Thời sự y học số 317 – BS Nguyễn Văn Thịnh

tsyh317CHUYÊN ĐỀ VỀ NÃO BỘ

1/ CHÚNG TA CÓ BAO NHIÊU GIÁC QUAN ?
Chúng ta không chỉ thấy, cảm thấy, sờ mó, nếm và nghe. Chúng ta cũng nhận thức trọng lực, tư thế của các chi của chúng ta và ngay cả thời gian trôi qua.
Đối với câu hỏi nhan đề của bài nầy tất cả chúng ta trả lời một cách ngẫu nhiên : “Dĩ nhiên là năm ! ” Và ta kể khứu giác, thính giac, thị giác, xúc giác và vị giác. Nói về giác quan thứ sáu, đó là paranormal, như nhiều tác phẩm khoa học viễn tưởng đã nhắc lại điều đó.

Tuy vậy các neurophysiologue và psychologue không nhất trí con số năm này. Đối với họ, con người đúng là có một giác quan thứ sáu, và ngay cả một giác quan thứ bẩy, thứ tám, thậm chí còn những giác quan khác nữa. Trong số những giác quan bổ sung này, ta tìm thấy giác quan của sự cân bằng (le sens de l’ équilibre) ; của cảm thụ bản thể (proprioception), báo cho chúng ta biết vị trí của các chi của cơ thể của chúng ta ; hay lại nữa le sens de l’effort. Vậy nhưng luận cứ nào cho phép thách thức lệ thường (sens commun) như thế ?
Ý tưởng cho rằng chúng ta có 5 giác quan đến với chúng ta từ Aristote. Đối với triết gia Hy lạp này của thế kỷ thứ IV trước công nguyên, một giác quan cần một vật xác định (thí dụ một màu sắc) và một cơ quan đặc thù có khả năng nhận thấy điều đó (ở đây là thị giác). Trong chuyên luận ” De l’ âme “, ông phủ nhật một cách dứt khoát rằng có hơn 5 giác quan và xác nhận rằng với 5 giác quan này, chúng ta có thể nhận thức tất cả các đồ vật ” sensible ” hiện hữu trong môi trường của chúng ta. ” Không có gì trong trí tuệ của chúng ta mà không đi qua các giác quan của chúng ta”, ông nói thêm như vậy trong La Métaphysique.
TRADUCTION D’INFORMATION
Ngày nay, một định nghĩa khác được sự nhất trí hơn : một giác quan là một phương thức nhờ đó một kích thích của môi trường (màu sắc, hình dáng, âm thanh, nhiệt độ…) được nhận thức bởi một cơ quan giác quan (organe sensoriel), được biến hóa và được dẫn truyền dưới dạng luồng thần kinh (influx nerveux) về não bộ, ở đây nó được lý giải. Như thế, đôi mắt của chúng ta, mà võng mạc gồm có những quang thụ thể (photorécepteur) (những tế bào gậy và những tế bào nón), phát hiện độ dài sóng của ánh sáng ; đôi tai của chúng ta, có khoảng 14.000 tế bào tiêm mao, nhận thức tần số của những dao động (vibration) của không khí. Sau đó, não bộ diễn dịch những thông tin này thành những điều mà chúng ta gọi là những màu sắc hay những âm thanh.
TAI TRONG
Ngoài ra, các nhà tâm lý học và các nhà sinh lý học đã dần dần khám phá những cơ quan giác quan (organe sensoriel) khác. Như, vào thế kỷ thứ XVI, người Ý Gabriel Fallope lần đầu tiên đã mô tả hoàn chỉnh cơ thể học của tai trong. Rồi vào thế kỷ XIX, thầy thuốc và nhà sinh học người Pháp Pierre Jean-Marie Flourens đã đưa ra lý thuyết rằng hệ tiền đình (système vestibulaire), nằm ở tai trong, có liên quan đến tình trạng cân bằng của chúng ta. Sau cùng, nhà vật lý người Đức Ernst Mach, vào năm 187, lần đầu tiên đã mô tả một cách chính xác hình học của bộ máy tiền đình.
