Thời sự y học số 322 – BS Nguyễn Văn Thịnh

Sclérose en plaques1/ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC : NHỮNG TIẾN BỘ ĐIỀU TRỊ MỚI

                                    NHỮNG CON SỐ
90.000 bệnh nhân ở Pháp
3 lần các phụ nữ mắc bệnh nhiều hơn đàn ông
70-80% những trường hợp xơ cứng rải rác bắt đầu giữa 20 và 40 tuổi
350 thử nghiệm thuốc đang được tiến hành trên thế giới với khoảng 30 dược phẩm.
Vào năm 2014 sẽ xuất hiện diméthyl fumarate hay BG-12. Thuốc uống này làm giảm 50% những đợt bộc phát và có thể trở nên một điều trị hàng đầu.
              Một bệnh tự   miễn dịch tấn công vào hệ thần kinh.
1. Vì những lý do vẫn chưa được biết rõ, vài tế bào lympho (những tác nhân của hệ miễn dịch) được kích hoạt một cách bất thường và tấn công vào circuit nerveux.
2. Sự phá hủy bao myéline gây nên một sự biến đổi dẫn truyền diện trong sợi trục (axone).
3. Những thông tin mà não bộ gởi cho phần còn lại của cơ thể bị rối loạn và gây nên một sự vận hành xấu của các cơ quan và các cơ.

Căn bệnh bí ẩn này vẫn còn giữ nhiều bí mật, nhưng đã có những tiến bộ thật sự.
NEUROLOGIE. Cuối tháng ba, Cơ quan dược phẩm châu Âu đã cho phép đưa ra thị trường hai loại thuốc mới chống lại bệnh xơ cứng rải rác, diméthyl-fumarate và tériflunomide, chẳng bao lâu sẽ làm phong phú arsenal thérapeutique chống lại căn bệnh thần kinh gây phế tật này”.
Bệnh xơ cứng rải rác (SEP : sclérose en plaques) gây bệnh cho khoảng 90.000 người ở Pháp. Ở đây đó là nguyên nhân đầu tiên của phế tật không do chấn thương ở người lớn. Là bệnh tự miễn dịch của hệ thần kinh trung ương, xơ cứng rải rác bắt đầu, trong 70 đến 80% các trường hợp, giữa 20 và 40 tuổi. Các phụ nữ bị 3 lần nhiều hơn đàn ông. Tần số của nó gia tăng từ Nam lên Bắc, có lẽ liên hệ với thời gian có ánh nắng mặt trời. Những gène nhạy cảm đã được nhận diện, cũng như những yếu tố môi trường (nhiễm trùng virus, thiếu hụt vitamine D, thuốc lá). Nhưng căn bệnh tự miễn dịch này chủ yếu vẫn không được biết rõ.
Bệnh xơ cứng rải rác được biểu hiện bởi những ” đợt bộc phát ” viêm (poussées inflammatoires) : vài tế bào lympho, được kích hoạt một cách bất thường, tấn công từng nơi bao miêlin (gaine de myéline) có nhiệm vụ bảo vệ những sợi thần kinh, (hay những sợi trục) của não bộ và của tủy sống, tạo thành những ổ hủy miêlin (foyer de démyélinisation), làm rối loạn dẫn truyền thần kinh. Rồi đợt viêm ngừng lại, nhường chỗ cho những cơ chế tự nhiên sữa chữa myéline. ” Như thế bệnh nhân thấy xuất hiện trong vài ngày những triệu chứng thần kinh được xác định bởi vị trí của các thương tổn. Những triệu chứng này tồn tại trong thời gian viêm và sửa chữa, rồi thoái bộ một cách ngẫu nhiên, hoàn toàn hay để lại những di chứng “, GS Sandra Vukuzic (CHU Lyon) đã giải thích như vậy.
Biểu hiện khác của xơ cứng rải rác, một sự thoái hóa neurone diễn ra từ từ. Là hậu quả khả dĩ của quá trình viêm, sự thoái hóa này làm xuất hiện dần dần những triệu chứng nhưng không thoái lui. ” Trong khi 85% đến 90% những người bệnh bắt đầu bằng một thể với những đợt bộc phát (forme à poussées), hay thuyên giảm từng hồi (rémittente), 10% đến 15% có tức thời một xơ cứng rải rác diễn ra dần dần, thoái hóa (une SEP progressive, dégénérative). Trong số những bệnh nhân bị thể thuyên giảm từng hồi, 30% sẽ phát triển về sau một thể diễn ra dần dần “, nhà thần kinh học đã xác nhận như vậy. Thể thuyên giảm từng thường gây bệnh cho những người trẻ hơn là thể diễn ra dần dần. Thể này, ít viêm hơn, khó điều trị hơn và gây phế tật hơn.
Rất biến thiên, những triệu chứng của bệnh xơ cứng rải rác tùy thuộc vào nơi của những thương tổn. Một trường hợp trên bốn, thương tổn đầu tiên ảnh hưởng dây thần kinh thị giác, với giảm thị giác trung tâm của một mắt, và thường gây đau. Những triệu chứng khác rất ít đặc hiệu : những dấu hiệu cảm giác (cảm giác kiến bò, tê cóng, đau, đau dây thần kinh mặt) hay những rối loạn vận động (yếu hay liệt rõ rệt ít hay nhiều của một hay nhiều chi, những rối loạn cân bằng, những cử động vụng về, những rối loạn cơ vòng hay sinh dục…). Với thời gian, sự mệt mỏi, nhưng rối loạn nhận thức (troubles cognitifs) gia tăng.
Vì thiếu một trắc nghiệm, chẩn đoán dựa trên một số các tiêu chuẩn : nhiều thương tổn thần kinh, tính chất mãn tính của thương tổn, viêm hệ thần kinh. Ngoài các triệu chứng, chẩn đoán dựa trên chụp cộng hưởng từ não (IRM cérébrale), cho phép loại bỏ những bệnh khác và cho thấy những mảng phân tán trong chất trắng. Chọc dò tủy sống xác nhận viêm của hệ thần kinh trung ương. ” Không có một chỉ dấu sinh học nào (marqueur biologique) về tiến triển của bệnh xơ cứng rải rác. Nhưng tầm quan trọng của các thương tổn ở chụp cộng hưởng từ là khá tương quang với tiến triển lâm sàng, GS Jean Pelletier (CHU Marseille) đã giải thích như vậy. Tuy nhiên không phải tất cả các thương tổn đều biểu hiện. Trung bình, một bệnh nhân có một đợt bộc phát mỗi năm. Trong thời gian này, 20 đến 30 thương tổn xuất hiện. Vài thương tổn sẽ biến mất, những thương tổn khác vẫn còn tồn tại hay gia tăng, một cách không thể tiên đoán được… Tuy nhiên não bộ thành công bù vài thương tổn do căn bệnh.”
Không có một điều trị nào chữa lành bệnh xơ cứng rải rác. Nhưng sự xuất hiện cách nay 20 năm những thuốc điều biến miễn dịch (immunomoduleur) đầu tiên, interféron bêta roi acétate de glatiramère (Copaxone), đã cho phép làm giảm số những đợt bộc phát và sự tiến triển của căn bệnh. Mới đây hơn, natalizumab (Tysabri) và fingolimod (Gilenya) đã đến làm gia tăng tính hiệu quả của những điều trị, và những thuốc khác sẽ đến tiếp theo. Cho đến nay, ta ước tính rằng về lâu dài 1/4 các xơ cứng rải rác vẫn ít nghiêm trọng, 1/3 tiến triển thành một phế tật nặng nề, và 1/3 trở thành những hạn chế khác nhau nhưng vẫn giữ mot khả năng độc lập tương đối.
” Chúng ta không thể nói như thế hôm nay nữa, GS Vukuzic đã ước tính như vậy. Những thuốc điều trị mới làm cách quãng các cơn bộc phát và biến đổi sự tích lũy của các phế tật. Chúng ta chưa có thời gian nhìn lại đủ để nói là chúng sẽ thay đổi tiến triển của bệnh về lâu dài hay không, nhưng có những lý do để nghĩ như thế.”
Trong những điều kiện này, điều trị những triệu chứng khác nhau và sự xử trí toàn bộ những bệnh nhân thường còn trẻ này, mà căn bệnh làm cản trở những dự án nghề nghiệp và gia đình, cũng quan trọng như điều trị nền (traitement de fond). ” Vậy phương pháp nhiều chuyên khoa (approche pluridisciplinaire) là quan trọng để đáp ứng tốt hơn những mối quan tâm của người bệnh, mặc dầu không phải luôn luôn là những quan tâm của người thầy thuốc thần kinh “, GS Pierre Clavelou (CHU Clermont-Ferrad) đã nhấn mạnh như vậy. Vì sự điều trị chủ yếu được thực hiện ở nhà, nên công tác của những mạng điều trị (réseau de soins) được thiết đặt là yếu tố quyết định đối với chất lượng sống của các bệnh nhân. ” Nhưng một sự cấu trúc hóa thật sự và sự công nhận như centre de référence của những khoa thần kinh có liên hệ sẽ làm dễ công tác này “, thầy thuốc thần kinh đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 27/5/2013)

