Thời sự y học số 318 – BS Nguyễn Văn Thịnh

IntelligenceCHUYÊN ĐỀ VỀ TRÍ THÔNG MINH

1/ TRÍ THÔNG MINH NẰM Ở ĐÂU ?
Mặc đầu ý tưởng này đả kích thích trí tưởng tượng từ lâu, nhưng buộc phải chứng thực rằng không có một vùng não bộ nào được dành một cách đặc biệt cho trí thông minh. Điều này suy cho cùng khá logic. Không những trí thông minh (từ chữ latin intellegere, có nghĩa là “hiểu”) huy động nhiều năng lực tinh thần (capacité mentale), như những năng lực lý luận (raisonner), kế hoạch hóa (planifier), giải quyết những vấn đề, chọn lựa, dự kiến, suy nghĩ một cách trừu tượng, nhưng mặt khác, trí thông mình còn hàm ý sự sử dụng ngôn ngữ, và do đó khu vực não (aire cérébrale) liên kết với nó, cũng như năng lực học một cách nhanh chóng từ những kinh nghiệm của mình, điều này, lần này, huy động những khu vực não liên kết với trí nhớ lâu dài (mémoire à long terme)

KHÔNG CÓ TRÍ THÔNG MINH NÀO MÀ KHÔNG CÓ TRÍ NHỚ.
Nhờ những máy đo lường khác nhau và nhờ phương pháp chụp hình ảnh như cộng hưởng từ (IRM), chụp cắt lớp vi tính (scanner), TEP, điện não đồ…, ngày nay các nhà thần kinh sinh học (neurobiologiste) liên kết những trí năng (aptitude intellectuelle) của chúng ta với những nơi chính xác của não bộ (encéphale), gồm có não (cerveau), với vỏ não (cortex) bọc nó như một lớp vỏ, tiểu não (cervelet) và thân não. Thí dụ, những khu vực (aire) có liên hệ trong tư duy và sự lĩnh hội (compréhension) (những khu vực được gọi là liên kết : aire d’association) nằm trong vỏ não. Đó là những khu vực phân tích những kinh nghiệm và giải thích chúng một cách logic. Như thế ta có thể kể : khu vực liên kết thị giác (aire d’association visuelle), nhận biết những tín hiệu thị giác và đánh giá ý nghĩa của chúng ; khu vực liên kết thính giác (aire d’association auditive), xử lý những thông tin thính giác và biến hóa chúng để cho chúng ý nghĩa ; khu vực Wernicke, xử lý các từ bằng cách biến đổi chúng thành những ý tưởng có ý nghĩa.
Cái điều trở nên phức tạp, đó là những chức năng cấu thành này của trí tuệ cũng phụ thuộc tính chất của mạng được hợp thành bởi những tế bào của não bộ, những neurone, hiện diện hàng trăm tỷ trong não bộ. Và mỗi neurone có từ 1000 đến 20.000 phân nhánh có thể nối kết với những phân nhánh của những neurone lân cận ! Thế mà, những công trình nghiên cứu đă cho thấy rằng vài trong những phân nhánh này dường như là những thành phần thiết yếu của trí tuệ. Được gọi là những sợi trục (dendrite), chúng lại được phân chia thành sáu, bảy, thậm chí đôi khi tám nhánh mới. Và chính số lượng những nhánh này đào luyện trí tuệ : khi số lượng càng cao, những năng lực trí tuệ của con người càng quan trọng. Sau cùng, những công trình nghiên cứu gợi ý sự hiện hữu của một mối liên hệ giữa lượng của các replis sinueux của vùng sau não, được gọi là những hồi não (gyrys : circonvolution) và năng lực trí tuệ.
Tuy vậy, chức năng sinh học quan trọng tạo nên trí thông minh đứng đầu là trí nhớ. Không có trí nhớ, mỗi kinh nghiệm mới, mỗi yếu tố thông tin mới sẽ được xử lý một cách độc lập. Trí nhớ là khả năng tích giữ, ghi nhớ và do đó tìm lại thông tin. Trí nhớ cho phép ta lập luận nội suy (raisonner par analogie), khi học giải quyết những vấn đề mà chúng ta đã gặp và chúng ta đã không nghĩ ra những giải pháp đối với chúng. Thế thì trí nhớ nếu không phải là trung khu (siège), thì ít nhất cũng là cái bệ (socle) của trí thông minh ?
KHÔNG BAO GIỜ Ở NƠI MÀ TA CHỜ ĐỢI…
Vấn đề : không ai biết xác định một cách chính xác trí nhớ nằm ở đâu trong não của chúng ta. Nhiều khu vực của não dường như có liên hệ với trí nhớ, nhất là hippocampe (hồi hải mã), corps amygdaloide và những corps mamillaires. Một vài trong những vùng này ngay cả đặc hiệu với một loại trí nhớ. Thí dụ, khu vực liên kết giác quan (aire d’ association sensorielle), nằm ở vỏ não, lý giải những cảm giác được cảm thấy bởi cơ thể, như xúc giác và cho phép hồi tưởng lại những kinh nghiệm trước. Hồi hải mã (hippocampe), cũng liên hệ trong những cảm xúc, có nhiệm vụ bảo tồn dài lâu những kinh nghiệm. Sau cùng, chính trong những corps mamillaire mà những mùi được nối với những cảm xúc. Đó là lý do tại sao vài mùi làm phát khởi những kỷ niệm và những cảm xúc mạnh. Sau cùng, chỉ do những tương tác thường trực giữa tất cả các vùng này mà trí nhớ lộ ra, cho phép trí thông minh hiện hữu. Rõ ràng là, trí thông minh dường như tìm cách không bao giờ ở nơi mà ta hy vọng tìm thấy. Một điều hay đối với vài người : sự việc không thể xác định vị trí một cách chính xác cái năng lực cao siêu nhất trong số các năng lực con người, là phương tiện tốt nhất để gìn giữ nó tránh khỏi mọi manipulation.
