Hồi sinh cao cấp trẻ sơ sinh và nhi đồng, Chương II Phần I – BS Nguyễn Văn Thịnh

EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT
CHƯƠNG II
HỒI SỨC TIM PHỔI CƠ BẢN
(REANIMATION CARDIOPULMONAIRE DE BASE)

Những Mục   Tiêu

Vào   cuối chương này, các bạn sẽ có khả năng :

  •   Hiểu rằng sự phòng ngừa ngừng tim hô hấp là một ưu tiên trong xử trí trẻ em bị bệnh hay chấn thương.
  •   Biết rằng sự tiến hành nhanh và hiệu quả một hồi sức tim phổi cơ bản, với sự kích hoạt của AMU (aide médicale urgente) và sự áp dụng hồi sức cao cấp (réanimation médicalisée) gồm làm ổn định, vận chuyển và phục hồi là những giai đoạn chủ yếu cho phép làm giảm tỷ lệ tử vong và tỷ lệ bệnh trong tình huống ngừng tim hô hấp.
  •   Có khả năng thực hiện những giai đoạn khác nhau của hồi sức nhi đồng cơ bản cũng như những giai đoạn lấy ra một vật lạ được hít vào.
  •   Hiểu được tính hợp lý của những dị biệt trong những kỹ thuật hồi sức của nhũ nhi và của trẻ em.

PHẦN I

Hồi sinh cơ bản (réanimation de base) là một sự phối hợp của những thủ thuật, những kỹ thuật, cho phép nhận biết một người đang ngừng tim hay hô hấp không có hỗ trợ y cụ và “mua thời gian” cho đến khi đứa trẻ có thể nhận một xử trí và điều trị cao cấp.
Hồi sinh tim phổi cơ bản (RCP de base hay BLS : basic life support) phải được bắt đầu càng nhanh càng tốt.
Mục đích chủ yếu là có được một oxygénation đủ để “bảo vệ” não và những cơ quan sinh tử khác. Lý tưởng là mọi công dân phải biết hồi sinh tim phổi và những kỹ thuật của nó.
Hồi sinh tim phổi cơ bản hiệu quả hơn nếu người cứu là một nhà nghề, nhưng một hồi sinh dưới tối ưu cho những kết quả tốt hơn so với không hồi sinh gì hết.
Hồi sinh tim phổi cơ bản có thể được thực hiện mà không cần dụng cụ nào nhưng khí thở ra bởi người cứu khi thông khí, chỉ cung cấp một nồng độ oxy từ 16 đến 17%.
Oxy (được làm ẩm nếu có thể) phải được cho ngay đứa bé bị ngưng tim hô hấp. Người cứu được đào tạo phải thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng (với oxy) ngay khi những y cụ thích đáng sẵn sàng.
Tuy nhiên, thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng (ventilation au maque et au ballon) cần nhiều huấn luyện hơn thông khí qua miệng-miệng bouche-à-bouche) hay qua miệng-mặt nạ (bouche à masque), và phai được sử dụng chỉ bởi nhân viên được huấn luyện.
Hồi sinh tim phổi cơ bản với sử dụng dụng cụ gồm sử dụng mặt nạ có van và quả bóng (xem chương 3), dụng cụ bảo vệ và máy khử rung ngoài tự động (défibrillateur automatisé externe).

I. NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG
Khi xử trí đứa bé bị suy hô hấp hay tuần hoàn, một số yếu tố nào đó có tính cách quyết định để cải thiện những cơ may thành công của hồi sinh. Yếu tố quan trọng nhất là nhận biết sớm và điều trị thích đáng đứa bé có những dấu hiệu biến đổi hô hấp hay tuần hoàn. Sự ngăn ngừa ngừng tim hô hấp nhờ sự xử trí sớm và thích đáng của suy hô hấp hay tuần hoàn cải thiện tiên lượng.
Tuy nhiên sẽ luôn luôn có những đứa bé mà suy tuần hoàn hay hô hấp không có thể ngăn ngừa được. Đối với những trẻ này, việc thực hiện một hồi sinh cơ bản sớm, sự khởi động nhanh chóng aide médicale urgente và sự tiến hành một hồi sức cao cấp (réanimation médicalisée) hiệu quả là căn bản để làm giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật nhi đồng.
Trong khung cảnh hồi sinh tim phổi cơ bản, một đứa bé từ O đến 1 tuổi là một “ nhũ nhi” (nourrisson) và từ 1 tuổi đến tuổi dậy thì, chữ “ đứa bé ” (enfant) được sử dụng. Chẳng hữu ích cũng chẳng cần thiết phải xác lập một cách chính thức lúc khởi đầu của tuổi dậy thì ; nếu người cứu nghĩ rằng nạn nhân là một đứa bé, thì anh ta sẽ áp dụng những điều khuyến nghị nhi đồng.
Khi chỉ có một người là nhân chứng của một ngừng tim hô hấp, thì người này sẽ áp dụng chuỗi người lớn (séquence adulte) cho đứa bé, nhưng sẽ bắt đầu bằng thực hiện 5 thông khí và 1 phút hồi sinh tim phổi trước khi đi tìm sự giúp đỡ.
Chuỗi được mô tả dưới đây liên hệ đến những người chuyên nghiệp y tế, bình thường làm việc theo kíp.
Mặc dầu tất cả có thể học hồi sinh tim phổi cơ bản ngay lúc 6 tuổi, tuy nhiên đó là một kỹ thuật phức tạp trên bình diện tâm lý vận động
Hồi sinh tim phổi đòi hỏi một giảng dạy thích đáng và hiệu quả trên các mannequin nhi đồng đặc hiệu và đòi hỏi một sự cập nhật những kiến thức và kỹ thuật.

II. CHUỖI HỒI SINH CƠ BẢN
Nếu có nhiều hơn một người cứu, thì một trong những người này sẽ tức thời đi kiếm sự cứu giúp và gọi aide médicale urgente trong khi người (hay những) người khác bắt đầu tiến hành hồi sinh tim phổi.
Nếu chỉ có một người sơ cứu, điều quan trọng là sự hồi sinh cơ bản phải được bắt đầu ngay và được tiếp tục trong 1 phút trước khi đi kiếm người giúp đỡ.
Chuỗi này dựa trên hai sự kiện chính :
1. Phần lớn những ngừng tim nhi đồng là do giảm oxy mô (hypoxie) và sự tái lập nhanh chóng một oxygénation thích đáng (do hồi sinh tim phổi mang lại) là điều cấp cứu nhất.
2. Loạn nhịp tim thường gặp nhất ở trẻ em là tim nhịp chậm, dẫn đến vô tâm thu (asystolie). Do đó, một hồi sinh cơ bản hiệu quả là quan trọng hơn một phá rung sớm (défibrillation précoce).
Mặc dầu không thường xảy ra, ngừng tim nguyên phát do rung thất hay do tim nhịp nhanh thất vô mạch (tachycardie ventriculaire sans pouls) đôi khi có thể xảy ra ở trẻ em. Ta đặc biệt nghĩ đến điều đó trong trường hợp ngã qụy đột ngột trước sự hiện diện của một nhân chứng, trong trường hợp đứa bé có một bệnh tim đã được biết đến. Khi đó sự thành công của hồi sinh tùy thuộc vào sự phá rung sớm. Khi đó, nếu chỉ một mình, người cứu sẽ phải khởi động aide médicale urgente trước khi bắt đầu hồi sinh tim phổi và phải sử dụng máy phá rung tự động ngoài (défibrillateur automatisé externe) ngay khi có sẵn.
Hồi sinh tim phổi cơ bản phải được thực hiện từng giai đoạn một. Thứ tự của các hành động và việc thực hiện chúng đúng đắn là quan trọng bởi vì nếu một trong thủ thuật không được thực hiện một cách đúng đắn, tính hiệu quả của thủ thuật tiếp theo có thể bị ảnh hưởng.