2/ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC : HƯỚNG DI TRUYỀN
Những cơ chế sinh bệnh lý của bệnh xơ cứng rải rác vẫn khá bí ẩn, nhưng gây nên một nghiên cứu tích cực bởi vì chúng chi phối nhiều những tiến bộ điều trị tương lai. Quan niệm chỉ đạo là quan niệm của một bệnh được phát khởi bởi nhiều yếu tố (une maladie à déclenchement multifactoriel), ở một người có một tính nhạy cảm (susceptibilité) đối với một bệnh tự miễn dịch.
Nhiều virus đã được nghi ngờ : virus EBV, rétrovirus,… ” Tất cả các bệnh nhân bị bệnh xơ cứng rải rác đều mang EBV, so với 95% trong toàn dân, và 5% những người âm tính đối với EBV có một nguy cơ vô cùng nhỏ phát triển một bệnh xơ cứng rải rác “, BS David Laplaud (CHU Nantes) đã xác nhận như vậy. Đối với ông ” giả thuyết chiếm ưu thế là một ngụy trang phân tử (mimétisme moléculaire) giữa một thành phần của virus và một thành phần của myéline đánh lừa hệ miễn dịch ” Sự hiện hữu của một tính nhạy cảm di truyền (susceptibilité génétique) đã được biết từ lâu. ” Nhiều gène đã được nhận diện và mỗi gène có một poids génétique rất thấp trong căn bệnh. Tất cả chúng đóng một vai trò trong đáp ứng miễn dịch “, GS Catherine Lubetzki (CHU Pitié-Salpetrière) đã giải thích như vậy.
SỬA CHỮA MYELINE
Còn về những tế bào lympho có liên hệ, dường như cần một sự kích hoạt gấp đôi, ở ngoài rồi trong hệ thần kinh trung ương, để biểu hiện căn bệnh xơ cứng rải rác. ” Những tế bào Th17, hiện diện trong những bệnh tự miễn dịch khác, ở đây đóng một vai trò quan trọng, cũng như những tế bào lympho B sản xuất những kháng thể, thầy thuốc thần kinh đã chỉ rõ như vậy. Những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux) (nhằm vào vài tế bào lympho B) làm giảm mạnh số lượng những thương tổn và những đợt bộc phát ở các bệnh nhân trong nhiều thử nghiệm sơ bộ.” Ngược lại, ít những chỉ dẫn về những lý do tại sao những thương tổn xuất hiện ở nơi này hoặc nơi kia, cũng như vì sao forme rémittente chuyển qua forme prograssive của bệnh bệnh xơ cứng rải rác. ” Sự nối tiếp giữa viêm, hủy bao miêlin (démyélinisation) và tái hình thành bao miêlin (remyélinisation), có lẽ tùy thuộc vào tầm quan trọng của thương tổn sợi trục dưới miêlin. Vào một lúc nào đó, sợi trục này bị quá thương tổn và bắt đầu thoái hóa, dẫn đến sự chết của neurone.”
Những nghiên cứu cùng hướng về những đường sửa chữa của miêlin. ” Nhiều loại tế bào, nhưng những tế bào khứu giác hay vài tế bào gốc thần kinh (cellules souches neurales) đã cho thấy những năng lực tái hình thành bao miêlin (remyélinisation) ở động vật “, nhà thần kinh học đã giải thích như vậy.
Những công trình nghiên cứu này cũng mang lại những yếu tố làm dễ sự sửa chữa. ” Ta biết rõ hơn vai trò của những tế bào tiền thân của vài tế bào thần kinh, những oligodendrocyte. Những tế bào này đảm bảo phần lớn những sửa chữa của miêlin. Trong quá trình sửa chữa 4 giai đoạn này, nhiều cơ chế phân tử hướng dẫn tế bào đã được nhận diện và tạo những đích điều trị khả dĩ. Như thế, sự nhận diện một phân tử Lingo 1 ức chế sự biệt hóa chúng thành những tế bào oligodendrocyte trưởng thành, đã dẫn đến sự phát triển một chất ức chế Lingo 1, với một thử nghiệm điều trị đầu tiên vừa mới bắt đầu.”
Những hướng nghiên cứu khác đầy hứa hẹn đối với BS Laplaud, công trình nghiên cứu được công bố mùa hè này bởi một kíp nghiên cứu người Đức. ” Công trình này cho thấy sự hiện diện ở một nửa các bệnh nhân, nhưng không ở những người chứng, những kháng thể hướng chống lại một kênh vận chuyển của potassium hiện diện trên những astrocyte và những oligodendrocyte.
(LE FIGARO 27/5/2013)