(SCIENCE &VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

2/ LÀM SAO TÍNH THƯƠNG SỐ THÔNG MINH ?
Đối với phần lớn các chuyên gia (các nhà tâm lý học, các nhà nghiên cứu neurosciences), trí thông minh được định nghĩa như là một năng lực suy luận (raisonner), kế hoạch hóa (planifier), giải quyết những vấn đề, tư duy một cách trừu tượng, hiểu những ý tưởng phức tạp và học hỏi kinh nghiệm. Một định nghĩa rất rộng… Nhưng không ngăn cản sự đo lường. Bởi vì, mặc dầu không đo được tất cả sự tinh tế của trí tuệ, các trắc nghiệm thương số thông minh (QI : quotient intellectuel) ít nhất cũng đánh giá những năng lực của trí não xử lý những vấn đề và nhất là, nó cho phép so sánh những hiệu năng của những người này so với những người khác.
Đi từ điều chúng thực rằng những người có khả năng giải quyết một bài toán có khuynh hướng có khả năng làm như vậy với những trắc nghiệm khác, nhà tâm lý học người Anh Charles Spearman, vào đầu thế kỷ XX, đã có ý nghĩ là có thể coi trí thông minh như một thừa số chung mà ông mệnh danh là “G” (nghĩa là général), được Spearman xem như tương đương với trí thông minh nói chung.
Đào sâu hướng này, trong những năm 1960, các nhà tâm lý học Hoa Kỳ Raymond Cattell, John Horn và John Carroll đã xây dựng một lý thuyết (được gọi là CHC) về trí thông minh, hiện nay vẫn còn hiệu lực. Lý thuyết quy tụ một tập hợp ” những năng lực chính yếu ” (aptitudes principales) (sự thể hiện thị giác không gian, trí nhớ, tốc độ xử lý, ngữ vựng, những năng lực suy diễn và quy nạp…) tất cả góp phần vào ” facteur G “.
ĐA SỐ NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM NẰM GIỮA 85 VÀ 115.
Phần lớn các trắc nghiệm thương số thông minh là sự thể hiện cụ thể của lý thuyết này. Chúng đo năng lực của những người trong khi xử lý một số những vấn đề nào đó cần đến một hay nhiều năng lực chính yếu của lý thuyết CHC. Những trắc nghiệm này có thể thích ứng với những ngôn ngữ và văn hóa khác nhau. Chúng được diễn ra trong hơn hai giờ với sự hiện diện của một nhà tâm thần học và nhiều bài thi vấn đáp. Trong thực hành, một trắc nghiệm thương số thông minh tập hợp những score có được trong khoảng 15 cuộc thi thể hiện những năng lực chính yếu của lý thuyết CHC và bao gồm một chục vấn đề, được tính thời gian hay không, bằng nhìn, bằng vấn đáp hay bằng nghe. Sự quan trọng của mỗi cuộc thi trong kết quả toàn bộ được cân đối tùy theo tầm quan trọng mà lý thuyết dành cho mỗi năng lực.
Đứng riêng rẻ, kết quả thu được như thế không kết luận gì hết về những trí năng (capacité intellectuelle) của người đã trải qua trắc nghiệm. Kết quả chỉ có ý nghĩa khi so sánh với những score của những người khác. Nó sẽ cho phép đặt mỗi cá thể trong mối tương quan với mức trung bình của những kết quả của những người đồng loại. Một cách cụ thể, khi những nhà tâm lý học kiểm định (étalonner) trắc nghiệm, họ thu thập những kết quả của một quần thể và phân bố những kết quả theo một trục ngang, từ kết quả tốt nhất đến kết quả xấu nhất. Sau đó họ vạch một đường cong có những điểm nằm cao hay thấp tùy theo số người đã thu được cùng kết quả.
Ta quan sát thấy một hiện tượng lạ kỳ : đường cong này luôn luôn có hình quả chuông, tương ứng với điều mà những nhà vật lý gọi là một đường cong Gauss, tên của nhà thiên văn học và toán học người Đức đã nghĩ ra công thức vào cuối thế kỷ thứ XVIII. Đối với đường cong này, mới rõ rằng phần lớn nhất của dân số được phân bố ở giữa đường cong đối xứng này có đỉnh đại diện cho mức trung bình của thương số thông minh của dân chúng được trắc nghiệm. Ta càng xa chính giữa của đường cong, càng có ít người. Các nhà tâm lý học quy trị số 100 cho score được đại diện rộng rãi nhất trong dân chúng được trắc nghiệm và chia trục ngang khiến cho 2/3 dân số có một kết quả giữa 85 và 100. Một sự chia cắt độc đoán nhưng chung cho tất cả các trắc nghiệm, điều này làm cho cơ thể so sánh chúng với nhau.
(SCIENCES ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

3/ KHI NÀO CON NGƯỜI ĐÃ TRỞ THÀNH THÔNG MINH ?