Chuỗi nhi đồng của hồi sinh tim phổi cơ bản

Sécurité (An toàn)
Stimulation (Kích thích)
Appel au Secours (Kêu cứu)
Airway (Đường khí)
Breathing (Hô hấp)
Circulation (Tuần hoàn)
Réévaluation (Tái đánh giá)

1. AN TOÀN
Trong trường hợp cấp cứu ngoài bệnh viện, trước hết phải đảm bảo an toàn của chính bạn và rồi thì an toàn của đứa bé. Nếu hồi sinh xảy ra trên công lộ, thí dụ gần một đám cháy hay nước, trước hết đảm bảo rằng nơi xảy ra tai nạn là an toàn.
Trong trường hợp chấn thương, lý tưởng là phải tránh di chuyển nạn nhân, nhưng có thể buộc phải mang đi nơi khác nếu có nguy cơ đối với nạn nhân hay người cứu.
Hãy xem tất cả những chất dịch cơ thể như là có khả năng gây nhiễm trùng. Hãy mang gant và hãy sử dụng những cái chắn bảo vệ (barrière de protection) hay mặt nạ và bóng bóp để thực hiện hồi sinh tim phổi càng nhanh càng tốt.
Lúc đến gần nạn nhân, người cứu phải nhận diện một cách nhanh chóng mọi nguyên nhân có thể giải thích tính chất cấp cứu. Điều đó có thể làm biến đổi cách xử trí đứa bé (thí dụ sự nghi ngờ chấn thương cột sống có hàm ý xét đến sự cần thiết cố định cột sống cổ)
2. KÍCH THÍCH
Điều quan trọng là xác định tình trạng tri giác của đứa bé, có thể không ở trong tình trạng nguy kịch.
Sự đáp ứng của một đứa trẻ có vẻ bất tỉnh phải được đánh giá bằng một kích thích lời nói hay xúc giác (stimulation verbale et tactile). Đừng bao giờ lay đứa bé. Một thủ thuật thích đáng (tính đến sự cần thiết làm bất động cột sống cổ) nhằm giữ vững đầu của đứa bé bằng cách đặt một bàn tay lên trán và dùng tay kia để lay cánh tay của đứa bé hay để vỗ vỗ trên đầu hay má nó.
Đồng thời, bạn hay cao giọng gọi đứa trẻ, thí dụ bằng cách nói “ Hãy tĩnh dậy đi” hay hỏi “ khỏe chứ ? ”
Nếu đứa bé trả lời bằng cách động đậy, kêu khóc hay nói, một can thiệp khác có thể không cần thiết. Tình trạng lâm sàng hay mọi nguy hiểm tiềm tàng khác phải được đều đặn tái đánh giá và nếu điều đó tỏ ra hữu ích, cần phải yêu cầu được giúp đỡ.
Nếu không có đáp ứng, các giai đoạn tiếp theo của hồi sinh cơ bản sẽ được thực hiện.
3. GỌI CỨU
Hãy gọi cứu mà không rời đứa bé và hãy bắt đầu tức khắc hồi sinh tim phổi. Nếu có ai khác có thể gọi aide médicale urgente, bạn hãy đảm bảo rằng các thông tin sau đây được truyền đạt :
– Định vị trí một cách chi tiết nơi hồi sinh đang diễn ra.
– Số điện thoại từ đó lời kêu cứu được gọi đi.
– Tính chất của tai nạn hay của biến cố (đứa trẻ được tìm thấy ngừng tim hô-hấp trong khi ngủ, điện giật, tai nạn xe cộ..).
– Số lượng và tuổi của các nạn nhân và có các trẻ em trong số các nạn nhân hay không.
– Mức độ nghiêm trọng và tính chất cấp cứu của tình hình và xem đứa bé có cần một hồi sức cao cấp không.
Người gọi aide médicale urgente chỉ được cúp điện thoại khi đảm bảo rằng thông tin để được hiểu rõ.
Điều này có mục đích đảm bảo rằng thông tin đúng là được truyền đạt. Sau đó người này sẽ quay trở lại người cứu để bảo là aide médicale urgente đã được khởi động. Chuỗi hành động này phải được tôn trọng ngay cả khi một điện thoại cầm tay được sử dụng.