3/ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC : MỘT LOẠT CÁC THUỐC ĐỔI MỚI
Mặc dầu không có một điều trị chữa lành nào đối với bệnh xơ cứng rải rác, nhưng một điều trị thích đáng có thể hạn chế những hậu quả của nó. Điều trị các đợt bộc phát dựa trên cortisone tiêm truyền với liều mạnh trong 3 đến 5 ngày. Cortisone làm rút ngắn những đợt bộc phát, làm gia tốc sự phục hồi, nhưng không làm giảm các di chứng.
Điều trị nền (traitement de fond) nhờ đến các thuốc điều biến miễn dịch (immuno-modulateur) nhằm ngăn cản hệ miễn dịch tấn công hệ thần kinh để tránh những đợt bộc phát và sự xuất hiện của những thương tổn mới, như vậy tránh sự trầm trọng của bệnh xơ cứng rải rác. Nhưng chúng tác dụng ít hay không tác dụng lên những thể diễn ra từ từ (forme progressive). Xưa nhất, interféron bêta, đã làm đảo lộn sự điều trị của bệnh xơ cứng rải rác cách nay 20 năm. ” Với một hay hai mũi tiêm mỗi tuần, interféron làm giảm 30 đến 40% tần số của những đợt bộc phát. Nhưng 50% những bệnh nhân bị một hội chứng cúm giả (syndrome pseudo-grippal), nhất là lúc đầu điều trị, và nó thường làm gia tăng sự mệt nhọc. Acétate de glatiramère (Copaxone), được phát triển sau đó có một hiệu quả tương tự nhưng không có những tác dụng phụ của interféron. Nhưng thuốc phải được tiêm mỗi ngày, với về lâu về dài những vấn đề ở những nơi tiêm “, GS Vukuzic (CHU Lyon) đã giải thích như vậy.
350 THỬ NGHIỆM ĐANG ĐƯỢC TIẾN HÀNH “.
Những loại thuốc mới hơn được sử dụng ưu tiên hai trong trường hợp thất bại điều trị này. Kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal) đầu tiên trong bệnh xơ cứng rải rác, natalizumab (Tysabri), ngăn cản những tế bào lympho bị kích hoạt đi xuyên qua hàng rào máu-não (barrière hémato-encéphalique), như vậy bảo vệ hệ thần kinh. Rất có hiệu quả, làm giảm 70 đến 80% những đợt bộc phát, tiện lợi và được dung nạp tốt, tuy vậy thuốc đã gây nên (mặc dầu hiếm) những trường hợp viêm não do virus, những LEMP (leuco-encéphalite progressive multifocale). Những bệnh nhân có nguy cơ có thể được phát hiện. Xuất hiện trên thị trường từ năm qua, fingolimod (Gilenya) là thuốc uống đầu tiên của bệnh xơ cứng rải rác. Bằng cách giới hạn vài tế bào lympho trong các hạch, thuốc làm suy giảm miễn dịch này làm giảm 50% những đợt bộc phát. Vì nó có thể làm chậm lại nhịp tim , liều thuốc đầu tiên được thực hiện ở bệnh viện dưới sự theo dõi. Ưu tiên ba, mitoxanthrone, khá độc, dành cho những xơ cứng rải rác rất hung dữ (SEP agressive).
Vào năm 2014 sẽ xuất hiện trên thị trường diméthyl fumarate hay BG-12. Thuốc uống này làm giảm 50% những đợt bộc phát và có thể trở thành điều trị ưu tiên một. Chẳng bao lâu nữa teriflunomide cũng sẽ xuất hiện. Cũng được dùng bằng đường miệng, chất làm suy giảm miễn dịch (immunosuppresseur) này làm giảm 30% tần số các cơn, với cái giá bị một nguy cơ nhiễm trùng nhỏ và một nguy cơ trong trường hợp thai nghén. Sau đó sẽ xuất hiện một thuốc điều biến miễn dịch (immunomodulateur) cũng có tác dụng bảo vệ thần kinh, laquinimod, và một kháng thể đơn dòng thứ hai, alemtuzumab, rất hiệu quả trên những đợt bộc phát, nhưng nhằm vào vài tế bào lympho T, mà nó tiêu hủy trong vòng 12-18 tháng, như thế làm biến đổi nhiều cân bằng miễn dịch.
” Hiện nay có hơn 350 thử nghiệm đang được thực hiện trên thế giới với hơn 30 loại thuốc đang được tiến hành, và một sự phát triển mạnh sinh liệu pháp (biothérapie), GS Pelletier (CHU Marseille) đã giải thích như vậy. Sự gia tăng của những đích điều trị khác nhau hẳn mở đường, trong tương lai, cho những phối hợp để gia tăng tính hiệu quả của các điều trị. Nhưng chúng ta không biết những tiến bộ này sẽ cũng có một hiệu quả lên sự làm giảm phế tật mà những cơ chế khác có thể can thiệp hay không.”
(LE FIGARO 27/5/2013)