Họ rất còn thô lỗ, những đại diện đầu tiên của loài người (genre Home), cách nay 2,5 triệu năm, với những hòn cuội sắc bén thay cho hộp dụng cụ.Vả lại còn thô sơ hơn, những tổ tiên australopithèque, để tự vệ đã không có gì hơn các con khỉ : các viên sỏi, các hài cốt, các cành lá được nhặt trong khi họ di chuyển. Trí thông minh đã tiến bộ biết bao để đạt đến sự khéo léo và kỹ thuật học diệu kỳ của Homo sapiens của thế kỷ XXI ! Đó là điều khiển ta nghĩ rằng tổ tiên của chúng ta không có trình độ thông minh hiện nay của chúng ta..thậm chí họ đã không thông minh. Và nếu quả là như vậy, vấn đề thật sự được đặt ra là ta muốn biết khi nào trí thông minh đã đến với con người…
Các chuyên gia của tiến hóa cho một câu trả lời dưới dạng con quay (pirouette) : nói khi nào trí thông minh đã xâm chiếm những não bộ con người, nghĩa là …khi nào nên gọi là những con người (humains) ! Vào năm 1871, Darwin đã làm một mối liên hệ giữa kích thước của sọ, một tính chất hình thái học được sử dụng bởi những nhà cổ sinh vật học (paléontologue) để xếp loại một hóa thạch (fossile) như thuộc vào dòng dõi người (lignée humaine), và trí thông minh. ” Không ai nghi ngờ, tôi đoán phỏng như thế, rằng kích thước lớn của não ở con người so với thân mình, khi so sánh con khỉ đột (gorille) hay orang-outan, được liên kết một cách mật thiết với năng lực trí tuệ cao cấp của nó “, ông đã viết như vậy trong La descendance de l’ homme.
Và những dữ kiện cổ nhân loại học (paléoanthropologique) dường như đã cho ông có lý. Từ khi tổ tiên xưa nhất được biết của chúng ta, thể tích não của dòng dõi người đã lớn lên một cách đáng kể. Thế mà, một cách song hành, từ hòn sỏi va đập (caillou percuteur) đến sự làm chủ lửa, các dụng cụ đã phức tạp hóa, và cuộc sống xã hội cùng với nó, như những dấu vết chỗ ở của những tổ tiên của chúng ta đã xác nhận điều đó. Khó mà không thấy trong tiến hóa chung này bằng cớ rằng sọ và trí thông minh của con người đã cùng nhau lớn lên. Do đó, thời điểm xuất hiện trí thông minh là chuyện đánh giá cá nhân : cách nay 2 triệu năm, khi Homo habilis, với thể tích não từ 550 đến 680 cm3 thao tác những hòn cuội sắc bén ? Hay cách nay 1,5 triệu năm, khi Homo ergaster và thể tích não 800 cm3 đã phát minh biface (dụng cụ bằng đá được đẽo ở hai mặt) ?
15% THỂ TÍCH NÃO NHỎ HƠN
Tuy nhiên mối liên hệ giữa trí thông minh và kích thước của sọ chịu những nhược điểm. Nếu từ 4 triệu năm, thể tích não tăng lên ở họ người (hominidés), chúng ta, Homo sapiens, phá vỡ khuynh hướng này : bởi vì từ thời kỳ Cro-Magnon, một sapiens 30.000 năm, thể tích não đã giảm 10%, kíp nghiên cứu của Antoine Balzeau, paléoanthropologie thuộc Viện bảo tàng lịch sử tự nhiên quốc gia đã tiết lộ như vậy. Một kết quả phản trực giác, phát xuất từ moulage của “endocrane” de Cro-Magnon. Có được với một scan haute résolution và một impression en 3D của bên trong sọ, ông phục hồi những reliefs imprimés (mạng tĩnh mạch, các thùy não, tổ chức tổng quát…). Để làm giảm bớt những biến thiên giữa các cá thể, các endocrane của 14 Sapiens fossile 90.000 đến 20.000 năm và của 102 Sapiens hiện nay cũng đã được khảo sát. Kết quả : trong 25.000 năm, não của chúng ta đã từ 1550 xuống còn 1350 cm3.
Tuy nhiên sự giảm thể tích này chỉ có tính chất thu nhỏ não, bởi vì sự thu nhỏ này che dấu những thay đổi tại chỗ : mặc dầu, não của chúng ta ngắn hơn (- 7%) và thấp hơn (-3%), những thùy trán và chẩm của nó đã lần lượt mất 6 và 8% thể tích…nhưng các thùy đỉnh của nó dài ra và những thùy thái dương lớn lên, trong khi tiểu não được thêm 5%. Tóm lại, bấy nhiêu sự tái tổ chức cho thấy tính dẻo lớn của cơ quan qúy báu này và những liên hệ phức tạp giữa cơ thể học của nó và những năng lực nhận thức (capacité cognitive). Vậy kích thước không nhất thiết làm nên tất cả.
(SCIENCES & VIE, QUESTIONS ET REPONSES)
Ghi chú :
Australopithèque : Họ người hóa thạch châu Phi, xuất hiện cách nay 5 triệu năm. Những australopithèque, mà bước hai chân chưa hoàn hảo, có một tầm vóc từ 1,10 m đến 1,50m : tất cả chúng không được xem như là những tổ tiên trực tiếp của con người.

4/ CÓ ĐÚNG LÀ CON NGƯỜI CÀNG NGÀY CÀNG THÔNG MINH ?
Ý tưởng cho rằng trí thông minh của con người không ngừng tiến bộ được chia sẻ một cách rộng rãi. Nhưng ý tưởng đó có đúng không ? ” Chúng ta có cùng não bộ ở thế kỷ XVII, và tuy vậy những học trò lớp 4 ngày nay thấy thoải mái với những ý niệm đã làm lạc hướng những người đồng thời với Descartes trong gần một thế kỷ, nhà tâm lý học Joel Bradmez, thuộc đại học Reims, đã nhấn mạnh như vậy. Nhưng thật ra, thế giới chủ yếu phức tạp khi ta không hiểu nó. Không ngừng định lại tính chất từ phức tạp thành đơn giản là đặc điểm của trí thông minh.” Vì vậy mặc dầu có vẻ hấp dẫn khi nghĩ rằng trí thông minh con người đã luôn luôn tiến triển, nhưng khó mà chứng minh được điều đó. Ngoại trừ, từ lúc hiệu chính, vào năm 1911, bởi nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet, một ” échelle métrique ” để đánh giá sự phát triển của trí thông minh, một loạt các trắc nghiệm đã được hiệu chính, cho phép so sánh năng lực trí nhớ, học tập hay suy luận qua nhiều thế hệ. Đưa đến một đơn vị đo lường chủng loại (mesure générique) được gọi là tổng số điểm thương số thông minh (QI : quotient intellectuel), mà trị số trung bình, theo định nghĩa, được ấn định là 100.