1. Người cứu chỉ một mình
Gọi Aide Médicale Urgente sau 1 phút Hồi sinh tim phổi.
Trẻ em và người bị đuối thuộc mọi lứa tuổi
Gọi trước hết Aide Médicale Urgente để thực hiện một khử rung sớm
Tất cả mọi lứa tuổi nếu ngã qụy đột ngột trước nhân chứng2. Hai người cứu
Một bắt đầu hồi sinh tim phổi trong khi người kia gọi Aide Médicale Urgente

4. AIRWAY : ĐƯỜNG KHÍ (A)
a / MỞ ĐƯỜNG KHÍ
Nếu đứa bé bất tỉnh, có thể là lưỡi làm tắc ít nhất một phần đường khí. Do đó, người cứu trước hết phải mở đường khí. Điều này có thể được thực hiện bằng hai cách.
+ NHỮNG THỦ THUẬT PHỔ CẬP
Đó là một thủ thuật don giản và có hiệu quả.
Hãy đến gần về một phía đứa bé và đặt một bàn tay lên trán của nó và sau đó đẫy nhẹ nhàng đầu ra sau.
Ở một nhũ nhi (dưới 1 tuổi), đầu được đặt ở vị trí trung dung.
Ở trẻ lớn hơn, cần uỡn cổ nhiều hơn (position du chien humant).Hãy đặt đầu của các ngón tay của bàn tay kia trên phần xương của hàm dưới và kéo cằm lên trên. Điều chủ yếu là các ngón tay không đè lên các mô mềm dưới cằm, bởi vì điều đó có thể làm tắc đường khí do đẫy lưỡi về phía trên và ra sau.+ ĐẦY HÀM DƯỚI RA TRƯỚC
Đó là phương pháp hiệu quả nhất để mở đường khí của đứa bé và là phương pháp lựa chọn trong trường hợp nghi ngờ chấn thương cột sống cổ. Đặt hai tay hai bên đầu của đứa bé. Hai hay ba ngón tay của mỗi bàn tay phải được đặt dưới góc của xương hàm dưới. Xương hàm dưới phải được đẫy lên cao trong khi các ngón cái nằm dựa trên các gò má. Các cùi tay của người cứu dựa trên mặt phẳng, trên đó đứa bé nằm, để làm dễ thủ thuật.
b/ KIỂM TRA ĐƯỜNG KHÍ
Dầu cho phương pháp được chọn lựa để mở đường khí là gì đi nữa, điều quan trọng là nhìn kiểm tra miệng để đảm bảo rằng không có một vật lạ. Bạn chỉ đưa một ngón tay vào trong miệng của đứa bé nếu có thể thấy được một vật lạ và nếu bạn nghĩ có thể lấy nó ra một cách dễ dàng. Đừng bao giờ cố lấy vật lạ ra một cách mù quáng vì lẽ nguy cơ làm thương tổn các mô mềm và vật lạ bị kẹt vào sâu hơn.
Khi đường khí đã được khai thông và đánh giá (Airway = a), ta chuyển qua giai đoạn tiếp theo, sự thông khí (Breathing =b).
c/ ĐÁNH GIÁ SỰ HÔ HẤP : NHÌN, NGHE, CẢM THẤY.
Hãy mở đường khí như được mô tả trên đây và hãy tìm kiếm những dấu hiệu cua hô hấp tự nhiên.Hãy đặt má vài cm trên miệng và mũi của đứa bé và nhìn thân của đứa bé. Trong tư thế này hãy nhìn xem ngực hay bụng có được nâng lên hay không, hãy lắng nghe xem ta có nghe một tiếng thở hay không và hãy cảm thấy xem không khí có được thở ra hay không. Dùng 10 giây để nhìn, nghe và cảm thấy sự hô hấp.Nếu đứa bé thở một cách tự nhiên và có hiệu quả, hãy giữ đường khí mở và gọi cứu. Trong trường hợp không nghi ngờ chấn thương cột sống cổ, hãy đặt nạn nhân ở tư thế nghiêng an toàn (position latérale de sécurité).
Nếu đứa bé không thở một cách hiệu quả hay chỉ sinh ra vài thở ngáp cá, hãy bắt đầu thông khí hỗ trợ.
5. BREATHING (B) : THÔNG KHÍ (VENTILATION)
HÀ HƠI THỔI NGẠT (INSUFFLATIONS)