” Bộ máy tiền đình (appareil vestibulaire) được cấu tạo bởi 5 gia tốc kế (accéléromètre) : 3 ống bán khuyên (canal semi-circulaire) nhằm phát hiện những gia tốc góc (accélération angulaire), cũng như utricule và saccule, để phát hiện những gia tốc thẳng (accélération linéaire), Pierre-Paul Vidal, thuộc Centre d’étude de la sensorimotricité (Paris) đã xác nhận như vậy. Cơ quan này phát hiện chuyển động của đầu trong không gian, nó cho phép chúng ta giữ vững cái nhìn của chúng ta, tư thế của chúng ta và cho một nhận thức về chuyển động của mình.” Máy tiền đình được nối với những thụ thể đặc hiệu sinh ra những thông điệp thần kinh (message nerveux), được lý giải bởi nhiều vùng xác định của não bộ, cùng với những thông tin phát xuất từ những giác quan khác : thị giác và cảm thụ bản thể (proprioception). Sự loạn năng của nó (khi bị mal de transport hay nhiễm độc rượu cấp tính) dẫn đến những hiện tượng chóng mặt và nôn mửa. Mặc dầu ít được ý thức và ta không thể làm dừng nó lại, trái với 5 giác quan khác, đối với Pierre-Paul Vidal, không nghi ngờ gì nữa, giác quan cân bằng đúng là có cũng tính chất : ” Không phải có 5 giác quan mà là sáu ”
Tuy nhiên danh sách không dừng lại ở đó. Chúng ta cũng có nhiều thụ thể cho phép chúng ta phân biệt sự kéo giãn của da và các cơ của chúng ta.” Những thụ thể nằm trong các cơ, các dây gân (dây nối giữa các xương và các cơ) và các khớp cho phép não bộ xác định hình dáng tư thế (configuration posturale) của chúng ta, Fabrice Sarlegna, thuộc viện khoa học về vận động, ở Marseille, đă giải thích như vậy. Như vậy, nhờ những capteur d’étirement được nối với những vỏ não thân thể-giác quan (cortex somato-sensoriel) nguyên phát và thứ phát, một người mù hay một người có đôi mắt nhắm lại, có thể đưa ngón tay trỏ lên mũi, và biết một trong các chi đang duỗi hay gấp.”
Ta nhận thức tầm quan trọng của cảm nhận bản thể (proprioception) khi nó biến mất. Những người (may mắn thay là hiếm), đã mất nó sau một nhiễm trùng bởi virus phá hủy những sợi thần kinh đi lên não bộ, từng trải qua kinh nghiệm đắng cay này. Họ cảm thấy rất khó đứng vững mà không bị té ngã, điều này chắc chắn xảy ra nếu, ngoài ra, họ nhắm mắt lại. Họ cũng thấy khó bước, nắm giữ một chiếc ly, và cầm máy điện thoại.
KINH NGHIỆM NHIỀU GIÁC QUAN
Giác quan khác, ngay năm 1805 được nhà triết học người Pháp Pierre Maine de Brian đặt tên, nhưng sự hiện hữu của nó đã chỉ được xác nhận vào thế kỷ XX : le sens de l’effort (giác quan của sự gắng sức). Thí dụ nó cho phép chúng ta lấy một tách cà phê và mang lên miệng mà không làm tóe nước vào chúng ta ! Những giác quan này không chỉ đi kèm cử động của thân thể. Nó cũng cho phép có một ý thức về bản ngã. Không có nó, thí dụ trong vài trường hợp rối loạn thần kinh hay tâm thần học, bệnh nhân cảm thấy một hội chứng được gọi là ” bàn tay vô chính phủ ” (syndrome de la main anarchique) : một trong những bàn tay thực hiện những động tác chính xác mà người chủ không nhận thức.
Tri giác thời gian (perception du temps) cũng là một giác quan đối với vài nhà nghiên cứu. Những người khác có thêm cảm giác đói và khát vào danh sách này, dường như khó kết thúc hôm nay.
Vả lại sự kết thúc này càng quan trọng khi Aristote lầm một điểm căn bản khác về lý thuyết giác quan của ông. Trái với điều mà ông hằng tưởng, quá trình giác quan (processus sensoriel) không ” hợp nhất ” (unitaire) cũng không ” riêng biệt ” (séparé). Nói một cách khác, các giác quan tương tác với nhau một cách thường trực.
Thật vậy, cac nhà khoa học thần kinh và các nhà tâm lý học từ nay công nhận rằng tri giác về cơ bản là một kinh nghiệm nhiều giác quan (une expérience multisensorielle). Thí dụ, ở một nơi ồn ào, sự việc nhìn thấy người đối thoại giúp nghe được anh ta nói.. Và khi chúng ta ăn, chúng ta thật khó tách vị giác và khứu giác.
Nhiều thí nghiệm tiết lộ sự hợp nhất (interconnexion) của các giác quan, nhất là những giác quan tạo nên những ảo ảnh giác quan (illusion sensorielle). Một trong những thí nghiệm nổi tiếng đã được thực hiện năm 1976 bởi những người Anh Harry McGurk và John MacDonald. Để chứng tỏ rằng thính giác và thị giác có thể giao thoa nhau khi tri giác lời nói, họ đã cho những người tình nguyện nghe âm vị (phonème) “ba” đồng thời cho những người tình nguyện thấy những cử động môi nói âm vị “ga”. Kết quả : những người này trả lời rằng họ đã nghe âm vị “da”.