4/ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC : TIẾN BỘ ĐỐI VỚI NHỮNG THỂ CÓ NHỮNG CƠN BỘC PHÁT.
Một loại thuốc cải tiến đã được phép thương mãi hóa ở Hoa Kỳ. GS Thibault Moreau, trưởng khoa thần kinh thuộc CHU de Dijon, giải thích cho chúng ta tác dụng của thuốc mới này.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của căn bệnh của hệ thần kinh trung ương này ?
GS Thibault Moreau. Bệnh lý này gây thương tổn không những não bộ mà cả tủy sống nữa. Trong 2/3 các trường hợp, bệnh xuất hiện giữa 20 và 35 tuổi và hai lần thường xảy ra hơn ở các phụ nữ. Hiện nay ta thống kê khoảng 75.000 bệnh nhân ở Pháp. Đó là một đợt tấn công viêm (attaque inflammatoire) nhằm vào myéline, lớp bao bọc quanh những đường thần kinh, như lớp bao của một dây điện : dòng điện không chạy qua nữa, dòng điện bị cắt. Bởi vì mỗi vùng của não bộ tương ứng với một chức năng, nên sự cắt điện này có những hậu quả, tùy theo vùng bị thuong tổn, lên khả năng vận động, cảm giác, thị giác…
Hỏi : Nguồn gốc của quá trình viêm này ?
GS Thibault Moreau : Một sự rối loạn của hệ miễn dịch. Hệ miễn dịch, bị kích hoạt và tấn công myéline : nó lầm tưởng myéline là một vật lạ, như một virus hay một vi khuẩn. Thêm vào đó là một thương tổn mãn tính của các neurone do một quá trình thoái hóa. Về nguyên nhân, ta tìm thấy một thể trạng di truyền nào đó và những yếu tố môi trường (thiếu vitamine D, chứng nghiện thuốc lá…)
Hỏi : Những triệu chứng nào xuất hiện vào giai đoạn đầu của bệnh xơ cứng rải rác ?
GS Thibault Moreau : Những triệu chứng có thể xuất hiện đơn độc hay phối hợp. Căn bệnh bắt đầu biểu hiện bằng một giảm thị lực đối với 1/4 các bệnh nhân, những rối loạn vận động trong khoảng 40% các trường hợp, một sự giảm lực cơ của một hay hai chi, những cảm giác kiến bò, những cảm giác rát bỏng, một sự mất cảm giác hay những vấn đề cân bằng.
Hỏi : Có những thể khác nhau của căn bệnh này không ?
GS Thibault Moreau : Có hai thể. 1. Bệnh xơ cứng rải rác với những cơn bộc phát (85% các trường hợp), kéo dài khoảng 1 tháng và có tần số thay đổi tùy theo những bệnh nhân (trung bình mỗi 18 tháng). Ngay sau một đợt bộc phát, những triệu chứng biến mất nhưng, với thời gian, nó để lại những di chứng. 2. Thể mãn tính diễn biến từ từ (forme chronique progressive). Ở đây những triệu chứng phối hợp, gia trọng với thời gian và cuối cùng trở nên thường trực. Đó là thể nghiêm trọng nhất, gây nên một phế tật quan trọng có thể khiến phải di chuyển bằng xe lăn. Sau khoảng 15 năm; một nửa những bệnh nhân với thể những cơn bộc phát (forme à poussées) tiến triển thành bệnh xơ cứng mãn tính diễn biến từ từ (sclérose chronique prograssive).
Hỏi : Hiện nay điều trị quy ước là gì ?
GS Thibault Moreau : Sự xử trí đối với thể có những cơn bộc phát gồm hai loại điều trị. Điều trị thứ nhất được thực hiện bằng tiêm truyền corticoides trong 3 ngày : chúng làm giảm cường độ và thời gian kéo dài của các triệu chứng. Điều trị thứ hai là điều trị duy trì (traitement de fond), hoặc với một interféron, hoặc với acétate de glatiramère (Copaxone), làm giảm tần số những cơn bộc phát trong thời gian và sự tiến triển của phế tật. Hai loại thuốc này là những chất điều biến miễn dịch (immunomodulateur), nhưng có bất tiện là chỉ hiện hữu dưới dạng thuốc tiêm. Vậy các bệnh nhân buộc phải tự tiêm cho mình nhiều lần mỗi tuần. Khi những điều trị này trở nên không có hiệu quả, tùy theo những trường hợp, ta kê đơn những thuốc làm suy giảm miễn dịch (immunosuppresseur) : natalizumab (Tysabri) (tiêm truyền mỗi tháng) hay fingolimod (Gilenya) (một viên mỗi ngày). Những thuốc làm suy giảm miễn dịch này ít gây gò bó hơn những thuốc điều biến miễn dịch, nhưng, vì làm hạ những phòng vệ miễn dịch, chúng có nguy cơ gây nhiễm trùng.
Hỏi : Thuốc vừa được phép thương mãi hóa ở Hoa Kỳ là loại thuốc nào ?
GS Thibault Moreau : Teriflunomide. Dành cho những thể có những cơn bộc phát, thuốc làm suy giảm miễn dịch này tác động chủ yếu lên những tế bào lympho, những tế bào của hệ miễn dịch tham gia tích cực vào sự tấn công bao myéline : thuốc này (được cho bằng đường miệng) làm giảm một cách hiệu quả sự tăng sinh của những tế bào lympho và tác dụng có hại của chúng.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng tỏ tính hiệu quả của loại thuốc này ?
GS Thibault Moreau : Terflunomide, thuốc rất “bà con” với thuốc thường được sử dụng đối với bệnh viêm đa khớp dạng thấp, đã là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu quốc tế được tiến hành trên nhiều ngàn bệnh nhân. Những kết quả đã cho thấy một sự giảm khoảng 30% tần số của các đợt bộc phát và giảm hơn 20% sự tiến triển của phế tật. Thuốc dung nạp tốt, nhưng có lẽ phải đợi đến cuối năm 2013 để được phép thương mãi hóa ở châu Âu.
Hỏi : Nói tóm lại, những ưu điểm của loại thuốc mới nhất này đối với những thể bệnh với những cơn bộc phát là gì ?
GS Thibault Moreau : 1. Một tính hiệu quả rõ rệt lên sự giảm tiến triển của phế tật. 2. Ưu điểm không phải dùng nữa những thuốc có những nguy cơ lớn hơn. 3. Một sự cho thuốc ít gò bó hơn, bằng đường miệng, điều này làm dễ sự tuân thủ điều trị.
(PARIS MATCH 27/12/2012 – 2/1/2013)

5/ VÔ HIỆU HÓA BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC
Một tác nhân miễn dịch bị nghi ngờ tạo nên cơn bộc phát của căn bệnh.

                                  Những điểm chủ yếu- Interleukine
-1 bị nghi ngờ gây nên những cơn bộc phát của bệnh xơ cứng rải   rác.
– Những con chuột được tiêm chủng đã không phát triển nữa bệnh tự miễn dịch, như bệnh bệnh xơ cứng rải rác.
– UCL sẽ nghiên cứu loại thuốc này tác động như thế nào ở những bệnh nhân được điều trị ở bệnh viện.

NEUROLOGIE. Không phải thành công làm cho bệnh xơ cứng rải rác thuyên giảm lâu dài, mà là có được một sự chữa lành thật sự căn bệnh tự miễn dịch này, đó là tham vọng cuối cùng của dự án nghiên cứu của hai đơn vị của UCL (vừa được bắt đầu tháng giêng 2012), nhờ sự tài trợ của Fondation Charcot.
” Bằng cách hiểu tốt hơn tại sao hệ miễn dịch tấn công lầm chống lại cơ thể của chúng ta, có lẽ chúng ta sẽ có thể mở một cánh cửa hướng về một điều trị chữa lành căn bệnh “, GS Christian Sindic, trưởng unité de neurochimie của khoa thần kinh thuộc UCL, người đồng chỉ đạo nghiên cứu này, đã giải thích như vậy.
Để đạt được điều đó, các nhà nghiên cứu này đang trên hướng nghiên cứu interleukine 17, một cytokine có tác dụng hướng viêm (proinflammatoire) và hoạt tính của nó dường như bất thường ở những bệnh nhân bị bệnh xơ cứng rải rác, gợi ý rằng điều này có thể là nguyên nhân, ít nhất một phần, của cơn bộc phát của căn bệnh.
” Những con chuột phòng thí nghiệm, được tiêm chủng chống lại interleukine-17 (IL-17) hay đã nhận những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux) chống lại IL-17, đã không còn phát triển nữa viêm não tự miễn dịch (encéphalite auto-immune), một căn bệnh có những điểm rất tương tự với bệnh xơ cứng rải rác. Vậy, dựa trên một mẫu nghiệm máu ở những bệnh nhân được điều trị ở bệnh viện Saint-Luc, chúng tôi sẽ xác định liều lượng của thuốc này là bao nhiêu, không những khi bệnh nhân có một cơn kịch phát của bệnh, mà cả khi họ được điều trị bằng cortisone rồi thuyên giảm. Chúng tôi sẽ thực hiện điều đó sau 5 ngày, rồi sau một tháng điều trị, GS Sindic đã giải thích như vậy. Sự hiểu biết chính xác về sự điều hòa của tác nhân này lên tính miễn dịch, quá bị kích hoạt và tấn công hệ thần kinh của bệnh nhân, sẽ cho phép xác định vai trò chính xác của nó.”
Vào lúc thực hiện những công trình nghiên cứu trước đây, các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng những IL-1 tăng sinh khi các T-Reg, những tế bào lympho điều hòa, giảm mạnh. Những ” tour de contrôle ” này (những T-Reg), có khả năng ức chế sự tăng sinh của Il-17, do đó dường như không hoạt động khi xảy ra một cơn “bộc phát” của bệnh xơ cứng rải rác.
” Lợi ích của giả thuyết này, đó là đã có những loại thuốc, như vài interféron, có khả năng chống lại IL-17. Phải chăng ta có thể sử dụng chúng để vô hiệu hóa sự thặng dư của chất IL-17 này và như thế ngăn cản cơn xơ cứng rải rác phát khởi ? Chính loại giải pháp này mà đồng nghiệp của chúng tôi của Viện bệnh lý tế bào, dưới sự lãnh đạo của GS Jacques Van Snick, sẽ nghiên cứu song hành, nhưng trên chuột. Dự án nghiên cứu có tính chất kết hợp. Điều mà chúng ta học được ở giường bệnh sẽ được sử dụng trực tiếp trong phòng thí nghiệm. Nơi này ta sẽ có thể trắc nghiệm những giải pháp, đôi khi triệt để, trên những con chuột, mà ta đã làm cho bị, một cách nhân tạo, bệnh xơ cứng rải rác người để, nhiên hậu, có thể đề nghị những giải pháp cho bệnh nhân một khi chúng được hợp thức về tính hiệu quả và mức độ an toàn của chúng.”
Ngoài việc phát hiện vai trò chính xác của IL-17, các nhà nghiên cứu dự định phát triển một chất chỉ dấu sinh học khả năng xác định hoạt tính của IL-17.
Trong trường hợp thành công, nhiên hậu, những bệnh nhân đã bị căn bệnh này có thể biết là họ có sản xuất một nồng độ “có nguy cơ” chất này dựa trên một giọt máu. Cũng y hệt như, ngày nay, những người bị bệnh đái đường được báo động về tiến triển của căn bệnh của họ bằng cách sử dụng một máy mà cách dùng thật đơn giản.
” Hôm nay, ta không thể chữa lành bệnh xơ cứng rải rác. Ta chỉ có thể có được những đợt thuyên giảm kéo dài và cải thiện chất lượng sống của những bệnh nhân trong 4 đến 5 năm đầu. Nhưng ta không thể điều trị bệnh khi nó trở nên tiến triển. Nếu ta ngừng thuốc, kể cả những thuốc mới đây nhất, căn bệnh sẽ trở lại. Nếu chúng ta thành công hiểu được một cách chính xác tại sao và như thế nào hệ miễn dịch trở nên bị rối loạn, chúng ta sẽ có thể trên đường dẫn đến một sự chữa lành căn bệnh này.”
(LE SOIR 27/1/2012)