Vào năm 1997, 52 chuyên gia đã hội họp để đề nghị một định nghĩa luôn luôn có giá trị tham khảo : “Trí thông minh là một khả năng rất tổng quát, bao hàm một năng lực suy luận, kế hoạch hóa, giải quyết những vấn đề, tư duy một cách trừu tượng, hiểu những ý tưởng phức tạp, học hỏi từ kinh nghiệm” Và thêm vào : ” Trí thông minh được định nghĩa như thế có thể đo được và những trắc nghiệm trí thông minh (tests d’intelligence) đo tốt mức độ thông minh này.”
NGƯỠNG CỦA TRÍ THÔNG MINH
Như thế, mặc dầu QI không đánh giá trí thông minh về mọi mặt, nhưng nó cho phép ghi điểm sự tiến triển của những trí năng được đo. Thế mà từ nhiều năm nay, hàng ngàn người đã được đánh giá đều đặn qua những trắc nghiệm về trí thông minh. Sự phân tích những trắc nghiệm này đã cho thấy rằng, tính đổ đồng, trí thông minh tiến triển. Từ 1940, mỗi 10 năm thương số thông minh thế giới thu được 3 điểm. Tuy nhiên, ở Pháp, những số điểm (score) QI mặc dầu đã tiến triển lên cao giữa những năm 1980 và 2000… nhưng với một nhịp độ đang suy tàn. Tệ hại hơn nữa, những kết quả mới đây nhất, phát xuất từ những nước scandinave, cho thấy rằng QI, sau khi đạt đến đỉnh cao, bắt đầu suy giảm nhẹ ở những nước đó. Tất cả các nước phát triển sẽ đi theo như thế ? Những thập niên đến sẽ cho biết điều đó. Với ý tưởng rằng có thể hiện hữu một ngưỡng, sau đó trí thông minh của con người sẽ ngừng tiến triển.
(SCIENCES ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

5/ LÀM SAO CẢI THIỆN TRÍ NĂNG CỦA MÌNH ?
Từ cà phê đến từ trường, qua vài loại muối amphétamine hay các dòng điện : bấy nhiêu phương tiện làm gia tăng, trong chốc lát, những hiệu năng của não bộ mình. Đó là kết quả từ nhiều thí nghiệm trắc nghiệm những khả năng hoàn thành những công tác nhận thức (tâche cognitive) sau khi hấp thụ vài phân tử hay sau khi tiếp xúc, qua các điện cực, với những từ trường hay điện trường có cường độ thấp. Những cơ chế của sự kích thích não bộ (dopage cérébral) này ? Về mặt hóa học, trong não, những phân tử được sử dụng biến đổi sự phân bố của vài chất dẫn truyền thần kinh (adrénaline và dopamine) có liên hệ trong những vùng chủ chốt của sự chú ý, của trí nhớ và của động cơ. Về mặt điện từ, những xung động nhận được ảnh hưởng nhịp và sự phân bố của những tín hiệu điện được trao đổi bởi các neurone. Một cách chính xác hơn, sự phân cực điện của các màng của các neurone, dưới tác dụng của dòng điện có cường độ thấp hay từ trường, được đặt một cách đúng đắn ở da đầu, làm thay đổi dễ dàng hơn, làm các neurone nhạy cảm hơn với những tín hiệu mà chúng trao đổi với nhau. Một sự “mềm dẻo” giải thích tại sao một kỹ thuật đang thịnh hành, TDCS (stimulation électrique transcranienne par courants continus), thành công cải thiện những năng lực khác nhau như thị lực (acuité visuelle), học ngôn ngữ, trí nhớ làm việc (mémoire de travail) hay những năng lực kế hoạch hóa. Khi đó sự lựa chọn năng lực cần được cải thiện tùy thuộc vào những điện cực được đặt trên bề mặt của sọ.
MỘT VỆ SINH TÂM THẦN
Có phải vì vậy mà cần phải phủ kín đầu với những điện cực hay phải hấp thụ những lit cà phê để cải thiện số điểm của mình lúc thi cử, hay để không quên những chìa khóa xe hơi nằm ở đâu ? Không hề như vậy. Những quy tắc đời sống đơn giản góp phần giúp có một não bộ với những khả năng tốt nhất. Thật vậy nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy có một tương quan rõ rệt giữa những điểm số (QI) và những tỷ lệ bị nhiễm ký sinh trùng hay sự tiêu thụ những sản phẩm giàu đường và mỡ công nghiệp. Được săn sóc và nuôi dưỡng tốt, một não bộ hiệu năng hơn. Tuy nhiên, nghĩ thế nào về những chương trình ” huấn luyện não bộ ” (programme d’entrainement cérébral), như chương trình của BS nổi tiếng Kawashima, được đại chúng hóa qua Nintendo, và đề nghị những bài tập về ghi nhớ, về khả năng nhanh chóng của phản ứng..? Từ một số ít những công trình nghiên cứu đã so sánh những hiệu quả của chương trình huấn luyện não bộ này với những hiệu quả của những trò chơi dùng trí thuộc loại ô chữ, hay so sánh với khi không huấn luyện, kết quả cho thấy sự cải thiện các hiệu năng là thấp, thậm chí số không. Nhất là, những hiệu quả được quan sát, khi chúng hiện hữu, biến mất nhanh chóng ngay khi ta bỏ ” huấn luyện”. Vậy, như những nhà tâm thần học chuyên về học tập đã khuyến nghị, sự việc thôi thúc não bộ một cách đều đặn bằng đọc, giải các bài toán, những trò chơi logic…là cái đảm bảo tốt nhất để có những năng lực trí tuệ tốt, vào bất cứ lứa tuổi nào.
