Thời sự y học số 320 – BS Nguyễn Văn Thịnh

bipolaire1/ RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC : CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CẦN ĐƯỢC CẢI THIỆN

1 đến 2%   dân chúng bị những rối loạn lưỡng cực
10 lần nguy   cơ phát triển những rối loạn này nếu một người bà còn bị bệnh
70% các bệnh nhân đáp ứng với điều trị bằng   lithium
Ta cũng thường tìm thấy những chấn thương tâm lý-tình cảm trong thời thơ ấu,   và tầm quan trọng của những yếu tố stress trong sự xuất hiện hay những cơn   tái phát của bệnh.
Pr CHANTAL HENRI
CHU   HENRI-MONDOR-ALBERT
CHENEVIER   (CRETEIL)

PSYCHIATRIE. Trong một công trình nghiên cứu mới đây tên 500 bệnh nhân bị những rối loạn lưỡng cực (trouble bipolaire), các thầy thuốc tâm thần của CHU Henri-Mondor-Albert Chenevier (Créteil) cho thấy rằng thời hạn trung bình giữa đợt quan trọng đầu tiên của bệnh và sự thực hiện một điều trị thích ứng khoảng 10 năm. ” Chẩn đoán đúng đắn, nhất là đối với những rối loạn lưỡng cực loại 2, và sự thực hiện điều trị được khuyến nghị bị chậm trễ do sự chú ý không đủ những triệu chứng đa dạng đầu tiên, do thiếu sự đánh giá thích đáng và do một sự tuân theo không đủ những khuyến nghị điều trị “, các tác giả đã đánh giá như vậy.
Vẫn còn không được chẩn đoán nhiều, những rối loạn lưỡng cực, ngày xưa được gọi là loạn tâm thần hưng trầm cảm (psychose maniaco-dépressive), tuy vậy gây bệnh cho 1 đến 2% dân số. Với sự kế tiếp nhau của những đợt trầm cảm và kích động, xen kẽ những thời kỳ yên tĩnh, rối loạn này có dạng vẻ của montagnes russes psychiques, đôi khi khó xác định. Thành phần trầm cảm (dépressive) nổi bật ở 2/3 các bệnh nhân, nhưng thành phân hưng phấn (maniaque) của nó, cần thiết để chẩn đoán, rõ rệt ít hay nhiều tùy theo những bệnh nhân. “Trạng thái hưng cảm (état maniaque), sự đảo ngược của trầm cảm, được đặc trưng bởi một trạng thái khoái cảm (euphorie), một tình trạng tăng hoạt động không cần ngủ (hyperactivité sans besoin de sommeil), một sự gia tốc của tư duy, một cảm giác toàn năng (toute-puissance), expansion de soi, có thể đi đến chỗ mất tiếp xúc với thực tế “, GS Pierre-Michel Llorca (CHU Clermont-Ferrand) đã giải thích như vậy. Rối loạn lưỡng cực loại1 này là dạng cổ điển, nghiêm trọng nhất của bệnh.
Những thành phần hưng phấn này cũng có thể giảm bớt, chỉ được thể hiện bởi một thời kỳ kích động tâm thần quá mức (surexcitation psychique) và hoạt động quá mức (suractivité), có thể không được nhận biết, nhưng chứng tỏ tình trạng bất ổn định của tính khí. Đợt hưng cảm có tầm quan trọng ít hơn này là đặc điểm của rối loạn lưỡng cực loại 2. ” Khi không có có hưng phấn rõ rệt, thầy thuốc có thể kết luận rằng đó là một chuỗi các đợt trầm cảm, đưa đến một chẩn đoán lầm trầm cầm tái phát (dépression récurrente) và một điều trị không thích đáng “, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần đã đánh giá như vậy. Đối với GS Philippe Courtet, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần (CHU Montpellier), ” gần một nửa những bệnh nhân bị trầm cảm được thấy bởi các thầy thuốc tâm thần trên thực tế có những rối loạn lưỡng cực “. Chẩn đoán, chi rõ ràng khi lên cơn hưng phấn, nếu không phải dựa trên một vấn chẩn chính xác người bệnh và những người thân. Trong trường hợp không chắc chắn chẩn đoán có thể nhờ đến mạng những trung tâm chuyên gia (réseau de centres experts).
Bệnh là do sự tương tác của nhiều yếu tố nhạy cảm di truyền và môi trường (facteurs de susceptibilité génétique et environnementaux), theo những cơ chế vẫn còn chưa được biết rõ. ” Có một người bà con gần bị bệnh lưỡng cực nhân nguy cơ len 10 lần và thường gặp những trường hợp xảy ra gia đình. Thường hơn ta cũng tìm thấy những chấn thương tâm lý-tình cảm (traumatisme psycho-affectif) trong thời thơ ấu, và tầm quan trọng của những yếu tố stress trong sự xuất hiện hay những tái diễn của bệnh “, GS Chantal Henry (CHU Henri-Mondor-Albert Chenevier, Créteil) đã xác nhận như vậy. ” Một tình trạng viêm mãn tính, thường gặp hơn trong dân chúng, có thể liên quan với những quá trình nhiễm trùng. Ngoài ra chụp hình ảnh não chức năng (imagerie cérébrale fonctionnelle) cho thấy những tính đặc thù trong các vòng não (circuits cérébraux) phát sinh và kiểm soát những cảm xúc “, thầy thuốc tâm thần đã nói như thế. Và có thể giải thích một sự nhạy cảm gia tăng đối với các cảm xúc.
Những rối loạn lưỡng cực thường được liên kết với những rối loạn tâm thần khác, nhất là những rối loạn lo âu kịch phát (trouble anxieux paraxystique), những cơn hoảng sợ (attaque de panique). Một nửa những bệnh nhân lưỡng cực có trong cuộc đời mình một sự nghiện ngập, rượu hay nhất là cannabis, làm trầm trọng tình trạng của họ. Họ cũng bị những bệnh tim mạch hai đến ba lần nhiều hơn. Chẩn đoán và điều trị càng bị trì hoãn, rối loạn lưỡng cực càng trầm trọng và có nhiều bệnh lý liên kết.
Tiến triển khác nhau đối với mỗi cá thể và tùy theo tuổi xuất hiện, thường nhất vào khoảng 30 tuổi, đôi khi sớm hơn. ” Những thể bắt đầu trong thời thiếu niên thường trầm trọng hơn, hoặc do các cơn, hoặc do tần số của chúng, làm giảm những khoảng thời gian tương đối yên tĩnh giữa các cơn “, GS Llorca đã xác nhận như vậy. Vài bệnh nhân lưỡng cục có 2 hoặc 3 đợt trong suốt cuộc đời, những bệnh nhân khác có nhiều cơn mỗi năm.Những cơn này càng thường xảy ra, càng gia tăng nguy cơ bị những rối loạn nhận thức thứ phát (trouble cognitif secondaire), tình trạng khó tập trung chú ý, những rối loạn trí nhớ, giảm động cơ…Giữa những đợt này, bệnh nhân có một thái độ hoàn toàn bình thường.
Sự tái diễn của các đợt trầm cảm, sự đau khổ tâm thần (souffrance psychique), những bệnh lý liên kết…” Nhìn toàn bộ, hy vọng sống của những bệnh nhân lưỡng cực bị giảm 10 năm, một phần do nguy cơ tự tử : 15 đến 20% những bệnh nhân lưỡng cực không được điều trị tự tử “, GS Henry đã nhấn mạnh như vậy.” Theo một công trình nghiên cứu scandinave, tỷ lệ tự tử toàn bộ ở những bệnh nhân lưỡng cực đạt 7% “, GS Courtet đã nói như vậy. Ngược lại, một rối loạn lưỡng cực được chẩn đoán và điều trị đúng đắn cho phép một đời sống nghề nghiệp và gia đình bình thường, mặc dầu bệnh nhân vẫn dễ bị thương tổn (vulnérable).
(LE FIGARO 8/7/2013)