6/ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC : VAI TRÒ CỦA Y KHOA VẬT LÝ VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ?

Professeur Philippe Marque
Membre de la Société française de
médecine physique et de réadapttaion à Toulouse.

Bệnh xơ cứng rải rác là một bệnh lý viêm của hệ thần kinh trung ương. Đó là một căn bệnh mà chẩn đoán thường nhất được thực hiện ở người trưởng thành trẻ tuổi và sự điều trị được theo đuổi suốt cả cuộc đời của bệnh nhân. Suốt trong thời kỳ này bệnh xơ cứng rải rác có thể gây thương tổn tất cả các vùng của hệ thần kinh trung ương. Những hậu quả của những thương tổn này có nhiều, vượt hẳn khung của triệu chứng bại liệt. Sự tiến triển của bệnh thường được đánh dấu bởi sự mất khả năng độc lập (autonomie) và sự xuất hiện dần dần một phế tật.
Thầy thuốc trong y khoa vật lý và phục hồi chức năng (médecine physique et de réadaptation : MPR) là một chuyên gia về chức năng, về autonomie và về sự bù của phế tật. Ông ta biết rõ những kỹ thuật phục hồi chức năng được sử dụng bởi những kinésithérapeute, những orthophoniste, những ergothérapeutes. Vậy ông ta có thể hướng dẫn và cá thể hóa chương trình phục hồi chức năng của bệnh nhân nhằm tối ưu hóa sự phục hồi vận động, cải thiện những rối loạn cân bằng và những cơn chóng mặt, bảo tồn khả năng bước, chống lại những đau đớn. Ông ta có thể khuyên bệnh nhân trong thực hành một hoạt động vật lý hay thể thao.
PHÂN TÍCH CỬ ĐỘNG
Đó là một chuyên gia về những rối loạn của trương lực và những co cứng cơ, được tập hợp dưới thuật ngữ spasticité, và rất thường ảnh hưởng những bệnh nhân bị bệnh này. Những phương pháp điều trị trong lãnh vực này đã mở rộng nhiều trong hai thập niên qua và nhờ đến nhiều chuyên khoa. Bên cạnh những điều trị thuốc, những mũi tiêm toxine botulique, những pompe à baclofène, ngoại khoa cơ năng (chirurgie fonctionnelle) có một vai trò ngày càng gia tăng. Đối với thầy thuốc đa khoa hay thầy thuốc thần kinh, nhất là đối với bệnh nhân, thường khó hướng định trong sự đa dạng của những phương pháp điều trị này.
Thầy thuốc chuyên khoa y khoa vật lý và phục hồi chức năng (MPR : médecine physique et de réadaptation) biết rõ những chỉ định của tất cả những điều trị này. Chính ông thường thực hiện những mũi tiêm toxine botulique, những neurolyse chimique hay làm đầy pompe à baclofène. Đó là một chuyên gia phân tích cử động, vậy có khả năng đánh giá ảnh hưởng của những triệu chứng này lên dáng đi, sự cân bằng hay sự cầm nắm, rồi đề nghị một điều trị thích ứng nhất không những đối với những triệu chứng mà còn đáp ứng những nguyện vọng và nhu cầu của bệnh nhân.
Những hoạt động của ông vượt xa khung cảnh của thương tổn vận động hay cảm giác. Những dấu hiệu đường tiểu như són đái thường gặp trong bệnh xơ cứng rải rác. Nhà chuyên gia y khoa vật lý và phục hồi chức năng biết rõ những hậu quả của thương tổn hệ thần kinh trung ương lên bộ máy tiết niệu và những điều trị cho phép cải thiện những triệu chứng này. Vậy ông ta có khả năng thực hiện chẩn đoán và đánh giá ảnh hưởng của những triệu chứng này lên chức năng thận và chất lượng sống ; đề nghị điều trị thích đáng, nghĩa là xét đến những khả năng của bệnh nhân, dầu điều trị này là dùng thuốc, phục hồi chức năng, bằng tự thông tiểu hay cần hướng về một thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu.
INTERLOCUTEUR REFERENT
Cùng cách như vậy, Y khoa vật lý và phục hồi chức năng có thể là một hỗ trợ hay là một lời khuyên trong điều trị những rối loạn nuốt, bón, những rối loạn tình dục và những rối loạn về khả năng sinh sản rất thường xảy ra ở những bệnh nhân bị bệnh xơ cứng rải rác.
Sau cùng, khi sự mất khả năng độc lập xuất hiện, thầy thuốc y khoa vật lý và phục hồi chức năng có thể hướng định và khuyên bệnh nhân và những người thân trong việc lựa chọn những hỗ trợ kỹ thuật hay những bố trí ở nhà nhằm cho phép bệnh nhân bù phế tật của mình và giữ gìn càng lâu càng tốt khả năng độc lập và chất lượng sống của mình. Với tư cách này, thầy thuốc MPR được giới hữu trách y tế công nhận như là interlocuteur référent trong sự lựa chọn và kê toa những xe lăn điện (fauteuil roulant électrique).
Y khoa vật lý và phục hồi chức năng không phải là một chuyên khoa về cơ quan (une spécialité d’organe) mà là một chuyên khoa ngang (spécialité transversale) quan tâm đến toàn bộ những hậu quả của một bại liệt. Tính đặc thù này rất hữu ích trong việc theo dõi những bệnh lý nhiều triệu chừng như bệnh xơ cứng rải rác. Bên cạnh thầy thuốc thần kinh, thầy thuốc y khoa vật lý và phục hồi chức năng đã trở thành một chuyên gia không thay thế được trong điều trị nhiều chuyên khoa có chất lượng bệnh nhân, nạn nhân của bệnh xơ cứng rải rác.
(LE FIGARO 19/11/2012)

