ra một cảm giác thỏa mãn vật lý hay tinh thần (une sensation de satisfaction physique ou psychique) đặc biệt mạnh mẽ mà những người nghiện ma túy muốn tìm kiếm, do đó gây nên tình trạng nghiện (addiction). Thí dụ nicotine. ” Người ta đã xác lập rằng nicotine kích thích sự phóng thích dopamine bằng cách gắn vào những thụ thể nicotinique beta 2, hiện diện với số lượng lớn trên những neurone dopaminergique của ATV “, Philippe Faure, thuộc đại học Pierre-et-Marie-Curie (Paris) đã giải thích như vậy.
Trên thượng nguồn và tương tác với circuit de dopamine, những hệ điều hòa (système de régulation) khác cũng góp phần, trong đó hệ điều hòa sự cân bằng giữa hai chất dẫn truyền thần kinh khác, noradrénaline và sérotonine. Tất cả các chất ma túy, trừ nicotine, làm rối loạn sự cân bằng này, ngay cả nhiều tháng sau lần tiêu thụ sau cùng. Đến độ “découpler” (tách cặp) hai hệ điều hoà này và sinh ra một sự tăng hoạt noradrénergique, được biểu hiện bởi một cảm giác khó ở và đau khổ tinh thần. Dường như rằng, ” cách duy nhất để các người nghiện ma túy chịu đựng được nó là dùng lại chất ma túy “, Jean-Pol Tassin, giám đốc nghiên cứu ở Inserm đă giải thích như vậy. ” Rượu là một chất gây rối loạn rất tốt các hệ điều hòa này và điều đó có thể giải thích tính trạng phụ thuộc mạnh mà ruợu gây nên.” Mặc dầu một sự tiêu thụ mới giúp chịu được tình trạng tăng hoạt noradrénergique, nhưng điều đó duy trì tình trạng mất quân bình giữa các chất dẫn truyền thần kinh.
Tuy nhiên mỗi chất tác động một cách đặc thù, bao hàm những hệ não khác nhau và mang lại những cảm giác khác nhau. Thuốc lá duy trì một nồng độ tăng cao của dopamine, sérotonine và noradrénaline trong những synapse (khớp thần kinh), như thế làm gia tăng sự cảnh giác (vigilance) và tập trung (concentration). Rượu làm chậm não bộ bằng cách kích hoạt những tế bào thần kinh ức chế (neurone inhibiteur) và bằng cách ức chế những tế bào thần kinh kích hoạt (neurone activateur). Trí nhớ, khả năng thông qua quyết định và những phản xạ bị ảnh hưởng. Cannabis làm gia tăng nồng độ dopamine trong các khớp thần kinh (synapse), làm rối loạn hệ thần kinh trung ương và biến đổi những tri giác giác quan. Những thuốc an thần, những thuốc ngủ và những thuốc chống trầm cảm kềm hãm những trao đổi giữa các neurone, làm chậm nhịp tim và có thể biến đổi những tri giác giác quan. Cocaine khuếch đại tác dụng của dopamine, sérotonine và noradrénaline, gây nên một sự luân phiên của các giai đoạn khoái trá (euphorie) và lo âu (anxiété), và biến đổi trí nhớ và khả năng phán đoán. Sau cùng, những thuốc nha phiến (thuốc phiện, héroine, morphine…) làm rối loạn sự điều hòa của cảm giác đau đớn và của dopamine. Điều này gây nên một tác dụng loại khoái lạc (orgasme) và làm ngây ngất (apaisement extatique).
(SCIENCES & VIE : QUESTIONS ET REPONSES)