2/ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC : THUỐC ĐIỀU HÒA KHÍ CHẤT VÀ GIÁO DỤC TÂM LÝ.
Mỗi bệnh nhân lưỡng cực là một trường hợp đặc biệt. Vài bệnh nhân sẽ có nhiều đợt trầm cảm nhưng chỉ có một đợt hưng phấn duy nhất, những bệnh nhân khác sẽ xen kẽ những giai đoạn trầm cảm hay hưng phấn, vài bệnh nhân chỉ có ba hoặc bốn đợt trong suốt cuộc đời, những bệnh nhân khác có nhiều đợt mỗi năm. Khi điều trị, phải xét đến những đặc điểm này và tính chất định kỳ của những chu kỳ bệnh đặc thù cho mỗi bệnh nhân. Nhưng để được hiệu quả và đảm bảo một chất lượng sống tốt hơn không bị tái phát, điều trị này phải bao gồm một điều trị thuốc thích ứng, lâu dài hay suốt đời, và một tâm lý trị liệu (psychothérapeutique) trong đó giáo dục tâm lý (psychoéducation) bệnh nhân giữ một vị trí quan trọng.
Những thuốc điều hòa tính khí (régulateur de l’humeur) là cơ sở của điều trị thuốc. Chúng gồm có lithium, những thuốc chống co giật và những thuốc chống loạn thần thế hệ thứ hai. ” Nhưng chỉ một nửa những bệnh nhân lưỡng cực được điều trị điều hòa khí chất (traitement thymorégulateur), GS Courtet (CHU Montpellier) đã chỉ rõ như vậy. Những thuốc điều hòa tính khí này có tác dụng điều chỉnh những giai đoạn cao và thấp của căn bệnh. Những khuyến nghị của các chuyên viên đã xác nhận những tiêu chuẩn sử dụng của những điều trị này.” Nhưng chúng tôi muốn, lúc nghiên cứu những nhóm lớn các bệnh nhân, xác định được những yếu tố tiên đoán về sự đáp ứng tốt đối với loại thuốc này hay loại thuốc kia, để làm phong phú thêm những quyết định mà chúng tôi có “, GS Henry (CHU Créteil) đã giải thích như vậy.
Lithium thường vẫn là điều trị chuẩn. ” Nhưng dưới 70% những bệnh nhân đáp ứng với lithium, và phải cần khoảng 2 năm để đảm bảo sự đáp ứng dương tính này, dường như một phần được xác định bởi di truyền và có thể tương ứng với một nhóm phụ những bệnh nhân “, GS Marie-Odile Krebs (CH Sainte-Anne, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Lớp các thuốc chống loạn thần được phong phú thêm bởi những thuốc mới có những profil dung nạp khác nhau và cho phép thích ứng hơn với các bệnh nhân.
NHỮNG SỐC ĐIỆN
Một enjeu khác là kê đơn tốt hơn những loại thuốc khác nhau này dùng phối hợp. ” Tuy nhiên gần 30% những bệnh nhân đề kháng với thuốc. Một điều trị bằng sốc điện có thể hiệu quả trong vài trong số những trường hợp này “, thầy thuốc tâm thần đã xác nhận như vậy.
Những thuốc chống trầm cảm dùng dài lâu không được chỉ định ở những bệnh nhân lưỡng cực. ” Chúng có thể được sử dụng khi cần, trong vài trường hợp trầm cảm, nhưng không luôn luôn liên kết với một thuốc điều hòa khí chất. Việc kê đơn lâu dài những thuốc chống trầm cảm ở một bệnh nhân lưỡng cực không được chẩn đoán có khuynh hướng làm trầm trọng tiến triển của rối loạn”.
Những bệnh nhân lưỡng cực loại 2 bị chẩn đoán nhầm có những cơn trầm cảm tái diễn chịu nguy cơ này.
Sự giáo dục tâm lý (psychoéducation) mà mỗi bệnh nhân lưỡng cực phải nhận được, và nếu có thể gia đình của bệnh nhân, cho phép họ biết rõ hơn và chấp nhận rối loạn này và quản lý nó tốt hơn. Đối với GS Courtet, ” tâm lý giáo dục dạy cho mỗi người nhận diện những dấu hiệu riêng báo hiệu một đợt lưỡng cực, biết được và tránh những yếu tố stress làm dễ những dấu hiệu này. Như thế nó phòng ngừa nhưng tái phát và cải thiện sự tuân thủ điều trị “.
(LE FIGARO 8/7/2013)

3/ CÀ PHÊ VÀ THAI NGHÉN : NHỮNG YẾU TỐ MỚI NÀO ?

Christophe Bernard
Directeur de Recherche
Unité Inserm 1106
Institut des neurosciences des systèmes. Marseille