7/ VITAMINE D TRONG THAI NGHÉN CHỐNG BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC
Ồ Bắc Âu, những trẻ mà mẹ có thai trong những tháng có nhiều ánh nắng mặt trời có ít nguy cơ bị bệnh xơ cứng rải rác hơn.
PREVENTION. Bệnh xơ cứng rải rác vẫn là một bệnh có nguồn gốc bí ẩn mặc dầu ta biết rằng những yếu tố di truyền cũng như môi trường góp phần vào căn bệnh này. Phải chăng ta có thể giảm nguy cơ bị mắc phải căn bệnh thần kinh này, có tiến triển không thể tiên đoán được, nhưng dẫn đến, đối với một nửa các bệnh nhân, một phế tật quan trọng về lâu về dài ?
Nhiều công trình nghiên cứu đã gợi ý vai trò bảo vệ của ánh nắng mặt trời, trong số những yếu tố môi trường liên hệ. Sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời góp phần chế tạo vitamine D qua da. Thế mà, ta biết rằng nguy cơ bị bệnh xơ cứng rải rác ở châu Âu gia tăng theo một gradient địa lý đi từ Nam lên Bắc. Vai trò của vitamine trong căn bệnh này không rõ ràng, mặc dầu những bằng cớ về sự liên hệ của nó được tích luỹ.
Cách nay vài năm, những nhà nghiên cứu đã gợi ý rằng những người được sinh ra vào mùa thu và mùa đông và có mẹ đã trải qua một phần lớn của thời kỳ thai nghén vào mùa hè, có một nguy cơ giảm bớt bị bệnh lý thần kinh này so với những người sinh ra vào mùa xuân, với một tam ca nguyệt thai nghén thứ hai hay thứ ba vào mùa đông.
EXPOSITION IN UTERO.
Các nhà nghiên cứu Anh vừa sưu tập tất cả những công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới dành cho vấn đề này từ năm 2000. Những kết quả được công bố trong tạp chí Journal of Neurology, Neurosurgery and Psychiatry, xác nhận ảnh hưởng thời gian mà bà mẹ hưởng ánh nắng mặt trời trong thời kỳ thai nghén lên nguy cơ về sau của đứa trẻ trong suốt cuộc đời của nó.
Họ đã xem xét đối với các nước Bắc Âu và Bắc Mỹ (ở đây thời gian có ánh nắng mặt trời rất thấp giữa tháng mười và tháng ba) những ngày sinh tháng đẻ của 152.000 người bị bệnh xơ xứng rải rác. Trong những vùng miền nam này, nồng độ những tia tử ngoại đến da không đủ giữa tháng 10 và tháng 3 để cho phép cơ thể sản xuất khá vitamine D.
Các nhà nghiên cứu người Anh đã có thể phát hiện một nguy cơ gia tăng bị bệnh xơ xứng rải rác khoảng 5% đối với những người sinh vào tháng tư so với điều mà ta có thể dự kiến nếu sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời không có một vai trò nào. Ngoài ra, nguy cơ từ 5-7% thấp hơn, đối với những người sinh vào tháng 11 và 12, trong những nước Bắc Âu và Bắc Mỹ. Sự tiếp xúc trong tử cung với vitamine D trong những tháng hè làm giảm nguy cơ đối với những trường hợp sinh vào mùa đông.
” Bằng cách phối hợp những dữ kiện hiện có, công trình này mang lại bằng cớ cho phép xác nhận rằng tháng sinh đóng một vai trò trong nguy cơ, các tác giả đã kết luận như vậy. Và điều đó hỗ trợ giả thuyết về một can thiệp sớm, trong thời kỳ thai nghén, bởi một cung cấp bổ sung vitamine D để phòng ngừa bệnh xơ cứng rải rác “.
(LE FIGARO 3/12/2012)

8/ THAI NGHÉN CÓ NGUY CƠ : 20% PHỤ NỮ BỊ LIÊN HỆ
Các thầy thuốc chủ trương tăng cường biện pháp phòng ngừa.
SANTE. Đối với khoảng 830.000 phụ nữ có thai ở Pháp mỗi năm, 160.000 sẽ có một thai nghén bệnh lý. Một thai nghén ” trong đó xảy ra một biển cố nguy cơ cho mẹ và em bé “. Một nguy cơ không phải nhỏ mà các phụ nữ có thai, mặc dầu được theo dõi rất kỹ, lại đánh giá thấp rất nhiều.
Đó là điều chứng thực chính của một điều tra, được thực hiện ở 1000 phụ nữ theo yêu cầu của Premup (cơ quan hợp tác khoa học về thai nghén và sinh non). Theo điều tra này, cứ ba phụ nữ thì một không cho thai nghén là một thời kỳ có nguy cơ. ” Một điều chứng thực rất gây ngạc nhiên và bổ ích “, BS Danièle Evain Brion, giám đốc cơ quan PremUp đã nhấn mạnh như vậy.
Vẫn theo cong trinh nghien cuu, hon 50% cac phu nu tuyen bo da khong làm gi het de chuan bi về mặt y khoa cho tháai nghén của họ. Cũng có nhiều phụ nữ cho rằng một sự theo dõi một phụ nữ có thai không đầy đủ chỉ có một hậu quả rất thấp trên những thai nghén bệnh lý.
” Có hai thông điệp ưu tiên”, Danièle Evain Brion đã đảm bảo như vậy. Vì lẽ phần lớn (75%) các thai nghén được chương trình hóa, ” nên điều quan trọng là các phụ nữ phải đi khám bác sĩ, điều này sẽ cho phép nhận diện một cách nhanh chóng những vấn đề có thể xảy ra (cao huyết áp, tăng thể trọng…) “, BS Danièle Brion đã nhấn mạnh như vậy.
NHỮNG BỆNH LÝ KHÔNG ĐƯỢC BIẾT RÕ
” Thông điệp thứ hai nhằm vào các phụ nữ trong tình huống précarité để nói với họ rằng có một réseau để tiếp nhận họ : centres PMI (protection maternelle infantile), các nữ hộ sinh…ta càng khai báo nhanh thai nghén, ta càng bước nhanh vào một parcours de soins.” Điều quan trọng là phải biết rằng một trắc nghiệm thai nghén được kê đơn bởi một thất thuốc sẽ được bồi hoàn phí tổn.
Tuy nhiên, điều đáng lo ngại cần phải ghi nhận là, luôn luôn theo điều tra, ” gần 2/3 các phụ nữ tuyên bố đã không nhận được những lời khuyên từ những người hành nghề y tế trong khi họ mang thai “.
” Điều tra này cho chúng ta thấy rằng còn có nhiều bệnh lý hoàn toàn không được hay biết trong xã hội “, người phụ trách cơ quan PremUp nói tiếp. Các phụ nữ biết tình trạng sinh non (prématurité), nhưng một nửa trong số họ đã không bao giờ nghe nói đến sự chậm tăng trưởng trong tử cung (retard de croissance intra-utérin. Thế mà ” đó là nguyên nhân đầu tiên của tử vong trẻ sơ sinh (mortalité néonatale) và đó là nguồn gốc của tình trạng sinh rất non tháng (grande prématurité), với những nguy cơ phế tật đối với đứa bé, thậm chí những vấn đề sức khó có thể được phát triển vào lúc tuổi trưởng thành.
” Điều rất quan trọng là phát triển nghiên cứu chung quanh chủ đề này”, những người phụ trách của cơ quan PremUp lại còn nhấn mạnh như vậy. Đây là jnam thứ ba họ tổ chức ” La marche des bébés ” vào ngày 13/10 ở Paris. Cuộc biểu dương này có nhiệm vụ thu quỹ cho công trình nghiên cứu về sự chậm tăng trưởng trong tử cung.”
Điều đó sẽ đánh dấu khởi đầu của Tuần lễ quốc gia huy động cho sức khỏe của những phụ nữ có thai và của trẻ sơ sinh, với những hành động được dự kiến trong 5 thành phố lớn của Pháp.
(LE FIGARO 26/9/2013)