8/ NGHIỆN : LÀM SAO BẢO VỆ CÁC CON MÌNH ?
Vai trò của bố mẹ, một thời không được chú ý đến, tỏ ra căn bản trong việc phòng ngừa và tìm thấy những hành vi có nguy cơ của các thanh niên.
PREVENTION. Không một tuần nào trôi qua mà không tiếp nhận một thiếu nữ dưới 15 tuổi trong tình trạng hôn mê rượu (coma éthylique). Thầy thuốc tâm thần Xavier Pommereau, giám đốc centre Abadie, chuyện về xử trí các thiếu niên (Bordeaux), cũng lo ngại tiếp ngày càng nhiều các bố mẹ “effondré” (xỉu xuống) đứng trước những hành vi nguy cơ, thường ngoạn mục, của các con mình : binge drinking (bitures express), tiêu thụ cannabis, scarifications (những đường rạch nông ở da)… ” 20 năm qua, ta đã thiết đặt nhiều chính sách phòng ngừa dành cho giới trẻ, nhưng măi cho đến nầy những người lớn và đặc biệt các bố mẹ đă bị bỏ qua bên “, Etienne Apaire, chủ tịch của sứ mạng liên bộ chống thuốc ma túy và nghiện ma túy đã phàn nàn như vậy.
Tuy vậy những người chuyên nghiệp tin chắc : bố mẹ là những tác nhân đầu tiên để bảo vệ các con trong lãnh vực này. Ngay cả sự phòng ngừa phải bắt đầu khá sớm, ở tuổi thơ ấu, trước khi những người thanh niên bị trực tiếp liên hệ, GS Philippe Jeammet, pédopsychiatre đã đánh giá như vậy. ” Đó là một état d’esprit trong đó ta có thói quen nói về những chuyện đời, để tạo một không khí tin cậy, mang lại cho các trẻ một vai trò tích cực, ông đã giải thích như vậy. Nguyên tắc là cho những điểm mốc và giải thích tại sao. So với những người nghiện ma túy, thông điệp chủ yếu có thể đại loại như ” Các con không phải hủy hoại mình để hiện hữu.”
ETRE COHERENT
Trong những tranh luận này, có phải cần phân biệt những sản phẩm hợp pháp như rượu và thuốc lá với những chất ma túy bất hợp pháp ? Đặt những giới hạn tuổi và lượng đối với rượu và thuốc lá, cấm hoàn toàn những những chất ma túy ? ” Mỗi người phải hành động theo cách của mình, điều quan trọng là ăn khớp với phong cách của gia đình “, GS Jeammat đã đảm bảo như vậy. ” Với tư cách bố mẹ, ta phải chống lại cannabis “, về phần mình Xavier Pommereau đã đánh giá như vậy. Đối với rượu thì ít quyết đoán hơn. Dẫu sao, theo ông, những lập trường của bố mẹ phải được biết và rõ ràng. ” Các thanh niên đừng mong chờ bố mẹ là những người bạn thân của họ trong lãnh vực này. Các bậc cha mẹ muốn những giới hạn, nhưng cần biết rằng một giới hạn không phải là một bordure (đường viền), mà là một bande de territoire trong đó ta có thể thỏa hiệp “, ông nhấn mạnh như vậy.
Còn lại điểm tế nhị nhất, làm sao phản ứng trước một thiếu niên trở về từ một soirée, say rượu hay bắt đầu hút cannabis ? Đây cũng vậy, các chuyên gia chủ trương le bon sens. ” Khi con mình trở về say rượu, tốt nhất là đợi đến ngày hôm sau để nói lên sự lo lắng của mình. Mặc dầu điều đó là khó, nhưng hãy cố tỏ ra nhã nhặn hơn là buộc tội, đồng thời vẫn luôn luôn cứng rắn”, nhà xã hội học Geneviève Praplan đã giải thích như vậy.
(LE FIGARO 3/5/2010)
Ghi chú :
– Biture : sự say rượu
– Prendre une biture : s’enivrer : say rượu

9/ TÁC ĐỘNG LÊN CHỨNG NGHIỆN MA TÚY NHỜ MỘT KÍCH THÍCH ĐIỆN NÃO BỘ.
NEUROLOGIE. Kỹ thuật đã được sử dụng đối với những bệnh nhân bị bệnh Parkinson.

– Ta sẽ điều trị chứng nghiện mà túy nhờ một kích thích điện não bộ ?
– Một công trình nghiên cứu được tiến hành trên chuột có thể áp dụng trên người.