(SCIENCES ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

6/ CÓ ĐÚNG LÀ NÃO BỘ CỦA EINSTEIN KHÔNG CÓ GÌ PHI THƯỜNG ?
Vỏ não của Einstein, nhà vật lý vô cùng nổi tiếng, nguồn gốc của 3 khám phá hợp tuyển về các photon, lý thuyết tương đối và chuyển động Brown, khi qua đời năm 1955, trở thành một trong những ” di vật ” được quảng bá nhất. Đó là bởi vì người ta hy vọng rằng sự phân tích một não bộ như thế sẽ cho phép hiểu hơn những cơ sở thần kinh-cơ thể học của trí thông minh và chọc thủng màng bí mật về những fulgurances của người sở hữu chủ quá cố. Vì thế, cơ quan quý báu này được bảo tồn trong formol, trái với ý muốn của nhà vật lý. Theo sở thích ưa kín đáo, Albert Einstein đã mong muốn được hỏa thiêu và những tro của ông sẽ được rãi ở một nơi được giữ kín, để cho mộ của ông không trở thành một nơi hành hương. Nhưng trong hậu bán thế kỷ thứ XX này, các nhà khoa học muốn biết não bộ của Einstein có gì đặc biệt đến như vậy. Chính BS Thomas Harvey, trưởng khoa pháp y, được phân công phẫu tích thân thể của nhà thiên tài để nhận diện nguyên nhân chính xác của trường hợp chết của ông. Và lúc cân, não của nhà vật lý danh tiếng chỉ con số 1.230, một trọng lượng chỉ ở mức bậc trung đối với một cái đầu vĩ đại như thế !
Vào thời kỳ đó, sự thất vọng càng lớn khi ta tin rằng có một liên hệ trực tiếp giữa thương số thông minh (QI) của một người và thể tích của não người đó, điều này như thế là không đúng . Không biết rằng Einstein phải được hỏa táng, BS Harvey quyết định bảo tồn cơ quan để khao sát nó dài lâu hơn. Trước hết do dự, Hans Albert, đứa con trai đầu của nhà vật lý, cuối cùng tin chắc về lợi ích của một ” kho tàng ” như thế dành cho khoa học và đã chấp nhận trao nó cho thầy thuốc pháp y. Thật là lạ kỳ, nhiều năm tháng trôi qua nhưng không có một tiết lộ nào.
UNE NORMALITE DESESPERANTE.
Những phân tích, được phó thác cho nhiều phòng thí nghiệm khác nhau của Hoa Kỳ, lại những kết quả làm thất vọng : não của Einstein chỉ ở một mức bình thường ! Áp lực truyền thông cuối cùng giảm xuống. Chỉ vào giữa những năm 1990, trong khi neurosciences trong thời kỳ phát triển, thì Harvey bắt đầu xa rời điều đã trở thành vật thần (fétiche) của ông. Ông nhường 24 mảnh não của Einstein cho Sandra Witelson, nhà thần kinh học người Canada và cho người phụ tá Debra Kigar. Trong lúc so sánh chúng với 91 não bộ khac mà họ sưu tập, hai nhà nghiên cứu nữ người Canada này đã không chậm trễ phát hiện một hiện tượng kỳ lạ về cơ thể học : Einstein có những thùy đỉnh (lobe pariétale) phì đại (>15% so với những não bộ chứng). Những hồi não (circonvolution) của các thùy đỉnh chứa trung khu của những năng lực suy luận toán học và chiều không gian…
Nhưng nhiều nhà nghiên cứu phản công : thật là ngây thơ, họ đã biện hộ như vậy, dám xác lập một mối liên hệ cơ học giữa trình độ thông minh và những đặc điểm cấu trúc của một khu vực nào đó của não bộ, thật là ngây thơ gán một nơi nhất định cho khả năng học tập ! Trình độ thông minh này chỉ hiện hữu bởi vì nó dựa trên những cấu trúc và những cấu trúc phụ khác, vô cùng nhiều, và bởi vì hàng tỷ và hàng tỷ những thông tin được trao đổi mỗi giây giữa các tế bào thần kinh. Từ đó cuộc tranh luận hoành hành, nhưng không hy vọng biết được nhiều hơn. Tiếc thay Einstein không còn trên cõi đời này. Nếu được thế, ngày nay ta có thể thấy được não của ông đang hoạt động. Và có trong tay một bộ máy não diệu kỳ như thế sẽ là một của trời cho. Còn cần phải đợi một Einstein kế tiếp..
(SCIENCES ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES.

7/ CÓ ĐÚNG LÀ THỨC ĂN ẢNH HƯỞNG LÊN TRÍ NĂNG CỦA CHÚNG TA ?
Carottes vichy, purée de pois, compote de pommes…Ma thuật của các cách chế thức ăn làm cho các thức ăn dễ tan trong miệng khi chúng được nấu chín. Nhưng sự nấu chín trước hết là một phương tiện hấp thụ nhiều năng lượng hơn bằng cách tăng thêm những calories có sẵn trong các thức ăn. Bởi vì sự nấu chín làm tăng gấp đôi khả năng hấp thụ amidon của chúng ta. Thật vậy, cũng như tất cả những động vật linh trưởng cao cấp, chúng ta có trong nước miếng của chúng ta một enzyme, ptyaline, cho phép tiêu hóa amidon được nấu chín. Thế mà, theo các chuyên gia, não bộ của chúng ta là một cơ quan vô cùng háu năng lượng.