9/ CHO BÚ SỮA MẸ CÓ LỢI CHO BÀ MẸ VÀ TRẺ EM
Tuy nhiên các phụ nữ phải được tự do cho bú hay không.
PEDIATRIE. Để thúc đẫy việc cho bú sữa mẹ, thị trưởng thành phố Nữu Ước, Michael Bloomberg đã quyết định đánh mạnh. Trong các nhà hộ sinh liên kết với dự án của ông, các bình sữa mẹ (lait maternisé) từ nay sẽ được cung cấp có bà mẹ, chỉ cần đơn thuốc. Và những mẫu sữa bột sẽ bị khóa lại mise như các thuốc độc…Có cần phải có những quyết định cực đoan như thế để khiến nhiều phụ nữ hơn cho con bú ? Dĩ nhiên là không. Những chính sách musclé này cũng nhắc lại một thực tế : sự cho bú sữa mẹ có lợi cho sức khỏe của đứa bé và người me.
Ở Pháp, khoảng 65% phụ nữ cho bú khi ra khỏi nhà hộ sinh. Nhưng cứ mười phụ nữ thì bảy ngừng cho bú ngay khi đi làm việc trở lại. Hoặc hai tháng rưỡi sau khi sinh. Trước sáu tháng được khuyến nghị bởi Tổ chức y tế thế giới. Như tên chỉ rõ, ” OMS là một cơ quan chăm lo sức khỏe thế giới. Những khuyến nghị của nó dành ưu tiên cho các nước ít phát triển hơn “, GS Jean Pierre Chouraqui, thầy thuốc nhi khoa ở CHU de Grenoble, đã phát biểu như vậy.
LỢI ÍCH CHO EM BÉ…VÀ BÀ MẸ..
Thật vậy, trong các nước nghèo nhất, sự cho bú sữa mẹ cho phép làm giảm một cách đáng kể tỷ lệ tử vong nhi đồng. Ở Pháp, tình trạng sức khỏe của các trẻ sơ sinh không cần cùng những điều thận trọng nhưng những lợi ích được công nhận của sữa mẹ đối với sức khỏe tương lai của nhũ nhi ” tuỳ thuộc liều lượng “. Chính vì vậy các thầy thuốc nhi khoa nhấn mạnh vào sự cần thiết tiếp tục cho bú sữa mẹ cho đến ít nhất 3 tháng.
Trong một báo cáo được công bố năm 2009, Viện hàn lâm y khoa nhắc lại rằng cho bú sữa mẹ phòng ngừa, trước mắt và lâu dài, ỉa chảy, viêm tai cấp tính hay cả những nhiễm trùng hô hấp nghiêm trọng. Viện hàn lâm cũng nhấn mạnh rằng cho bú sửa mẹ có lợi cho sự phát triển giác quan và trí tuệ của các nhũ nhi, làm giảm nguy cơ chàm (eczéma) trước mắt và lâu dài. Ngoài ra nó ngăn ngừa những nguy cơ về sau bị béo phì, vài bệnh đái đường và những bệnh tim mạch ở người lớn, mặc dầu ảnh hưởng của các cách dinh dưỡng của các nhũ nhi lên tình trạng sức khỏe tương lai khó được chứng minh. ” Thật vậy, vì những lý do đạo đức, không thể thực hiện những công trình nghiên cứu nhằm so sánh sự cho bú sữa mẹ với sự dinh dưỡng bằng một loại sữa nhân tạo “, GS Dominique Turcq, thầy thuốc nhi khoa thuộc CHU de Lille đã xác nhận như vậy.
Cho bú sửa mẹ cũng có những ảnh hưởng dương tính đối với người mẹ, Viện hàn làm y khoa đã nhấn mạnh như vậy : sự mất cân và sự giảm khối lượng mỡ nhanh hơn trong sáu tháng đầu sau khi sinh. Về lâu về dài, sự cho bú sửa mẹ sẽ làm giảm nguy cơ ung thư vú và của buồng trứng. Lợi điểm khác : cho bú sữa mẹ không tổn phí gì hết. ” Trong thời buổi khủng hoảng kinh tế, điều này không phải là không đáng kể “, Jean Pierre Chouraqui đã nói thêm như vậy. Thật vậy phí tổn thêm do nuôi bằng sữa nhân tạo được ước tính 500 euro mỗi ngày đối với một nhũ nhi trong 6 tháng đầu.
Đối với những người hành nghề y tế, những lợi ích của sữa mẹ không phải tranh cãi này. Nhưng không có vấn đề lên án những phụ nữ thực hiện một lựa chọn khác hay dừng cho bú một cách nhanh chóng. ” Chính các phụ nữ quyết định là họ có cho bú hay không. Chúng ta phải tôn trọng sự lựa chọn của họ “, Dominique Turck đã nhấn mạnh như vậy. Nhất là nếu việc cho bú không thật sự được bà mẹ mong muốn, điều đó sẽ diễn ra không tốt.
Đối với Jean Pierre Chouraqui, đó là một lựa chọn cá nhân được soi sáng “sau khi đã được những người hành nghề y tế đã thông về những lợi ích của việc cho bú “. Đề cập vấn đề lựa chọn ngay những tháng đầu tiên của thai nghén đó là điều quan trọng “, Marianne Truong, phó chủ tịch của nữ hộ sinh đoàn đã bổ sung như vậy. Các bố mẹ phải có thời gian đặt những câu hỏi làm họ ray rức, thảo luận về điều đó để quyết định với ý thức đầy đủ về sự việc.
KÉO DÀI THỜI KỲ NGHỈ ĐẺ ?
Sau đó, cần theo kèm người mẹ, nhất là nếu đó là một em bé đầu tiên. ” Các phụ nữ cho bú cần sự giúp đỡ bởi vì điều đó không phải là đơn giản,Marianne Trương nói tiếp. Thời kỳ quan trọng nhất là thời kỳ lên sửa vào ngày thứ ba, một lúc mà người mẹ cảm thấy mệt sau khi sinh.” Nếu không ai giúp đỡ bà mẹ vào lúc quan trọng này, bà mẹ có thể bỏ cho bú.
Rồi đến lúc đi làm việc lại, rất thường khiến ngừng cho bú. Tuy vậy, theo một điều tra được thực hiện năm 2009, 58% các phụ nữ cho con bú cho rằng họ sẽ cho bú lâu hơn ney thời gian nghỉ đẻ dài hơn. Để khuyến khích sự cho bú, Viện hàn lâm y khoa vào năm 2009 đề nghị kéo dài thời gian nghỉ đẻ. Đề nghị này đã được Dominique Turck ghi lại trong một báo cáo trao cho Roselyne Bachelot, khi đó là Bộ trưởng y tế. Những đề nghị này vẫn không được thực hiện.
(LE FIGARO 10/9/2012)