Những nhà nghiên cứu của National Institute on Drug Abuse (Nida) ở Hoa Kỳ đã thực hiện một công trình nghiên cứu, được công bố trong Nature, trên những con chuột và đã chứng tỏ rằng sự kích thích ở một vùng nào đó của não bộ (cortex prélimbique) có tác dụng làm giảm sự thôi thúc tìm kiếm cocaine.
Để thực hiện công trình nghiên cứu này, những con chuột có thể tự cho mình chất ma túy bằng cách ấn vào một pédale. Sau khi đã sử dụng một liều ma túy, chúng nhận một phóng điện. Kết quả, vài con chuột nhạy cảm với sốc điện này trong khi những con khác vẫn tiếp tục dùng ma túy mặc dầu bị sốc điện (cũng như một người có thể tiếp tục dùng ma túy mặc dầu những hậu quả âm tính về mặt xã hội hay sức khỏe).
Các nhà nghiên cứu muốn biết những tính chất của các neurone có bị biến đổi ở những con chuột đề kháng với những phóng điện hay không. Và thật vậy, những con chuột này có một sự giảm tính kích thích của các neurone của cortex prélimbique. Khi đó họ đã cố tác động lên tình trạng phụ thuộc bằng cách “tái kích thích” vùng này, bằng một kỹ thuật được gọi là optogénétique. Và điều đó có hiệu quả. Ngược lại, bằng cách ức chế những neurone này ở những con chuột không đề kháng, họ tăng cường comportement compulsif của các con chuột.
ÁP DỤNG LÂM SÀNG.
Các nhà nghiên cứu vui mừng bởi vì công trình nghiên cứu được tiến hành trên chuột này có thể áp dụng dễ dàng trong nghiên cứu lâm sàng. Thật vậy, ở người, cortex prélimbique không hiện hữu nhưng có một vùng tương đương được gọi là cortex préfrontal dorsal. Vùng này có liên quan trong việc đưa ra quyết định và trong khuynh hướng bị thôi thúc (impulsivité).
” Sự kích thích neurone ở vùng sâu này đã được thực hiện đối với những bệnh nhân bị bệnh Parkinson, thế thì tại sao không sử dụng nó ở những người bị phụ thuộc nặng ? Nhưng vấn đề là còn phải hiểu mọi khía cạnh lâm sàng : Ta có thể sử dụng kỹ thuật này ở quy mô nào ? Phải áp dụng phương pháp này ở tần số nào để có được những kết quả ?
(LE SOIR 10/4/2013)
Ghi chú :
– Compulsion (sự thúc đẫy, sự thôi thúc) : lực bên trong khiến người bệnh buộc phải thực hiện vài hành vi và bệnh nhân không thể chống lại mà không lo âu.
– Comportement compulsif : Hành vi do bị thúc đẩy
– Recherche compulsive : sự tìm kiếm do bị thúc đẩy
– Impulsion (sự thúc đẫy, sự thôi thúc) : khuynh hướng tự nhiên và không thể cưỡng được phải thực hiện một hành vi (khác với compulsion, cũng không cưỡng được, nhưng đi trước bởi một sự lo âu chống lại)
– Impulsivité : khuynh hướng bị thôi thúc