Mặc dầu chỉ chiếm khoảng 2% khối lượng của một người trưởng thành, nhưng não tiêu thụ gần 20% năng lượng của người này lúc nghỉ ngơi, và đến 60% năng lượng của trẻ sơ sinh. Nếu não bộ của chúng ta thiếu năng lượng quý báu này, do kém dinh dưỡng, khi đó trí năng của chúng ta bị thu giảm, thậm chí lâm nguy. Vậy có một não lớn là một điều vô ích bởi vì phải trả giá đắc về mặt calorie. Vả lại con người đã chỉ có thể trở thành một “grosse tête” bằng cách đảo lộn chế độ ăn uống của mình. Để đi từ một thể tích 400 cm3 ở những australopithèque, cách nay 4 triệu năm, đến gần 1.400 cm3 ở Homo sapiens, là chúng ta hiện nay, đã phải cần hấp thu nhiều năng lượng hơn. Và ngoài việc gia tăng cung cấp calorie của các thức ăn, sự nấu chín đã cho phép một sự đảo lộn cơ thể học (bouleversement anatomique) thuận lợi cho sự phát triển của não bộ của chúng ta.
MỐI LIÊN HỆ GIỮA VỊ GIÁC VÀ TRÍ THÔNG MINH.
Thật vậy, bằng cách làm cho ít khó nhọc hơn lúc nhai thức ăn, việc nấu chín đã tạo điều kiện cho sự biến dị di truyền (mutation génétique), giảm bớt các cơ hàm của người cách nay 2,4 triệu năm. Như thế hàm của chúng ta hẹp lại, nhường chỗ cho não trong hộp sọ.
Không chỉ có thế. Sự nấu chín cũng đã làm phong phú một cách đáng kể vị của các thức ăn. Thế mà có một mối liên hệ giữa sự phát triển của vị giác và sự phát triển của trí thông minh. Thật vậy, những con khỉ nói chung, và con người nói riêng, có một sự thèm ăn rõ rệt đối với đường. Một sự hấp dẫn mà ta có là do sự dồi dào của các trái cây trong những khu rừng nguyên thủy. Sự tri giác vị ngọt cho phép nhận diện những mẫu thức ăn bồ dưỡng nhất và do đó tốt nhất để nuôi dưỡng não bộ. Ngoài ra, việc đi tìm kiếm thường xuyên những trái cây ngon tạo điều kiện cho sự phát triển của não bộ. Bởi vì các trái cây được phân tán trên những không gian rộng lớn và không thể tiếp cận suốt năm, nên sự thu hoạch chúng cần những chiến lược phức tạp hơn và do đó những năng lực nhận thức (capacité cognitive) phát triển hơn so với sự tìm kiếm những thức ăn thông thường hơn.
(SCIENCE & VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

8/ CÓ ĐÚNG LÀ NÃO CỦA ĐÀN ÔNG KHÁC VỚI NÃO CỦA ĐÀN BÀ ?
Những người đàn ông đến từ sao Mars, những người đàn bà đến từ sao Vénus. Đó là nhan đề của best-seller của người Mỹ John Gray, bảo vệ ý tưởng cho rằng những khác nhau hành vi (comportement) đàn ông/đàn bà phát xuất từ những cấu trúc tinh thần (structure psychique) căn bản khác nhau. Vậy khoa học có thể xác lập một cách thật sự những khác nhau giữa não người đàn ông và não phụ nữ ? Không có gì là chắc. Tuy vậy, không phải vì thiếu nghiên cứu vấn đề. Vào thế kỷ XIX, vào lúc não được chỉ định là trung khu của tư duy thay cho tim, nhà cơ thể học-thần kinh vĩ đại Paul Broca đã ra sức so sánh các não bộ con người. Trong nhiều năm, ông đã đổ đầy các hộp sọ những hạt chì để đánh giá thể tích của chúng và đã lấy não bộ trên các xác chết để đặt chúng lên bàn cân. ” Không nên quên rằng phụ nữ trung bình hơi ít thông minh hơn đàn ông “, vào năm 1861, ông đã đưa ra nhận xét như vậy trong tác phẩm của ông “Về thể tích và hình dạng của não bộ theo cá thể và theo chủng tộc”.
ĐẦU VĨ ĐẠI, NHƯNG NÃO NHẸ KÝ.
” Vậy được phép giả định rằng sự nhỏ nhắn của não đàn bà so với đàn ông tùy thuộc đồng thời vào sự thua kém về mặt vật lý và trí tuệ của nó.” Vậy lý lẽ về trọng lượng của não bộ rõ ràng dùng để biện minh cho thứ bật xã hội (hiérarchie sociale) giữa các giới tính được xác lập vào thời kỳ đó. Nhưng vào thời đại bình đẳng hiện nay, có thật như thế không : đàn ông và đàn bà có cùng não ? Câu hỏi này chưa hẳn là không quan trọng, bởi vì nó hàm ý tất cả các nghi vấn về phần trách nhiệm của yếu tố bẩm sinh và thụ đắc trong những hành vi của chúng ta và sự tranh luận vẫn mang nhiều hậu quả xã hội. Đối với Catherine Vidal, neurobiologiste thuộc viện Pasteur (Paris) và nhà tranh đấu cho bình quyền, neu thăng tiến ý tưởng cho rằng các năng lực trí tuệ (capacité mentale) đã được ghi trong bản chất sinh học của mỗi người, đó là bỏ tất cả hy vọng về bình đẳng. Bởi vì nếu không ” tại sao thúc đẫy con gái học khoa học còn con trai học ngôn ngữ ? Ích lợi gì thực hiện chương trình nâng đỡ học đường và học chung nam nữ ? Nếu ta cho một giải thích ” tự nhiên” cho những khác nhau xã hội và nghề nghiệp giữa đàn ông và đàn bà, mọi chương trình cho égalité des chances trở thành vô ích”.