Khởi đầu phải cho 5 cú thổi vào (insufflation). Một cú thổi vào phải được thực hiện một cách chậm rãi (trong một thời gian từ 1 đến 1,5 giây). Điều này cho phép làm tối ưu lượng oxy được phát vào phổi và làm giảm nguy cơ căng trướng dạ dày. Để làm tối ưu lượng oxy phát ra cho đứa bé và làm giảm lượng CO2 hiện diện trong không khí thở ra, người cứu phải thở sâu giữa mỗi lần hà hơi thổi vào.
+ Kỹ thuật miệng-miệng mũi (Technique de bouche à bouche-nez)
Đó là kỹ thuật được khuyến nghị ở nhũ nhi. Người cứu đặt miệng của mình trên miệng và mũi của nhũ nhi, làm thế nào để thâu tóm chúng một cách kín mít và thổi vào trong như đã mô tả trên đây. Nếu điều này không thể thực hiện được, người cứu có thể thổi vào, hoặc là trong miệng, hoặc là trong mũi.Trong trường hợp thở vào trong mũi, miệng phải được đóng lại để tránh rò khí xuyên qua môi.+ Kỹ thuật miệng-miệng (Technique de bouche à bouche)
Ở trẻ em, hãy đặt miệng lên miệng của đứa bé một cách kín. Hãy bóp các lỗ mũi của đứa bé với bàn tay gần đỉnh đầu nhất để các hơi thở vào không đi ra ngoài qua mũi.Mục đích của các cú thổi vào (insufflations) là cung cấp không khí thở ra (air exhalé) (của người cứu) (khoảng 16-17% oxy) cho hai lá phổi của đứa bé. Người cứu phải thích ứng áp suất và thể tích thổi vào để tránh sự căng trướng dạ dày.Tính hiệu quả của các lần thổi vào được đánh giá bằng cách quan sát sự lên xuống của lồng ngực ; điều chủ yếu là chuyển động ngực có thể thấy rõ mỗi lần thổi hơi vào.
Nếu không có một cử động ngực nào có thể thấy được trong những lần thổi vào, người cứu phải đặt lại vị trí đường khí trước khi cho một hơi thở vào mới. Nếu mặc dầu đường khí đã được đặt lại vị trí, những hơi thổi vào không kèm theo một sự nâng lên của lồng ngực, phải xét đến khả năng sự hiện diện của một vật lạ và người cứu phải bắt đầu những ép ngực.
Sau khi đã cho 5 cú thổi vào ban đầu, người cứu chuyển qua C (circulation).
6. CIRCULATION (C) : TUẦN HOÀN
a. ĐÁNH GIÁ NHỮNG DẤU HIỆU TUẦN HOÀN/NHỮNG DẤU HIỆU SỐNG
Sau khi đường hô hấp được khai thông và hà hơi thổi ngạt có hiệu quả, phải đánh giá xem có cần ép ngực đứa bé hay không. Phương pháp cổ điển để đánh giá tuần hoàn bởi một người chuyên ngành y tế là xác định sự hiện diện hay vắng mặt của mạch trung tâm (pouls central).Ở nhũ nhi, sự hiện diện của một mạch trung tâm được đánh giá ở động mạch cánh tay hay động mạch đùi.Ở trẻ em mạch này được tìm kiếm ở động mạch cảnh.
Vì sự đánh giá mạch có thể khó khăn, nên người cứu được khuyến nghị cũng quan sát ở đứa bé sự hiện diện của những dấu hiệu sống, bao gồm những cử động, ho hay một hô hấp bình thường (không phải là thở ngáp cá hay một hơi thở hấp hối)
Thời gian tối đa để đánh giá tuần hoàn là 10 giây
Nếu mạch hiện diện hay nếu có những dấu hiệu sống, người cứu đánh giá lại sự hô hấp. Nếu vẫn không có hô hấp tự nhiên có hiệu quả, người cứu tiếp tục thông khí với một tần số 12-20 lần thổi vào mỗi phút. Sự hô hấp và tuần hoàn được tái đánh giá thường xuyên và hồi sinh tim phổi được tiếp tục cho đến khi aide médicale urgente đến để thay phiên hay cho đến khi đứa trẻ bắt đầu thở một cách tự nhiên
Nếu không có những dấu hiệu tuần hoàn (không có mạch và/hoặc không có dấu hiệu sống), với những dấu hiệu thông máu xấu hay nếu bạn còn do dự, hãy bắt đầu ép ngực.