Nhiều chất, như rượu, nicotine hay cannabis, khi chúng được tiêu thụ quá nhiều trong thời kỳ mang thai, có một tác dụng âm tính lên sự cấu tạo của não bộ của em bé. Chúng có thể dẫn đến một sự chậm phát triển trí tuệ ở đứa bé, những rối loạn tâm thần, v…v. Còn caféine, hiện diện trong cà phê, trà, chocolat, cola và những boisson énergétique thì sao ? Đó là chất psychoactive (tác động lên não bộ) được tiêu thụ nhất trên thế giới, kể cả trong khi thai nghén.
Cho đến nay, những công trình nghiên cứu ở người và động vật đã không cho những kết quả xác chứng, ngoại trừ một công trình nghiên cứu mới đây trên 50.000 phụ nữ người Na Uy, đã cho thấy một tương quan giữa sự tiêu thụ caféine và sự giảm trọng lượng khi sinh. OMS và những cơ quan y tế quốc gia hiện nay khuyến nghị không tiêu thụ hơn 2 hoặc 3 tách cà phê mỗi ngày, mặc dầu đó là một sự tiêu thụ được xem như vừa phải.
Công trình của chúng tôi, dẫn đến sự nghiên cứu về caféine, đã bắt đầu cách nay 3 năm, khi Carla Silvan, sinh viên của đại học Coimbra (Portugal), trong lúc làm luận án, đã tiếp xúc với phòng thí nghiệm Inserm của chúng tôi để đến khảo sát vai trò của một phân tử đặc biệt (được gọi là thụ thể adénosine A2A) trong quá trình phát triển của não bộ. Sau nhiều thí nghiệm, chúng tôi đã ngạc nhiên khám phá rằng phân tử này đóng một vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng não bộ.
Cũng như trong mọi cơ quan, sự xây dựng não bộ theo những quy tắc và một nhịp độ rất chính xác, những tế bào tăng sinh và tập hợp một cách phức tạp để sinh ra những vùng khác nhau của não bộ. Vài neurone (những tế bào thần kinh của não đóng một vai trò chủ yếu đối với sự vận hành của não) sinh ra trong những vùng rất đặc biệt. Sau đó những neurone này di tản, thường trên những khoảng cách lớn, về phía những vùng trong đó chúng được chỉ định hoạt động. Chúng ta khám phá rằng khi ta ngăn cản thụ thể A2A hoạt động ở chuột, tốc độ di tản của vài neurone bị giảm một nửa.
Chúng ta biết từ lâu rằng caféine là một chất có trong thiên nhiên, ngăn cản thụ thể A2A hoạt động. Bởi vì caféine đi qua hàng rào nhau không có vấn đề, nên dự án nghiên cứu khi đó trở nên rõ ràng. Chúng tôi đã thể hiện lại ở những chuột cái, một sự tiêu thụ cà phê đều đặn (tương đương với 2 hay 3 cà phê mỗi ngày ở người), suốt trong quá trình thai nghén cho đến khi đứa con ra đời. Chúng tôi đã cho thấy rằng sự di tản của vài neurone bị chậm lại, những tế bào đến trong những vùng đích (région cible) của chúng với 3 ngày chậm trễ. Sự khác nhau này tạo nên một bất quân bình, được thể hiện bởi một tình trạng tăng kích động (hyperexcitabilité) của não và một tính nhạy cảm lớn hơn của các chuột con đối với những cơn động kinh. Một khi đạt đến tuổi trưởng thành chúng bị những thiếu sót về trí nhớ.
Những kết quả này đã tạo nên một biến cố khoa học thật sự, đã huy động nhân viên và quỹ riêng của nhiều phòng thí nghiệm : M.Esclapez ở INS (Marseille), C.Métin Inserm Fer ở Moulin (Paris), R.Cunha (Coimbra, Portugal), D. Isbrandt (Hambourg, Đức) và C.Muller (Bonn, Đức).
Công trình nghiên cứu của chúng tôi là chứng minh đầu tiên về những tác dụng có hại ngắn và dài hạn của sự tiếp xúc với caféine lên não bộ đang phát triển. Mặc dầu công trình nghiên cứu nêu vấn đề tiêu thụ cà phê ở phụ nữ có thai, nhưng cần nhắc lại rằng, do sự sử dụng những mô hình động vật, nên việc suy diễn những kết quả cho người nhưng không xét đến những khác nhau trong sự phát triển và thuần thục giữa các loài là điều khó.
Giai đoạn kế tiếp ở người nhằm tiến hành những nghiên cứu thăm dò để theo dõi những đứa bé đã tiếp xúc hay không với caféine trong thời kỳ thai nghén cũng như những nghiên cứu rétrospective cho phép xác định xem có những tương quan giữa sự tiếp xúc tiền sinh với caféine và vài vấn đề như động kinh và những thiếu sót trí nhớ. Phòng thí nghiệm của chúng tôi từ nảy ra sức trả lời những câu hỏi phát xuất từ những kết quả đầu tiên này : làm sao sửa chữa những circuit sau một tiếp xúc với caféine ? Phải chăng sự tiếp xúc với caféine trong thời kỳ cho bú cũng có những tác dụng âm tính ? Những mục tiêu khác của caféine trong sự phát triển của não bộ là gì ?
(LE FIGARO 16/9/2013)