Một điều chắc chắn, đó là sự chứng minh của Paul Broca không đứng vững. Những trọng lượng của não biến thiên một cách đáng kể từ cá nhân này đến cá nhân khác, dầu thuộc giống gì, và không có một tương quan nào giữa trọng lượng của não và trí năng. Bằng cớ : não của Anatole France chỉ cân nặng 1 kilo, trong khi não của Tourgueniev lên đến gấp đôi ! Con về Einstein, ông ở dưới mức trung bình với một cái não chỉ nặng 1230 gramme.
ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG.
Từ đó, trận chiến với những tài liệu xuất bản khoa học, giữa những người bảo vệ một não bộ hữu tính (un cerveau sexué) và những người chống đối. Nếu cuộc tranh luận cho đến nay vẫn không luôn luôn được giải quyết, đó là bởi vì nó dựa trên những lý thuyết khoa học không hoàn toàn được chứng minh cũng như không được hợp thức hóa. Tuy nhiên ta có thể ghi nhận rằng, khi chào đời, trẻ sơ sinh có một não bộ chưa được hoàn thành. 90% những nối kết giữa các tế bào thần kinh (connexions neuronales) sẽ được xây dựng sau này, được hướng dẫn mạnh bởi những kích thích của môi trường nội tại của đứa bé (kích thích tố, chế độ ăn uống, bệnh tật) và những kích thích của môi trường ngoại tại (những tương tác gia đình và xã hội)…”Tính dẻo” của não bộ (plasticité cérébrale), chính tính chất điều biến (se modeler) theo kinh nghiệm sống mà đứa bé có. Thí dụ ở những nhà chơi dương cầm chuyên nghiệp, ta thấy trong những vùng của vỏ não chuyên trách về chức năng vận động của các ngón tay, về thính giác và thị giác dày lên, và những biến đổi này tỷ lệ trực tiếp với thời gian dành cho việc học dương cầm trong thời thơ ấu.
Nói tóm lại, những khác nhau giữa các cá thể của cùng một giới tính vượt quá nhiều những khác nhau giữa hai giới tính. Con trai hay con gái ít quan trọng, mỗi người đào luyện não bộ của mình theo lịch sử của mình. Những dữ kiện khoa học có hiện nay về não bộ không tạo được sự nhất trí. Nhưng nếu cuộc tranh luận giảm bớt dần tính chất ý thức hệ và phong phú những tiến bộ khoa học mới, có lẽ nhiên hậu nó sẽ làm cho các nhà nghien cứu nhất trí với nhau chăng ?
(SCIENCE & VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

9/ NHỮNG CÔN TRÙNG LÀM THẾ NÀO MÀ THÔNG MINH ĐẾN NHƯ VẬY ?
Với 0,3 mm3 đối với con ruồi, 0,5 đối với con kiến và 1 đối với con ong, thể tích của não của các côn trùng khoảng 1 triệu lần nhỏ hơn thể tích não của chúng ta. Và trong khi chúng ta có gần 100 tỷ neurone thì các côn trùng, tương tự với chúng ta về hình dáng và tính chất, hiếm khi vượt quá 1 triệu. Và tuy vậy, trí thông mình mà những con vật bé tí này chứng tỏ thật là gây ấn tượng. Mathieu Lihoreau (đại học Londres) đã cho thấy rằng con ong gấu (bourdon) biết giải một trong những bài toán hóc búa nhất của toán học : tìm con đường ngắn nhất, chỉ một lần, đi qua nhiều chặng đường. Những tài năng khác : những tài năng của con ong mật (abeille). Nó chế tạo những tầng sáp ong (rayon de cire) hình lục giác, nhảy múa để ra hiệu cho những con ong khác địa điểm của các bông hoa, đốt các đối thủ mà không bị đốt trở lại, sưởi ấm các ấu trùng ở trong tổ ong… Và làm sao không bị gây ấn tượng bởi điệu kịch múa (ballet) được điều tiết một cách chu đáo của các con kiến, bảo vệ lối vào chống lại những kẻ lạ, vận chuyển thức ăn và đám trứng (ong) đến bến đến bờ ?
Bí quyết của sự thông minh này ? Một sự tối ưu hóa lạ thường của những thành phần khác nhau của những não bộ nhỏ xíu. Thí dụ những vi não (microcerveau) của các con kiến chuyên trách trong sự phát hiện những phéromone (chất hóa học, được tiết ra với liều cực nhỏ bởi một động vật trong môi trường bên ngoài, gây ở những động vật cùng loài những hành vi đặc hiệu), nhờ chất hóa học cắm mốc cho những lối đi dưới đất. Các con ông mật có thể cậy vào thân có cuống (corps pédonculé) của chúng để ghi nhớ những nơi cần thiết cho sự vận hành tốt của tổ ông. Tấm màng bí mật của não bộ của các con ông gấu chưa được chọc thủng. Nhưng ít nhất ta biết rằng chỉ cần vài ” neurone” điện tử cũng đủ để đảm bảo những khả năng bay phức tạp cho những chiếc trực thăng bé xíu giống như những lối bay của một con ruồi. Kích thước nhất thiết không làm nên tất cả.
(SCIENCE & VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

10 / CON TRAI CÓ KHIẾU VỀ TOÁN HƠN CON GÁI ?
Câu hỏi nguy hiểm ! Vào năm 1861, Paul Broca, nhà cơ thể học nổi tiếng người Pháp, mô tả một sự khác nhau 181g về trọng lượng trung bình giữa não của người đàn ông và của phụ nữ, điều này khiến ông ta kết luận rằng ” Tính trung bình, phụ nữ hơi ít thông minh hơn đàn ông. Như vậy cho phép giả định rằng sự bé nhỏ tương đối của não bộ của phụ nữ tùy thuộc đồng thời vào sự thua kém về mặt vật lý và về mặt trí tuệ.” Ngoại trừ tất cả điều đó là sai. Không những sự khác nhau về trọng lượng của não theo giới tính đã không bao giờ được chứng minh, nếu ta xét đến những khác nhau về vóc người, những kích thước của não ngay cả không có một tương quan nào với những năng lực nhận thức (capacité cognitive) hay một thương số thông minh (QI) nào đó.
NHƯNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHÔNG NHIỀU.
Thật vậy, trên quan điểm cơ thể học, cho đến nay không một khác nhau rõ rệt và nhất trí nào đã được khám phá, về kích thước của các bán cầu đại não (không có bán cầu nào lớn hơn bán cầu nào, phải hay là trái), cũng như về kích thước của thể chai (corps calleux) (một cấu trúc bắt cầu giữa hai bán cầu đại não). Một nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, Simon Le Vay, đã đúng là tìm thấy một sự khác nhau : một nhân nhỏ xíu chứa những neurone nằm trong vùng dưới đổi (hypothalamus) ở người đàn ông dị tính luyến ái (hétérosexuel) lớn hơn so với đàn bà dị tính luyến ái hay những người đàn ông đồng tính luyến ái (homosexuel). Tính đồng tính luyến ái (homosexualité) sau cùng được giải thích… Chỉ có vấn đề : những phương pháp của ông ít nghiêm túc và những kết quả không bao giờ được tạo lại. Tuy vậy, luận đề (thèse) đã mang lại thành công và làm cho Le Vay nổi tiếng.
Nghiêm chỉnh hơn, vài nhà khoa học ngày nay nghĩ rằng, nếu có sự khác nhau ở não bộ, thì sự khác nhau này có thể là trong quá trình thành thục của não trước khi sinh, dưới tác dụng của các kích thích tố sinh dục (hormones sexuelles).” Nhưng nếu ta đào sâu vấn đề này hơn, ta chứng thực rằng những công trình nghiên cứu ở người không có nhiều và rất bị tranh cãi. Phần lớn những thí nghiệm này đã được tiến hành ở chuột “, Catherine Vidal, neurobiologiste thuộc Viện Pasteur đã giải thích như vậy.” Và mặc dầu ta thành công thao tác bằng hormone một khỉ cái mang thai, nhưng việc loại suy các kết quả cho người không phải hiển nhiên.”
Vậy phải chăng những điều ấy rõ rệt hơn trên bình diện chức năng ? Trong trường hợp này, chụp hình ảnh y khoa có thể cho phép trả lời bằng cách so sánh hoạt động của não lúc thực hiện vài thao tác tinh thần (opération mentale) (đọc, tính…). Quan sát đầu tiên : nếu ta cho một người nào đó thực hiện một công việc và ta làm lại thí nghiệm nhiều tháng sau, ta không quan sát thấy cùng hoạt động não. ” Sự vận hành của não bộ của chúng ta không bao giờ đứng im “, Catherine Vidal đã bình luận như vậy. Đến độ những khác nhau giữa các não bộ của các cá thể cùng giới tính hơn những khác nhau có thể hiện hữu giữa hai giới tính.”Tất cả chúng ta có một cách duy nhất làm hoạt động não bộ của chúng ta, dầu giới tính là gì.”
KINH NGHIỆM SỐNG MỚI LÀ QUAN TRỌNG
Như thế, mặc dầu vài công trình nghiên cứu khoa học đã có thể phát hiện một sự thể hiện không gian (représentation spatiale) tốt hơn ở những người đàn ông và những năng lực ngôn ngữ tốt hơn ở đàn bà,” ta không thể kết luận rằng những khác nhau này đã hiện diện ngay khi sinh. Bởi vì não bộ được xây dựng tùy theo những học tập và những kinh nghiệm sống.” Trong tất cả các văn hóa, những bé trai và những bé gái chịu những kích thích tình cảm, xã hội và văn hóa khác nhau. Những trò chơi của chúng không nhờ đến cùng những năng lực và như vậy không cho phép cùng những bước đầu rèn luyện. Những trắc nghiệm năng lực (test d’aptitude) và những kết quả học đường mặt khác cho thấy rằng khi những cháu trai và cháu gái nhận cùng giảng dạy và cùng đối xử xã hội, những khác nhau mờ nhạt đi, thậm chí biến mất.
Thế thì con trai không giỏi toán hơn con gái ? Tuy vậy một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ được thực hiện vào năm 1990 trên khoảng 10 triệu học sinh đã phát hiện rằng về mặt thông kể, con trai thành công những trắc nghiệm về toán hơn con gái. Nhưng cùng điều tra đã được thực hiện lại vào năm 2008…lần này không phát hiện được một sự khác nhau nào đó theo giới tính. ” Trừ phi nghĩ rằng đã có, trong vòng chưa được hai thập niên, một sự biến dị di truyền (mutation génétique) của não bộ của các con gái, làm cho chúng thiên về toán hơn, giải thích duy nhất là sự phát triển của giảng dạy khoa học và tính chất hỗn hợp (mixité) của những filière scientifique ngày càng gia tăng “, Catherine Vidal đã bình luận như vậy. Ngoài ra, một công trình nghiên cứu khác được tiến hành năm 2008 ở 300.000 thiếu niên trong 40 nước đúng là đã xác nhận rằng môi trường xã hội văn hóa càng thuận lợi cho sự bình đẳng nam nữ, thì con gái càng được những kết quả tốt về toán. Ở Na Uy và Thụy điển không có khác nhau giữa trai và gái ; ở Islande, con gái ngay cả giỏi hơn con trai nhưng ở Thổ Nhĩ Kỳ hay ở Đại hàn, con trai được những kết quả tốt hơn.
(SCIENCES ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(2/9/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 318 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 502 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s