Những nguyên tắc ép ngực
Các ép ngực (compression thoracique) là những đè ép từng loạt, nhịp nhàng của thành ngực trước, cho phép một lưu lượng máu đến các cơ quan sinh tử nhằm duy trì khả năng sống của chúng cho đến khi trở lại một tuần hoàn tự nhiên. Để những ép ngực được thực hiện một cách có hiệu quả, đứa trẻ phải được đặt trên một mặt phẳng cứng đồng thời giữ đầu trong một tư thế giữ mở đường khí.
Những điểm mốc
Ở nhũ nhi và trẻ em, các ép ngực được thực hiện ở nửa dưới xương ức. Để tránh đè bụng trên, hãy xác định vị trí mũi ức (appendice xiphoide) ở góc tạo bởi những xương sườn cuối cùng và bắt đầu ép ngực 1 khoát ngón tay trên giới hạn này.Mục đích của ép ngực là ấn ngực xuống khoảng 1/3 đường kính trước sau của nó, với một thời gian bằng nhau đối với đè ép và giãn. Tần số phải khoảng 100 lần mỗi phút (thực tế, các ép ngực bị gián đoạn bởi những thở vào và số những ép ngực được phát ra sẽ ít hơn : 60-80 mỗi phút). Ở trẻ sơ sinh, những đè ép hơi nhanh, khoảng 120 lần mỗi phút.
b. ÉP NGỰC Ở NHŨ NHI
+ Kỹ thuật 2 ngón tay (Technique à 2 doigts)
Đó là phương pháp ép ngực được khuyến nghị đối với nhũ nhi nếu người cứu chỉ một mình.
Người cứu đặt hai ngón tay của một bàn tay lên nửa dưới của xương ức.Xương ức được ấn xuống 1/3 đường kính của ngực lúc nghỉ ngơi. Trong giai đoạn giãn và sau mỗi đè ép, người cứu thả đè ép đồng thời vẫn để ngón tay nằm trên ngực. Cuối mỗi loạt 15 đè ép, các ngón tay rời xương ức và đẩy cằm lên để mở đường khí và cho phép thực hiện hai cú thổi vào.
+ Kỹ thuật hai ngón cái và ôm vòng lấy ngực
(Technique à deux pouces avec encerclement du thorax)
Đó là phương pháp được khuyến nghị khi có hai người cứu. Hãy đặt các ngón cái cạnh nhau trên nửa dưới của xương ức (như trên đây). Ở những trẻ rất nhỏ, các ngón cái có thể được đặt lên nhau.
Các bàn tay của người cứu phải được đặt thế nào để ôm vòng lấy ngực và đỡ lưng của đứa bé.Hãy thực hiện những đè ép như được mô tả ở kỹ thuật hai ngón tay được mô tả trên đây.
c. ÉP NGỰC Ở TRẺ EM
Đặt gót của bàn tay trực tiếp lên trục dọc của một nửa dưới của xương ức.Các ngón không được dựa trên ngực để cho chỉ có gót của bàn tay thực hiện một đè ép lên xương ức. Định tư thế hai vai trực tiếp trên ngực của đứa bé và giữ cánh tay duỗi thẳng với cùi tay chẹn lại, đồng thời sử dụng cả trọng lượng cơ thể để đè xương ức xuống 1/3 đường kính của lồng ngực lúc nghỉ ngơi. Trong giai đoạn gian theo sau mỗi đè ép, hãy ngừng đè ép đồng thời giữ gót của bàn tay tại vị trí trên ngực. Cuối 15 ép ngực, hãy cho 2 thổi vào.
Ở những trẻ lớn hay khi người cứu nhỏ, sử dụng hai tay để ép ngực có thể dễ dàng hơn.Phải nhấn mạnh đến chất lượng của ép ngực, các cánh tay duỗi thằng để có được một độ sâu khoảng 1/3 lồng ngực.

