Hồi sinh cao cấp trẻ sơ sinh và nhi đồng, Chương I Phần II – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHƯƠNG I
NHẬN BIẾT TRẺ BỊ BỆNH NẶNG
(RECONNAÎTRE L’ENFANT GRAVEMENT MALADE)

Những Mục Tiêu

Cuối   chương này các bạn hẳn có khả năng :

  •   Mô tả và nhận biết đứa trẻ bị bệnh nặng
  •   Nhận biết và thảo luận chức năng hô hấp bình thường và bất bình thường.
  •   Nhận biết và thảo luận chức năng tuần hoàn bình thường và bất bình thường
  •   Định nghĩa choáng
  •   Biết những ưu tiên điều trị đứa trẻ bị bệnh nặng.

 PHẦN II

VI. CHẨN ĐOÁN SUY TIM-HÔ HẤP
Sự suy tim-hô hấp là kết cục chung của suy tuần hoàn và suy hô hấp. Suy tim-hô hấp đi trước ngừng tim-hô hấp.
1. VẬN CHUYỂN OXY
Sự vận chuyển hay sự phân phát oxy (TO2) đến các tế bào được xác định bởi dung lượng oxy động mạch và lưu lượng tim. Dung lượng oxy động mạch (CaO2) được xác định bởi hémoglobine lưu thông, độ bảo hòa oxy và khả năng Hb nối kết với oxy.

TO2 = CaO2 x DC

TO2   = Vận chuyển oxy (ml/phút)
CaO2  = Dung lượng oxy động mạch (ml/L)
DC =   Lưu lượng (l/phút)

2. DUNG LƯỢNG OXY ĐỘNG MẠCH

CO2   = Hb x 1,34 x SO2

CaO2 = dung lượng oxy động mạch(ml/l)
Hb = nồng độ hémoglobine (g/l)
1,34 = khả năng oxy nối kết với 1g hémoglobine  (ml O2/g Hb)
SO2 = độ bảo hòa oxy của hémoglobine (giữa 0 và 1)

Sự giảm dung lượng oxy của máu và/hoặc của lưu lượng tim dẫn đến sự vận chuyển oxy đến các mô không đủ nếu sự bù bởi tham số kia của TO2 không đủ. Trong suy hô hấp, sự sụt giảm của dung lượng oxy được bù bởi một sự gia tăng của lưu lượng tim. Một sự giảm lưu lượng tim như trong choáng nói chung không được bù bởi một sự gia tăng đủ của CaO2 và do đó được kèm theo tức thời bởi một sự giảm vận chuyển của oxy đến các mô.
Điều quan trọng là đánh giá sự thích đáng của TO2 đối với nhu cầu oxy, nhu cầu này có thể trên giới hạn bình thường (như trong giai đoạn sớm của choáng nhiễm khuẩn).
Trong suy tuần hoàn mất bù (insuffisance circulatoire décompensée), máu ngay cả đuợc cấp oxy tốt vẫn được phân bố quá chậm để có thể đáp ứng với những nhu cầu chuyển hóa của các mô.
Trong suy hô hấp mất bù (insuffisance respiratoire décompensée), máu quá ít oxy được phân bố đến các mô với một lưu lượng bình thường hay gia tăng.
Trong cả hai trường hợp, sự vận chuyển oxy đến các mô không tương ứng với nhu cầu mô và có sự sản xuất acide lactique.
Những dấu hiệu lâm sàng của suy tim hô hấp (défaillance cardiorespiratoire) gồm có : sự biến đổi trạng thái tâm thần, giảm trương lực, các mạch trung tâm yếu và không có mạch ngoại biên. Tim nhịp chậm, hạ huyết áp, thở nhịp chậm, thở ngáp cá (gasp) và các ngừng thở ngắn (apnée) là những dấu hiệu muộn và quan trọng báo hiệu ngừng tim sắp sửa xảy ra.
Nếu những dấu hiệu sau đây hiện diện, một thái độ xử trí tức thời phải được thực hiện :
– thái độ bất bình thường
– hôn mê hay biến đổi tri giác
– kiệt quệ trong trường hợp suy kiệt hô hấp (détresse respiratoire)
– xanh tía
– thở nhip nhanh (Tần số hô hấp >60/phút)
– Tần số tim >180 /phút hay tần số tim <80/phút trước 1 tuổi.

VII. XỬ TRÍ TRẺ BỊ ĐAU NẶNG.
Tùy theo sự đánh giá nhanh của ABC, đứa trẻ có thể được sắp xếp thành ổn định, suy hô hấp hay tuần hoàn bù (insuffisance respiratoire ou circulatoire compensée), suy hô hấp hay tuần hoàn mất bù (insuffisance respiratoire ou circulatoire décompensée), suy tim hô hấp (insuffisance cardiorespiratoire).
Trong trường hợp nghi suy hô hấp hay tuần hoàn mà lâm sàng không thể xác nhận, ta sẽ nhờ đến những thảm khám phụ, nhưng những thăm khám này không bao giờ được làm chậm điều trị và sự ổn định bệnh nhân.
Cần thiết đánh giá lại một cách đều đặn bệnh nhân khi có một biến đổi điều trị.
1. SUY HÔ HẤP BÙ (insuffisance respiratoire compensée)
Một đứa bé căng thẳng sẽ làm gia tăng những nhu cầu oxy của nó. Vậy phải tiếp xúc với nó một cách nhẹ nhàng nhưng không vì thế mà mất thời gian. Oxy sẽ được cho một cách được dung nạp tốt nhất đối với đứa bé. Một đường tĩnh mạch sẽ được đặt (đặc biệt trong suy tuần hoàn) đồng thời ưu tiên những phương pháp không gây đau. Một monitorage không xâm nhập (oxymétrie de pouls) phải đuợc thiết đặt và những tham số sinh tử của đứa bé phải được ghi nhận đều đặn.epls 2 A2. TẮC ĐƯỜNG DẪN KHÍ
Nói chung đứa bé giữ tư thế đảm bảo cho nó sự mở tốt nhất của đường khí. Phải tôn trọng tư thế này và đừng phân cách đứa bé khỏi bố mẹ. Bố mẹ có thể hợp tác để cho oxy. Ta chú ý ngừng cho ăn và điều trị sốt nhằm làm giảm nhu cầu chuyển hóa.
3.SUY HÔ HẤP MẤT BÙ
Giai đoạn đầu tiên là kiểm soát và mở đường khí. Sau đó ta cho oxy với lưu lượng cao nhất có thể được. Thông khí lúc đầu phải được kiểm soát với một mặt nạ và một quả bóng đồng thời thực hiện sau đó một nội thông khí quản nếu cần.
4. SUY TUẦN HOÀN MẤT BÙ
Sau khi xử trí đường dẫn khí và thông khí, ta thiết lập tức thời một đường tĩnh mạch để cho phép làm đầy thể tích (một cách thận trọng trong suy tim) và các thuốc vận mạch và các inotrope. Oxy phải được cho với lưu lượng cao nhất có thể được.
5. SUY TIM HÔ HẤP
Các dấu hiệu bao gồm biến đổi tri giác, giảm trương lực, tim nhịp nhanh, giảm mạch trung ương, không có mạch xa. Tim nhịp chậm, thở nhịp chậm, thở ngáp cá (gasp), những đợt ngừng thở ngắn là những biến cố tận cùng đi trước ngừng tim hô hấp.

Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(5/8/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s