4/ NHỮNG HÔN NHÂN CÙNG DÒNG MÁU CÓ NGUY CƠ ĐỐI VỚI CON CHÁU SAU NÀY.
Công trình nghiên cứu đầu tiên, được tiến hành về vấn đề này, xác nhận rằng hôn nhân giữa các anh em chú bác nhân gấp đôi nguy cơ dị dạng (malformation) của các trẻ em.
GENETIQUE. Trước khi cưới nhau giữa các anh em chú bác, có nên thăm khám một chuyên gia về di truyền (généticien) ? Ở Pháp, số những trường hợp hôn nhân cùng dòng máu (mariage consanguin) còn thấp (dưới 5% những cuộc hôn nhân, nhưng việc làm này phát triển trong vài cộng đồng.
Một công trình nghiên cứu, được công bố cách nay vài tuần trong tạp chí Anh The Lancet, mang lại những thông tin về nguy cơ do những cuộc hôn nhân giữa các anh em chú bác. Mặc dầu, những hậu quả của những cuộc hôn nhân này được biết từ lâu, nhưng đây là lần đầu tiên một đánh giá nghiêm túc như vậy được thực hiện.
Cuộc điều tra này được thực hiện giữa năm 2007 và 2010 trên 11.300 trẻ sơ sinh, trong một thành phố đa chủng tộc, Bradford, nằm ở phía tây của Anh và đặc biệt gồm có một cộng đồng đông đảo người Pakistan. Trong cộng đồng này, tỷ lệ những hôn nhân cùng dòng máu rất là quan trọng. Trong số 11.300 em bé, 386 có những bất thường bẩm sinh. Phân tích đã cho phép quan sát rằng nguy cơ bị các dị dạng là quan trọng hơn đối với những em bé mà mẹ là người Pakistan so với những người khác. Nhưng chủ yếu, công trình này đã tình toán rằng những đứa bé người Pakistan, mà bố mẹ là anh em chú bác, có hai lần nhiều nguy cơ bị những bất thường như vậy, hơn những người Pakisatn khác. Những trẻ sơ sinh có bố mẹ người Pakistan không họ hàng với nhau có cùng nguy cơ như những đứa bé người Anh.
Trên 13.000 trẻ em của công trình nghiên cứu, 5100 có nguồn gốc Pakistan và đối với 30% trong số những trẻ này có cha mẹ là anh em chú bác. ” Nguy cơ tuyệt đối bị những bất thường bẩm sinh là thấp : nguy cơ này chuyển từ 3% khi những người sinh thành không có họ hàng với nhau, lên 6% khi bố mẹ là anh em chú bác, các tác giả của công trình nghiên cứu đã nói như vậy. Điều đó có nghĩa rằng chỉ một thiểu số những em bé sinh từ các bố mẹ cùng giòng máu sẽ bị một bất thường bẩm sinh.”
” Công trình nghiên cứu này là vững chắc và mang lại những dữ kiện chính xác, mặc dầu mọi người biết rằng quan hệ dòng máu (consanguinité) làm gia tăng nguy cơ bị những dị dạng, GS Stanislas Lyonnet (bệnh viện Necker, Paris) đã xác nhận như vậy. Công trình nghiên cứu này cũng cho thấy rằng yếu tố nguy cơ chính, đó chính là quan hệ dòng máu, và không phải, như ta hằng tưởng, sự kiện bị mất gốc hay những yếu tố xã hội. Bởi vì trong điều tra này, những điều kiện xã hội-kinh tế không phải là những yếu tố nguy cơ của các dị dạng.
Quan hệ dòng máu làm gia tăng nguy cơ bị những dị dạng tim, não và những bệnh di truyền khác. Tại sao sự kiện là anh em chú bác làm gia tăng nguy cơ này ? Cần vài giải thích để hiểu điều đó. Mỗi trong những tế bào của chúng ta chứa 46 nhiễm sắc thể được phân ra 23 cặp. Trong mỗi cặp, một nhiễm sắc thể đến từ cha và nhiễm sắc thể kia đến từ mẹ. Vậy mỗi cặp nhiễm sắc thể có tất cả các gène gồm hai bản (exemplaire), những mẫu nguồn gốc từ cha, những mẫu kia nguồn gốc từ mẹ. Thế mà nhiều bệnh di truyền (thí dụ mucoviscidose), liên kết với một gène thiếu sót, chỉ xuất hiện nếu gène hỏng hiện diện trong bản kép, trong copie đến từ cha và trong copie đến từ mẹ. Như thế, mặc dầu gène thiếu sót của bệnh mucoviscidose ít phổ biến trong toàn dân, nhưng trong một gia đình bị liên hệ, có lẽ gène này hiện diện ở nhiều trong số những thành viên của nó. Nhưng nó sẽ không biểu hiện chừng nào một cá thể không có hai copie của gène. Trong khung cảnh một hôn nhân giữa anh em chú bác trong một gia đình bị liên hệ bởi gène thiếu sót này, những đứa con của họ có một nguy cơ cao nhận gène biến dị này trong hai copie và do đó mắc phải căn bệnh này. Rõ ràng, khi một gène chịu trách nhiệm một căn bệnh di truyền hiện diện trong một gia đình, hôn nhân giữa anh em chú bác làm phát triển căn bệnh.
Vậy có cần phải có một ý kiến của một chuyên gia khi ta quyết định kết hôn với một người anh em chú bác hay không ? ” Tốt hơn là như vậy, GS Arnold Munnich (bệnh viện Necker, Paris) đã xác nhận như thế. Trong trường hợp này, chỉ cần hỏi một trong người trong cặp vợ chồng để tìm kiếm một bệnh di truyền gia đình và thực hiện một trắc nghiệm máu, để kiểm tra sự vắng mặt của gène chịu trách nhiệm bệnh mucoviscidose, bệnh amyotrophie spinale hay ataxie de Friedreich, ba căn bệnh di truyền thường gặp nhất.”
Tuy nhiên biện pháp này không phổ biến. Những cô dâu chú rể trẻ, xuất phát từ quan hệ anh em chú bác, hiếm khi đi khám các chuyên gia di truyền trước khi có con, trong đất nước chúng ta (Pháp). ” Chẳng bao lâu nữa, những trắc nghiệm di truyền, có khả năng nhận diện cùng lúc các gène của 500 bệnh, sẽ có trên thị trường và sẽ đơn giản hóa loại điều tra phát hiện này “, GS Lyonnet đã đánh giá như vậy.
Lịch sử của châu Âu nói chung và của nước Pháp nói riêng cho một minh họa về nguy cơ của những hôn nhân cùng giòng máu (mariage consanguin). Thí dụ vua Louis XIV, từng là ông Vua Mặt Trời (Roi-Soleil), đã không có may mắn trong hôn nhân với người em chú bác, công chú Tay Ban Nha, Marie-Thérèse d’Autriche. Trong số 6 đứa con mà cặp vợ chồng đã có chỉ có một sống sót mà thôi. Những cô dâu chú rễ trẻ đều là những anh em chú bác : cha của Louis từng là anh của mẹ của Marie-Thérèse và mẹ của ông là chị của cha vợ của ông. Ngược lại, 11 đứa con mà nhà vua đã có với các nhân tình của mình, la duchesse de La Vallière và marquise de Montespan, có một số phận ít bi thảm hơn. Mặc dầu không ai biết được những nguyên nhân của cái chết của các con vua. Nhưng giả thuyết về nguy cơ di truyền liên kết với sự quan hệ giòng máu không được loại trừ.
(LE FIGARO 2/9/2013)