10/ NHỮNG NGƯỜI BỊ NGHIỆN MA TÚY ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ Ở PHÁP NHƯ THẾ NÀO ?
Chính quyền chẳng bao lâu nữa sẽ mở những “salle de shoot”, mặc đầu đã có nhiều cơ sở hỗ trợ.
DROGUES. Nước Pháp có cần những trung tâm chích được giám sát (CIS : centre d’injections supervisés), thường được gọi là ” salles de shoot” ? Đó là những cơ sở mà những người nghiện ma túy ” có thể đến để tự mình chích lấy những chất ma túy được mang theo, dưới sự giám sát của một nhân viên nhà nghề “, theo giám định được thực hiện bởi Inserm năm 2010. Vấn đề này gây nên những cuộc tranh luận sôi nổi từ khi bộ trưởng y tế, Marisol Touraine, tỏ ý định phát động những cuộc thí nghiệm trên lãnh thổ quốc gia. ” Những bàn cãi xảy ra khi không có những dữ kiện rõ ràng “, GS Michel Lejoyeux, thầy thuốc tâm thần chuyên khoa về nghiện, đã nhận xét như vậy.
Ngoài ra, khó extrapoler những kết quả của các nước, trong đó các salles de shoot đã hiện hữu (Canada, Úc, Thụy Sĩ, Hòa Lan, Đức,Tây Ban Nhân, Luxembour và Na Uy) bởi vì những biện pháp xử trí toàn bộ rất thay đổi từ nước này qua nước khác. Nước Pháp từ năm 1987 theo một chính sách làm giảm những nguy cơ, nhất là nhiễm trùng do tiêm, với sự tự do hóa việc bán các ống tiêm ở hiệu thuốc, rồi những chương trình trao đổi ống tiêm (programme d’échange de seringue). Tuy nhiên sự phòng ngừa vẫn không đủ, “đặc biệt là trong những thành phố nhỏ và vùng nông thôn”, Marie Jauffret-Roustide, nhà xa hội học phụ trách về nghiện ở Viện theo dõi y tế (InVS) đã xác nhận như vậy. Ngược lại, đối với sự tiếp cận những điều trị thay thế các chất nha phiến (Subutrex, méthadone), ” nước Pháp đã theo kịp và bây giờ trở thành mẫu mực.”
Ngày nay những điều trị dựa trên những gì ? ” Những điều trị bao gồm chủ yếu những phương pháp dược lý và điều trị tâm thần (approche pharmacologique et psychothérapeutique), BS Dervaux, thầy thuốc tâm thần (Sainte-Anne, Paris) đã giải thích như vậy. Những điều trị này phải được kéo dài, bởi vì não bộ vẫn còn giữ dấu ấn của tình trạng phụ thuộc và những người nghiện vẫn dễ bị thương tổn (vulnérable) rất lâu sau khi cai nghiện.” Tuy nhiên GS Lejoyeux yêu cầu không nên từ chối những can thiệp sớm. ” Phải nhờ đến càng sớm càng tốt một démarche médicalisée, bởi vì muốn làm giảm các nguy cơ thì cần phải điều trị. Chứ không phải chỉ giản đơn trao đổi các ống tiêm.”
Thế thì vai trò của những CIS (centre d’injections supervisées) hiện nay là gì ? Đối với BS Dervaux, ” một CIS nhằm làm giảm những nguy cơ trong khi trong một trung tâm điều trị cho những người nghiện ma túy (centre de soins pour toxicomanes), chúng tôi theo một phương thức khác, ngừng hoặc làm giảm sự tiêu thụ ở những người mong muốn sau khi đã ý thức tình trạng phụ thuộc và muốn thay đổi hành vi của họ.” Thật vậy người ta ước tính rằng những người nghiện ma túy, trung bình bắt đầu chích vào khoảng năm 20 tuổi, chỉ hướng về điều trị khoảng 10 năm sau. Những người nghiện ma túy đến những trung tâm tiếp đón và theo kèm để làm giảm những nguy cơ ở những người sử dụng ma túy (Caarud : centre d’accueil et d’accompagnement à là réduction des risques chez les usagers de drogue) chiếm một tỷ lệ có lẽ gần với những người đi đến salle de shoot. Theo một điều tra của OFDT (Observatoire français des drogues et des toxicomanies), được công bố vào tháng 9 năm 2012, những người nghiện ma túy ngày càng lớn tuổi (trung bình 35 tuổi) và số những người trên 45 tuổi ngay cả tăng gấp đôi giữa những năm 2006 và 2010 để đạt tỷ lệ 18%. Phần lớn những người nghiện ma túy sống trong những điều kiện bấp bênh quan trọng vì lẽ ” gần một trên hai không có chỗ ở nhất định hay sống ở một nơi tạm trú “. Ngoài ra ” hơn một nửa những người sử dụng sống nhờ những tiện trợ cấp xã hội và gần 1/4 không có một phương tiện sinh sống chính thức nào ”
(LE FIGARO 26/12/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(20/10/2013)

cannabis 1Couverture facebook cannabis

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 323 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 505 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s