Tỷ suất Ép : Thông khí (Compression : Ventilation)
Tỷ suất ép-thông khí là 15 : 2 dầu đứa trẻ bao nhiêu tuổi. Để đơn giản hóa, đối với nhân chứng một mình, được khuyến nghị thực hiện một tỷ suất 30 : 2 như điều đó được thực hành ở người lớn. Nhân viên y tế cũng có thể sử dụng tỷ suất này nếu như một mình, nhất là nếu có những khó khăn khi chuyển giữa những đè ép và thổi vào.
Ở trẻ sơ sinh ngay sau khi sinh, vai trò của thông khí quan trọng hơn và tỷ suất ép : thông khí là 3:1
7 TÁI ĐÁNH GIÁ
Những ép ngực phải hiệu quả để sinh ra một mạch trung tâm trong thời gian hồi sức tim phổi.
Sau 1 phút, hãy ngừng lại trong một thời gian ngắn để tái đánh giá ABC (những dấu hiệu sống) và đảm bảo rằng aide médicale urgente đã được khởi động.
8. GỌI AIDE MEDICALE
Nếu aide médicale urgente đã được gọi, hãy tiếp tục hồi sức tim phổi cơ bản và chỉ dừng nếu có chỉ định.
Tuy nhiên, nếu người cứu chỉ một mình và nếu dường như không có một hỗ trợ nào đến, chính người cứu phải đi tìm sự giúp đỡ. Nếu nạn nhân là một nhũ nhi hay một trẻ nhỏ, người cứu có thể bồng nạn nhân để đi gọi cứu và tiếp tục hồi sức tim phổi. Nếu phương tiện gọi cứu ở xa nơi thực hiện hồi sức tim phổi, người cứu sẽ đến nơi đó đồng thời tiếp tục những thủ thuật hồi sức nếu đứa trẻ đủ nhỏ để có thể được mang đi trên một cánh tay ; trong những trường hợp khác, người cứu phải dừng lại mỗi phút, đặt đứa trẻ xuống đất và thực hiện một phút hồi sức tim phổi trước khi di động trở lại. Nếu đứa trẻ quá lớn không mang được, phải để nó tại chỗ, đi kiếm aide médicale urgente và trở lại càng nhanh càng tốt để tiếp tục hồi sức tim phổi.
Thời gian hồi sức tim phổi
Hồi sức tim phổi không được ngừng trước khi có một trong những điều kiện sau đây :
– Đứa bé có những dấu hiệu hô hấp và tuần hoàn ngẫu nhiên
– Aide médicale urgente đến và đảm trách phần tiếp của hồi sức.
– Người cứu quá mệt không thể tiếp tục được.
Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(16/8/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s