5/ PARKINSON : NHỮNG HY VỌNG ĐỂ NGĂN CẢN BỆNH TIẾN TRIỂN
GS YVES AGID, thành viên sáng lập Viện não và tủy sống (ICM : Institut du cerveau et de la moelle épinière) mô tả những nghiên cứu đang được tiến hành nhắm cho phép làm ngừng quá trình bệnh.
Hỏi : Tần số của căn bệnh thoái hóa do thiếu hụt một chất dẫn truyền thần kinh, dopamine, là gì ?
GS Yves Agid. Ta ước tính rằng cứ 100 người có một bị chứng bệnh này sau 65 tuổi. Số lượng gia tăng với sự kéo dài của tuổi thọ.
Hỏi : Ngày nay, dựa trên những tiêu chuẩn nào ta xác lập chẩn đoán ?
GS Yves Agid. Trước hết là lâm sàng. Triệu chứng đầu tiên là sự chậm chạp của các cử động, nhất là khi bước. Người bị bệnh Parkinson khó tìm kiếm một đồ vật trong túi quần, khó viết…Những triệu chứng khác : run khi nghỉ ngơi, giảm đi khi hoạt động và raideur.Trong vài dạng không điển hình, ta bổ sung thăm khám lâm sàng bằng những trắc nghiệm sinh lý, một chụp cộng hưởng tu não (IRM cérébrale) và một chụp cắt lớp vi tính đặc hiệu, DatScan, cho phép xác nhận một sự thiếu hụt dopamine, đặc trưng của tất cả những dạng bệnh Parkinson. Do đó khi ta tiêm cho bệnh nhân L-Dopa, nếu bệnh nhân đáp ứng, ta chắc chắn chẩn đoán.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu cho phép một chẩn đoán sớm hơn đã đến đâu rồi ?
GS Yves Agid. Để có thể có một chẩn đoán sớm, phải có một chùm những lý lẽ, những dấu hiệu báo trước, khi được liên kết, cho phép đoán trước sự xuất hiện của các triệu chứng đặc trưng của bệnh Parkinson. Trong số những dấu hiệu này : 1. Một trạng thái trầm cảm không lý do. 2. Một thiếu sót khứu giác. 3. Những kích động trong giấc ngủ, đặc biệt, những cử động của các cẳng chân. 4. Một sự biến đổi chữ viết. 5. Một sự chậm lại của giọng nói, yếu đi (hypophonie). Trong khi những công trình hiện nay của chúng tôi dẫn đến sự hiệu chính những điều trị phòng ngừa hiệu quả, sự việc có một chẩn đoán sớm hơn hẳn cho phép làm chậm lại quá trình bệnh lý, thậm chí ngăn cản sự xuất hiện bệnh.
Hỏi : Ở ICM, những tiến bộ về điều tra phát hiện những người nguy cơ là gì ?
GS Yves Agid. Chúng tôi thực hiện những nghiên cứu để phát hiện những chỉ dấu sinh học như vài yếu tố trong máu , hiện diện ở những người khả dĩ phát triển một ngày nào đó căn bệnh. Những nghiên cứu đang được tiến hành ở những người có một người bà con gần bị bệnh Parkinson, một dạng bệnh hiếm được gọi là “gia đình”. những kết quả đầu tiên của chúng tôi đáng phấn khởi.
Hỏi : Những người bị bệnh Parkinson đã có thể nhận được những tiến bộ nào về thuốc điều trị ?
GS Yves Agid. Trong 85% các trường hợp, các bệnh nhân đáp ứng với điều trị bởi L-Dopa. Như thế ta cải thiện những triệu chứng nhưng không chữa lành. Căn bệnh tiến triển, nhanh ít hay nhiều tùy theo các thể. Một tiến bộ đã được thực hiện (nhưng đối với 3 đến 5% các bệnh nhân), được công bố cách nay hai tháng trong ” New England Journal of Medicine “, bởi kíp nghiên cứu của chúng tôi ở ICM (Institut du cerveau et de la moelle épinière) : điều trị nhằm đưa vào trong não một điện cực. Từ một pile được cắm dưới xương đòn, điện cực phát ra một dòng điện nhằm tái lập sự hoạt động bình thường của các neurone bị yếu. Điều bất tiện duy nhất : đó là một can thiệp ngoại thần kinh nặng nề không phải là không có nguy cơ, điều này buộc phải có một kíp nội-ngoại có kinh nghiệm. Sự khảo sát 251 bệnh nhân đã cho phép chứng tỏ ta có thể thực hiện can thiệp này sau chỉ 7 năm tiến triển của bệnh thay vì 13, điều này sẽ cho phép điều trị nhiều bệnh nhân ! Trong những điều kiện này, phẫu thuật cho những kết quả tốt hơn điều trị thuốc, điều này chứng tỏ lợi ích can thiệp sớm hơn.
Hỏi : Ở Viện não và tủy sống (ICM), những đường hướng nghiên cứu hứa hẹn nhất để làm ngừng tiến triển của bệnh ?
GS Yves Agid. Ngày nay ta hiểu tốt hơn cơ chế dẫn đến sự chết của những tế bào thần kinh. Mục đích của những công trình của chúng tôi là hiệu chính được một điều trị phòng ngừa hay chữa lành bệnh. Để được như thế, các nhà khoa học tìm cách làm đứt đoạn những cơ chế góp vào sự tiêu hủy những tế bào thần kinh và tăng cường chức năng của những tế bào vẫn lành mạnh còn lại hay những tế bào bị thương tổn một phần. Dĩ nhiên sẽ phải cần sự phối hợp của nhiều loại thuốc để làm ngừng tiến triển của bệnh.
(PARIS MATCH 30/5- 5/6/2013)

6/ MIGRAINE GÂY BỆNH CHO GẦN 10% NHỮNG TRẺ TỪ 5 ĐẾN 15 TUỔI.
” Bệnh Migraine rất thường gặp ở trẻ em, ngay cả đó là nguyên nhân đầu tiên của những trường hợp đau đầu nguyên phát của trẻ em “, BS Daniel Annequin, người phụ trách của Centre de la migraine de l’enfant và của unité douleur của bệnh viện Armand-Trousseau (Paris) đã nhắc lại như vậy. Tuy nhiên migraine chỉ được chẩn đoán trong 20% các trường hợp, và những triệu chứng của nó thường được quy cho những rối loạn khác. Mặc dầu stress là một yếu tố quan trọng làm phát khởi các cơn ở lứa tuổi này, nhưng các cơn ngay cả đôi khi được xem như một ” bệnh tâm lý ” với những triệu chứng giả vờ để tránh đi học.
ĐÔI KHI MỬA.
Được tìm thấy ở 10% các trẻ em giữa 5 và 15 tuổi, tỷ lệ như nhau đối với con trai và con gái, migraine phải được chẩn đoán tốt hơn để đề nghị cho chúng những điều trị thích ứng và hiệu quả.
Ở trẻ em, migraine được biểu hiện bởi đau đầu ở vùng trán, thường hai bên hơn so với người lớn, dẫn đến một chẩn đoán sai lầm viêm xoang. Cơn migraine làm mất năng lực : đứa trẻ không thể tiếp tục hoạt động, trở nên xanh xao, đôi khi bị khó chịu bởi ánh sáng và tiếng ồn. Trong 30 đến 40% các trường hợp, đau đầu kèm theo mửa, đôi khi dữ dội, hướng chẩn đoán về một rối loạn tiêu hóa.
Đối với 48% các trẻ em migraine, cơn đau đầu được đi trước bởi một aura với những biểu hiện mắt, khiến chúng thường đến khám một thầy thuốc chuyên khoa mắt. Các cơn trung bình kéo dài một giờ.
Những đứa trẻ bị migraine thường là những học sinh giỏi và rất lo lắng về những kết quả ở trường học. Những cơn migraine thường giảm trong kỳ nghỉ hè. ” Những cơn migraine là một phong vũ biểu xúc cảm rất tốt đối với cha mẹ, khi đó có thể nhận diện và giảm bớt những nguồn stress, GS Annequin đã nhấn mạnh như vậy. Khi khám bệnh, chúng tôi dùng nhiều thời gian để xác định những yếu tố phát khởi là những yếu tố nào và điều trị đứa bé trong môi trường của nó.”
Chính chẩn đoán là một sự giảm bệnh đối với nhiều đứa trẻ và, rất thường, khám bệnh đầu tiên cho phép làm giảm số các cơn nhờ nhận diện những nguồn gây lo âu chủ yếu. Thăm khám này đôi khi cho phép bố mẹ nhớ lại rằng chính họ đã từng chịu những cơn migraine. Các migraine của trẻ em giảm bớt khi chúng lớn lên và biến mất trong 2/3 các trường hợp trước lứa tuổi 20.
Những điều trị cũng giống như ở người lớn : ibuprofène, paracétamol và triptans, những morphinique cần tránh tuyệt đối. Những triptans được dung nạp tốt hơn ở trẻ em và được cho bằng spray nasal ở những đứa trẻ nhỏ tuổi hay khi nôn mửa quá quan trọng.
Khi các cơn xảy ra thường xuyên và khi một điều trị nền (traitement de fond) phải được áp dụng để tránh sự lạm dụng các thuốc chống đau, các công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng những phương pháp không dược lý (thư giãn, thôi miên, thérapies comportementales et cognitives) cho ở trẻ em những kết quả tốt hơn là dùng thuốc.
(LE FIGARO 15/10/2012)