10/ SAU MỘT UNG THU VÚ : MỘT ĐỢT CHỮA PHỤC HỒI
GS Yves-Jean Bignon, thầy thuốc chuyên về ung thư thuộc Trung tâm chống ung thư Jean-Perrin (Clermont-Ferrand), trình bày những kết quả dương tính của những phương pháp điều trị mới bằng nước khoáng nóng.
Hỏi : Ông hay nhắc lại cho chúng tôi có bao nhiêu phụ nữ ở Pháp bị một ung thư vú mỗi năm.
GS Yves-Jean Bignon. Ta thống kê trung bình 48.800 trường hợp mỗi năm, trong đó 75% trường hợp chữa lành hay thuyên giảm lâu dài. Tỷ lệ này được cải thiện nhờ những tiến bộ về phát hiện và điều trị.
Hỏi : Để giúp các phụ nữ lấy lại sức sau một điều trị nặng nề, ông đã thiết lập những chương trình săn sóc đặc biệt. Tại sao những stations thermales ?
GS Yves-Jean Bignon. Bởi vì, trong những cơ sở này, các bệnh nhân có thể nhận được không những những điều trị bằng nước khoáng nóng (soins thermaux), mà còn những hỗ trợ được cung cấp bởi một kíp nhiều chuyên khoa (kinésithérapeute, éducateur sportif, thầy thuốc chuyên về dinh dưỡng, nhà tâm lý học, esthéticienne….). Đó là một săn sóc toàn diện, tương ứng với những nhu cầu của một sự thích nghi trở lại một vệ sinh đời sống tốt. Những kíp này một phần đã được thiết lập trong vài cơ sở điều trị nước khoáng nóng (établissement de cure thermale), điều này giải thích lựa chọn của chúng tôi.
Hỏi : Trong cure de réadaptation này, những lợi ích thật sự của nước khoáng nóng (eau thermale) là gì ?
GS Yves-Jean Bignon. Sau phẫu thuật và liệu pháp tia X, vú được mổ và vùng nách trở thành những vùng xơ hóa và sẹo gây đau làm hạn chế những cử động của vai : nước khoáng nóng (eau thermale) làm giảm đau và cho phép làm mềm các mô này. Những công trình nghiên cứu mới đây, một mặt, đã xác nhận tác dụng thuận lợi của những điều trị bằng nước khoáng nóng (soins thermaux) lên hệ miễn dịch và, mặt khác, đã xác nhận rằng chúng cho phép một sự thích ứng tốt hơn đối với stress tâm lý.
Hỏi : Những nỗi đau khổ nào ở những bệnh nhân của ông đã khiến ông tạo nên những đợt điều trị này ?
GS Yves-Jean Bignon. Điều đã làm tôi xúc động nhất trong suốt nghề nghiệp của tôi, đó là cảm giác bị bỏ rơi bởi y sĩ đoàn mà các phụ nữ cảm thấy sau khi điều trị. Tôi cũng xúc động trước sự âu lo của những bệnh nhân này khi nghĩ đến sự tái phát của căn bệnh. Rất thường, các bệnh nhân mong muốn những lời khuyên để có một vệ sinh đời sống tốt hơn. Quả đúng là một đời sống lành mạnh hơn làm giảm những nguy cơ tái phát. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh điều này.
Hỏi : Đợt điều trị này được đặc biệt dành cho những phụ nữ nào ?
GS Yves-Jean Bignon. Đợt chữa nước khoáng (cure thermale) này chỉ được chỉ định ở những bệnh nhân đã ngừng hóa học liệu pháp từ dưới 6 tháng và được cho là thuyên giảm hoàn toàn ung thư. Điều trị này bị chống chỉ định trong trường hợp giai đoạn tiến triển và ở những bệnh nhân không thể thực hiện một hoạt động vật lý.
Hỏi : Protocole của đợt điều trị 13 ngày này ?
GS Yves-Jean Bignon : Protocole gồm nhiều loại điều trị nước khoáng nóng, với nhịp độ 4 buổi mỗi ngày, trong đó có douche locale để làm mềm vùng bị mổ, những xoa bóp giãn cơ (massage relaxant) trong nước khoáng nóng, được thực hiện bởi một kinésithérapeute, những bài tập trong piscine có nước khoáng đun nóng…Những điều trị này được kèm theo bởi những hoạt động vật lý thích ứng theo từng cá thể (hai lần mỗi ngày), lớp dạy về dinh dưỡng với những lời khuyên theo từng đối tượng, và những buổi khám bệnh với một thầy thuốc tâm lý học (thí dụ đối với những phụ nữ cần tìm lại niềm tin sau một thử thách làm thương tổn nữ tính của mình). Những chuyên gia về mỹ học (esthéticienne) cũng sẵn sàng cho những bệnh nhân hồi phục mong muốn hài hòa với hình ảnh của họ.
Hỏi : Loại công trình nghiên cứu nào đã chứng minh những lợi ích thật sự của đợt chữa này ?
GS Yves-Jean Bignon : Với kíp của tôi thuộc Centre Jean-Perrin, chúng tôi đã tiến hành một công trình nghiên cứu so sánh (étude PACThe), được thực hiện ở 251 phụ nữ trong 3 station : Vichy, Chatel-Guyon và Mont-Dore. Những người tham gia vào công trình nghiên cứu được chia thành hai nhóm : những bệnh nhân được lưu lại trong cơ sở điều trị nước khoáng nóng và theo chương trình của đợt chữa ; và những bệnh nhân khác sống gần cơ sở điều trị và chỉ theo những khuyến nghị của thầy thuốc thành phố của họ. Một khi đợt chữa chấm dứt, chúng tôi đã kiểm soát mỗi 6 tháng, nhờ những bảng câu hỏi và những khám bệnh y khoa, tiến triển của chất lượng sống của những bệnh nhân này. Ta đã có thể chứng thực ở những bệnh nhân đã lưu lại ở cơ sở điều trị rằng tiến triển được cải thiện một cách đáng kể ! Một số lớn trong số những bệnh nhân này đã tìm lại một giấc ngủ ngon, tinh thần lạc quan và ít bị trầm cảm hơn nhiều. Hơn một nửa đã tái tục một hoạt động vật lý đều đặn. Với một thời gian nhìn lại 2 năm, ngày nay ta có thể nói rằng những lợi ích này là lâu dài. Nhưng sự theo dõi những bệnh nhân này cần phải tiếp tục : sẽ còn kéo dài 3 năm.
(PARIS MATCH 3/10 – 9/10/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(11/10/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thời sự y học số 322 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 417 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 440 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s