7/ PHẢI CHĂNG CÓ NHỮNG NGƯỜI MIGRAINE ” THẬT” HAY “GIẢ”

Professeur Marie-Germaine Bousser
Neurologue
Membre correspondant de l’Académie de médecine
Ancienne présidente de l’International Headache Society

Không có những người bị bệnh migraine “thật” và “giả”, mà chỉ có những người bị bệnh migraine và người người bị dạng này hay dạng kia của khoảng vài trăm loại đau đầu (céphalée) được liệt kê bởi International Headache Society trong ấn bản thứ hai của sự phân loại đau đầu được công bố năm 2004. Mặc dầu như vậy, sự lẫn lộn giữa đau đầu và migraine vẫn rất thường gặp và sự lẫn lộn này có thể mang lại nhiều hậu quả vì, thí dụ, lấy đi người bị bệnh “migraine giả” điều trị hiệu quả của một nguyên nhân khác của đau đầu hay thực hiện ở những bệnh nhân này những điều trị không thích hợp, thậm chí nguy hiểm.
Nhận biết một người bị bệnh migraine vừa đơn giản vừa khó khăn. Trong đại đa số các trường hợp, bệnh nhân migraine (12% dân chúng, 3 lần thường gặp ở phụ nữ hơn là đàn ông, 5% những trẻ em) không cần thầy thuốc mới biết đó là người bị bệnh migraine. Một trong những người trong gia đình bị bệnh migraine và đến lượt mình, người bệnh thỉnh thoảng có một cơn migraine với một tần số rất thay đổi đi từ một đến hai lần mỗi năm đến nhiều lần mỗi tuần. Người bệnh đôi khi cảm thấy cơn đến, rồi đau đầu xuất hiện, thường trước hết một phía, và gia trọng trong một hay hai giờ để trở thành rất nghiêm trọng, đập vào đầu theo nhịp của tim, cản trở những hoạt động hàng ngày, nặng thêm mỗi khi gắng sức đến độ đôi khi buộc phải nằm liệt giường.
TĂNG NHẠY CẢM ĐỐI VỚI TẤT CẢ
Trong cơn người bị migraine không còn chịu được gì hết, với ánh sáng, với tiếng ồn, với các mùi, với thức ăn : bệnh nhân nôn và đôi khi mửa. Người bệnh thường tự mô tả chính mình như là ” một mảnh giẻ thật sự “. Cơn kéo dài từ vài giờ đến 3 ngày, thường tận cùng bởi một giấc ngủ bồi sức. Giữa các cơn, người bệnh migraine không khổ nhưng ” tăng nhạy cảm đối với tất cả ” : những gì người bệnh ăn hay uống, thời tiết, những cảm xúc mà người bệnh cảm thấy, những thay đổi kích thích tố (ở phụ nữ), những thay đổi nhịp sống, grasse matinée, cao độ…Tình trạng tăng nhạy cảm (hypersensibilité) này là do một sự tăng kích thích (hyperexcitabilité) của những neurone của vỏ não mà người bệnh migraine giữ suốt đời, mặc dầu nó sẽ giảm khi về già, giải thích sự giảm tần số và mức độ nghiên trọng của các cơn với tuổi tác.
Đôi khi đau đầu được đi trước trong 20 đến 30 phút bởi những hiện tượng thị giác thuộc loại những hình dạng cơ bản sáng rực như zigzags, những tia chớp, những đường gãy, những ngôi sao, hoặc trạng thái lờ mờ trong một phần hay tất cả thị trường (champ visuel), thường với một vùng trung tâm gần như mù có viền quanh sáng rực, có khía, được gọi là scotome scintillant. Những hiện tượng này gia tăng cường độ và bề rộng trong nhiều phút thành một sự phát triển dần dần đặc trưng được gọi là “marche migraineuse “. Có thể được liên kết với những cảm giác kim châm hay kiến bò cũng tiến triển từ từ một phía của cơ thể và đôi khi những rối loạn ngôn ngữ (thất ngôn : aphasie). Những hiện tượng này được gọi là tiền triệu thần kinh (aura naurologique) : như thế có những cơn với hoặc không có “aura”. Một người bị migraine có thể chỉ có hoặc một loại cơn (thường nhất không có tiền triệu), hoặc cả hai.
Ở những người bị migraine ” thật ” này, những thăm dò bổ sung, gồm có chụp cộng hưởng từ não (IRM cérébrale) đều vô ích, vì lẽ không có một bất thường đặc hiệu nào cho migraine dầu loại thăm dò là gì. Khi đó điều trị có thể được thực hiện, thường bởi thầy thuốc đa khoa sau khi đã kiểm tra rằng thăm dò hoàn toàn bình thường. Trước hết ta điều trị chính các cơn bằng cách sử dụng những thuốc ngay khi cơn bắt đầu để rút ngắn thời gian hay ít nhất để làm giảm cường độ. Đôi khi, một điều trị nền (dùng thuốc hay không) cũng có thể giúp làm giảm tần số của các cơn, nhưng ta không thể chữa lành bệnh migraine vì lẽ bệnh này là một tính chất nội tại của não bộ của người bị migraine. Tuy nhiên, điều trị thích đáng các cơn và đôi khi sự nhờ đến điều trị nền cho phép cải thiện một cách đáng kể chất lượng sống của người bị bệnh migraine. Ngược lại, khi các cơn không điển hình, khi đau đầu dai dẳng giữa các cơn, khi có những triệu chứng thần kinh khác, khi các cơn không giống với những cơn lệ thường, chẳng ích lợi gì nói ” migraine giả “, một ý kiến chuyên gia và những thăm dò phụ là cần thiết để tìm kiếm một nguyên nhân khả dĩ khác của đau đầu.
Dầu bệnh migraine điển hình hay không điển hình, dầu đó là một đứa trẻ hay một người lớn, sự thăm khám đầu tiên một người bị bệnh migraine cần phải lâu vì lẽ sự mô tả chi tiết các cơn, thăm khám lâm sàng, sự thu thập những yếu tố khởi phát, những lời giải thích về bản chất của bệnh migraine và những phương thức điều trị khác nhau, sự tổ chức theo dõi đòi hỏi không phải từ 30 phút đến 1 giờ ! Sẽ phụ thuộc vào thăm khám đầu tiên này là chất lượng của sự hợp tác thường cần thiết và dài lâu sẽ được thiết lập giữa người bị bệnh migraine và thầy thuốc. Cái nghịch lý hiện nay là, vì thiếu thời gian, thăm khám đầu tiên này thường bị rút ngắn, thay vì thế nhưng thăm dò vô ích và tốn kém tước đi ở người bệnh những tiến bộ đáng kể đã được thực hiện trong điều trị chống migraine.
(FIGARO 8/10/2012)

8/ LO ÂU TOÀN THỂ (ANXIETE GENERALISÉ) : HƯỚNG CỦA THERMALISME PSYCHOSOMATIQUE
BS Olivier Dubois, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, Saujon, tổng thư ký của Société française de médecine thermale, giải thích trong những trường hợp nào những đợt điều trị nước khoáng (cures thermales) có thể tỏ ra lợi ích hơn các thuốc giải âu.
Hỏi : Ý niệm sử dụng nước khoáng để điều trị bệnh tâm thần thân thể (thermalisme à visée psychosomatique) đang phát triển, đặc biệt chống lại tình trạng lo âu (anxiété). Trong những trường hợp nào, rối loạn này trở nên bệnh lý ?
BS Olivier Dubois. Những bệnh nhân lo âu có một sự phối hợp của nhiều triệu chứng : một khuynh hướng tạo cho mình sự lo lắng quá mức, một cách gần như thường trực, một cảm giác mệt kéo dài suốt ngày, đau cơ, căng thẳng thần kinh và những rối loạn giấc ngủ. Trạng thái này trở nên bệnh lý khi kéo dài hơn 6 tháng và tạo một phế tật thật sự. 5 đến 6% những người Pháp bị chứng lo âu trong suốt cuộc đời của họ ! Khoảng 90% những bệnh nhân lo âu có một vấn đề tâm thần khác trong cuộc đời mình. Không được điều trị một tình trạng lo âu lan rộng (anxiété généralisée) thường biến chứng thành chứng trầm cảm (dépression).
Hỏi : Ta sử dụng những loại thuốc nào để điều trị những tình trạng rất gây phế tật này ?
BS Olivier Dubois. Các thuốc giải âu (anxiolytiques), đặc biệt những benzodiazépines và, từ khoảng 15 năm nay, vài thuốc chống trầm cảm. Nhưng những thuốc giải âu thường được sử dụng nhất. Ở châu Âu, Pháp đứng hàng thứ hai các nước tiêu thụ nhiều nhất những thuốc giải âu và những thuốc ngủ ! Những loại thuốc này không phải là không gây nguy cơ…Được sử dụng một cách đều đặn, chúng biến đổi vài chức năng nhận thức như trí nhớ. Những công trình nghiên cứu mới đây kết luận một mối liên hệ khả dĩ giữa sự sử dụng đều đặn này với một nguy cơ gia tăng bị sa sút trí tuệ. Sự giảm trạng thái chăm chú theo dõi mà thuốc gây nên có thể làm té ngã hoặc gây tai nạn… Cai thuốc là khó bởi vì sự ngừng thuốc có thể kèm theo sự xuất hiện trở lại các triệu chứng.
Hỏi : Trong những trường hợp nào khái niệm thermalisme có thể thay thế sử dụng thuốc.
BS Olivier Dubois. Trong rối loạn lo âu toàn thể (trouble anxieux généralisé), những đợt chữa thermalisme được chỉ định ưu tiên ở những người mà sự cho các thuốc giải âu đặt một vấn đề về những tác dụng phụ nặng, như một tương tác thuốc với một điều trị đang được sử dụng. Chúng cũng có vai trò sau khi thất bại mọi điều trị thông thường. Đợt chữa cũng có thể được thực hiện như là một giải pháp thay thế đối với một sự gia tăng các thuốc giải âu mà tính hiệu quả đôi khi giảm bớt do hiện tượng quen thuốc (accoutumance). Tất cả những người bị bệnh lo âu (anxiété-maladie) đều có một chỉ định đối với đợt chữa này.
Hỏi : Có những protocole cá thể hóa đặc biệt thích ứng đối với những bệnh nhân này ?
BS Olivier Dubois. Những người theo đợt chữa bệnh (curiste) được đảm nhận bởi một kíp y khoa gồm có một thầy thuốc tâm thần hay một thầy thuốc đa khoa, một thầy thuốc kinê, một y tá…Chương trình, được cá thể hóa, gồm những buổi khám bệnh diễn ra hàng tuần. Trong vài station (nơi nghỉ), những atelier psycho-éducatif được đề nghị để dạy quản lý tình trạng lo âu. Đợt chữa, kéo dài 3 tuần, liên kết 4 loại điều trị, được cho tùy theo những nhu cầu của bệnh nhân : bains bouillonnants, douches thermales (tắm nước khoáng nóng), xoa bóp an thần (massage sédatif), những bài tập trong piscine…
Hỏi : Những điều trị thermalisme psychosomatique này tác dụng như thế nào ?
BS Olivier Dubois. Vài công trình nghiên cứu đã phát hiện vài cơ chế tác dụng : một sự gia tăng nồng độ beta-endorphine trong máu, chứng tỏ một sự giảm tri giác đau đớn, một sự kích thích tiết cortisol, kích thích tố kiểm soát quá trình lo âu. Chúng tôi trắc nghiệm với một kíp Inserm của đại học Poitiers một giả thuyết mới đáng lưu ý : balnéothérapie (liệu pháp ngâm tắm) có thể có một tác dụng qua trung gian của một vùng của vỏ não được gọi là ” insula ” (có liên hệ trong quá trình lo âu). Sự kích hoạt được gây nên này sẽ dẫn đến một sự biến mất các tư duy lo âu (pensée anxieuse). Một công trình nghiên cứu sẽ bắt đầu ở thermes de Saujon.
Hỏi : Phải chăng tính hiệu quả của những đợt chữa này đã được chuẩn nhận ?
BS Olivier Dubois. Vâng, bởi nhiều công trình nghiên cứu, quan trọng nhất là Stop-Tag mà tôi đã điều hành cùng với 4 station thermale Pháp, được thực hiện trên 237 bệnh nhân. Mục đích của công trình nghiên cứu này là so sánh tính hiệu quả của đợt chữa so với tính hiệu quả của một thuốc chống trầm cảm quy chiếu. Những kết quả đã chứng minh rằng sau 2 tháng ta có được tính hiệu quả 44% cao hơn so với dùng thuốc và rằng lợi ích này gia tăng sau khi chấm dứt đợt chữa. Sự cải thiện của các triệu chứng được duy trì đến 6 tháng.
(PARIS MATCH 18/7 – 24/7/2013)
Thermalisme : sự sử dụng nước khoáng để điều trị
Balnéothérapie : điều trị bằng tắm toàn thân thể hay một trong những phần của thân thể.
Eaux thermales : nước khoáng nóng
Cure thermale : đợt chữa bệnh nước khoáng nóng
Thermes : nơi điều trị nước khoáng nóng
Station thermale :
Source thermale : suối nước khoáng nóng

9/ SÓN TIỂU NỮ GIỚI : SỰ ĐỔI MỚI VỚI TOXINE BOTULIQUE
Professeur François Haab, trưởng khoa tiết niệu bệnh viện Tenon (Paris) giải thích tác dụng của điều trị này được trình bày nhân hội nghị quốc tế vừa qua trong những trường hợp tăng tính phản ứng (hyperréactivité) của bàng quang ở phụ nữ.
Hỏi : Ông hay nhắc lại cho chúng tôi những loại són tiểu khác nhau ở phụ nữ ?
GS François Haab. 1. Són tiểu lúc gắng sức (incontinence à l’effort) do yếu cơ vòng đường tiểu và xuất hiện, thí dụ, lúc chơi thể thao. 2. Són tiểu do một sự tăng hoạt động của bàng quang, co bóp vào bất cứ lúc nào trong ngày và đêm.
Hỏi : Ta có biết những nguyên nhân của những loạn năng này ?
GS François Haab. Són tiểu lúc gắng sức thường là hậu quả của những đợt sinh đẻ và của sự lão hóa gây nên giãn cơ vòng. Về tình trạng tăng hoạt động của bàng quang, sự rối loạn có thể là do sự vận hành chức năng thần kinh xấu hay do một sự tăng kích thích của thành bàng quang mà nguồn gốc vẫn không được biết rõ (đôi khi liên kết với một polype hay một nhiễm trùng nhỏ. Trong toàn dân, từ 10 đến 12% các phụ nữ bị són tiểu, trong đó 70% trên 70 tuổi.
Hỏi : Những phế tật nào thường khiến đi khám bệnh ?
GS François Haab : Những són tiểu do một sự tăng hoạt động của bàng quang biến đổi một cách đáng kể chất lượng sống ! Những phụ nữ này vì hoàn toàn không thể kiểm soát sự són tiểu nên có một cuộc sống xã hội bị thu giảm. Ban đêm, những cơn buồn tiểu không cưỡng được khiến họ bị một nguy cơ té ngã. Và giấc ngủ bị phân đoạn của họ gây nên một sự mệt mỏi trong ngày.
Hỏi : Tại phòng mạch thầy thuốc, đó có phải là một chủ đề tế nhị mà các phụ nữ thấy khó đề cập đến ?
GS François Haab : Ngày nay, điều đó ít hơn, nhưng các bệnh nhân của chúng tôi không bao giờ phát biểu chữ són tiểu (incontinence) mà họ nói : ” Tôi có một vấn đề bàng quang.”
Hỏi : Những điều trị quy ước đối với thể són tiểu do tăng hoạt động bàng quan là gì ?
GS François Haab : Thường thường, ta cho ưu tiên những thuốc làm giãn bàng quang, giảm tình trạng tăng kích động của nó. Những thuốc này được cho đơn độc hay phối hợp với một phục hồi chức năng của cơ vòng (những bài tập hay kích thích điện). Điều trị nội khoa này cho phép một sự cải thiện rõ rệt trong 2/3 các trường hợp, nhưng không phải là không có những tác dụng phụ : khô miệng, bón và, đôi khi, vài rối loạn trí nhớ. Ở 30% những bệnh nhân đề kháng với điều trị, ta đề nghị thiết đặt một pacemaker của bàng quang (một neuro-modulateur nham làm giảm cường độ của tỉnh trạng tăng hoạt động), cần một can thiệp ngoại khoa. Pile được tái tích điện mỗi 7 năm và có thể được lấy đi vào bất cứ lúc nào mà không có nguy cơ đặc biệt nào.
Hỏi : Phương pháp mới nhất bằng toxine botulique là gì ?
GS François Haab : Độc tố này, một chất được tổng hợp bởi một vi khuẩn, có tính chất làm giảm kích thích cơ, điều này giải thích nhiều chỉ định. Mới đây, ta đã khám phá rằng ta cũng có thể sử dụng nó để điều trị tình trạng tăng hoạt động của bàng quang bằng cách đưa trực tiếp độc tố vào bàng quang (thầy thuốc thực hiện một gây tê tại chỗ trước khi cho những mũi tiêm độc tố). Tình trạng tăng kích thích bàng quang giảm 4-6 ngày sau buổi điều trị. Bệnh nhân vẫn được thuyên giảm 6 – 9 tháng và trong thời gian này bệnh nhân tiếp tục trở lại một cuộc sống bình thường. Điều trị có thể được lập lại lúc tái xuất hiện các triệu chứng.
Hỏi : Những nguy cơ của những mũi tiêm này là gì ?
GS François Haab : Sau buổi tiêm bệnh nhân không đau đớn. Nguy cơ duy nhất, nhưng hoàn toàn có thể đảo ngược, là một bại liệt tạm thời của bàng quang trong vài tuần (trong 5% các trường hợp), điều này cần giảm liều lượng vào một buổi tiêm kế tiếp. Trong thời kỳ này, ta giáo dục bệnh nhân tháo bàng quang nhờ một ống sonde mà bệnh nhân tự đưa vào và rút ra nhiều lần mỗi ngày. Thật là tẻ nhạt, nhưng dễ thực hiện.
Hỏi: Những công trình nghiên cứu nào đã chứng tỏ tính hiệu quả của phương pháp mới này ?
GS François Haab : Nhiều công trình nghiên cứu đã được tiến hành đồng thời ở châu Âu và Hoa Kỳ cách nay hai năm trên hơn 500 bệnh nhân. Hơn 80% các bệnh nhân được điều trị đã được thuyên giảm một cách đáng kể trong 69 đến 9 tháng mà không chịu những tác dụng phụ. Tất cả những công trình nghiên này đã cho thấy cùng những kết quả. Điều trị này thường được sử dụng ở Hoa Kỳ, ở Đức, ở Tây ban Nha hay ở Thụy Điển.
(PARIS MATCH 12/9-18/9/2013)

10/ TẦN SỐ TIM Ở NGƯỜI : CHỈ DẤU NGUY CƠ TỬ VONG
Một công trình nghiên cứu Đan Mạch, đã theo dõi trong 16 năm hơn 3000 người, tuổi trung bình 63 tuổi lúc khởi đầu công trình, xác nhận rằng một nhịp tim tăng cao lúc nghỉ ngơi là một chỉ dấu tiên đoán tỷ lệ tử vong ở người. Nhóm tham gia đầu tiên bao gồm 6.125 viên chức có thể lực được đánh giá một cách đều đặn bằng một trắc nghiệm gắng sức (test d’effort). Sau thử nghiệm, 1082 người chết và 3387 trong số những người sống sót đã được theo dõi. Sau khi loại bỏ những người mang rối loạn nhịp tim, 2798 người đã được giữ lại để thực hiện một phân tích thống kê : nguy cơ tử vong chung (tất cả các nguyên nhân tính đổ đồng) gia tăng 45% khi tần số trung bình 81 đập mỗi phút (BPM : battements par minute) so với những người có tần số là 51. Nguy cơ tăng gấp ba khi nhịp trên 90 BPM. Nguy hiểm gia tăng 16% khi tần số gia tăng 10 BPM ở những người không hút thuốc và 20% ở những người hút thuốc.
(PARIS MATCH 30/5 – 5/6/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(24/9/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s