“Những âm vị “ba”, “da” và “ga” thuộc về một chuỗi liên tục vật lý (continuum physique), vì vậy “ba” và “da” khá gần nhau, và do đó có thể bị lẫn lộn, và cũng vậy đối với cặp “da” và “ga”. Khi âm thanh là “ba” và thông tin thị giác của môi là “ga”, như thế não bộ của chúng ta chọn option khả dĩ nhất là ở giữa hai thông tin này”, Pascal Mamassian, thuộc đại học Paris -Descartes đã giải thích như vậy.
Thí nghiệm đã được lặp lại năm 1997 bởi một kíp người Anh khác, đã phát hiện những tương tác não bộ giữa các circuit của thị giác và những circuit của thính giác, nhờ chụp hình ảnh bằng cộng hưởng điện từ chức năng (résonance magnétique fonctionnelle).
Ngoài ra, những công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng một khu vực cảm giác (aire sensitive) có thể xâm chiếm một khu vực cảm giác ít được khai phá hay liên kết với một cơ quan cảm giác (organe sensitif) bị hỏng. Nói một cách khác, não bộ có thể tái tổ chức khi một giác quan bị khuyết tật. Thật vậy, người ta đã chứng minh rằng những người mù có những năng lực thính giác hơn những người thấy. Cũng vậy, những người điếc có một thị giác phát triển hơn những người nghe rõ.tsyh317 1KHU VỰC NÃO BỊ XÂM CHIẾM
Việc thu được độ nhạy (acuité) này không chỉ do một hoạt động lớn hơn của khu vực não chuyên trách giác quan chức năng, mà còn do một sự xâm chiếm của khu vực dành cho cơ quan khiếm khuyết bởi khu vực não này. Tuy nhiên sự huy động này, thí dụ của khu vực thị giác bởi khu vực thính giác, chỉ có thể xảy ra vào lúc đầu của sự phát triển, trong những năm đầu của cuộc đời. Chính vì thế, hiện tượng này không được nhận thấy hay ít được quan sát khi chứng mù xuất hiện sau 10 tuổi.
” Đó là khái niệm ” vicariance perceptive ” : thí dụ ở một đứa trẻ sinh ra bị điếc, những vùng não thính giác, vì thiếu những thông tin âm thanh, được tái tổ chức về mặt cơ năng nếu nó không nghe gì hết trước 2 tuổi, Catherine Semal, thuộc institut de neurosciences cognitives et intégratives của Aquitaine (Bordeaux) đã xác nhận như vậy. Do đó, tầm quan trọng chẩn đoán và điều trị chứng điếc sớm để giữ những vùng não hoạt động để chúng bảo tồn những chức năng ban đầu của chúng. ” Một cách tổng quát hơn, điều đó nhấn mạnh tầm quan trọng của sự kích thích tất cả những tri giác giác quan (perceptions sensorielles) của những đứa bé, để cho phép chúng hiểu rõ hơn thế giới bao quanh chúng và cho phép tương tác với thế giới này qua trung gian một hoạt động tối đa của các giác quan của chúng.
(LA RECHERCHE 7-8/2013)

2/ KHI NÀO NÃO BỘ NGỪNG TĂNG TRƯỞNG ?
Cũng như tất cả các cơ quan, não cũng lớn lên ! Ở trẻ sơ sinh, não nặng khoảng 400 g, và ở người lớn gần như 4 lần lớn hơn. Tuy vậy, 90 tỉ tế bào thần kinh tất cả hầu như đã có mặt vào lúc sinh. Nếu não bộ “mọc”, đó là bởi vì các neurone sẽ to ra, những dây liên lạc giữa chúng (các sợi trục và sợi nhánh) dài ra và dày lên, những điểm tiếp xúc của chúng (những synapse) tăng sinh lên. Trước khi được thực hiện một quá trình chọn lọc chậm, tương tự như người kiểm lâm (garde forrestier) chỉ giữ những cây tốt nhất từ một khu rừng mới được trồng cây. Quá trình xây dựng và chọn lọc này được kích thích bởi kinh nghiệm của em bé, rồi của đứa trẻ. Như thế, vào khoảng 3 tuổi, não bộ hoàn toàn được cấu thành (tất cả các vùng của não người trưởng thành đều hiện diện, toàn bộ các synapse được tạo thành), nhưng sự phát triển của não bộ không chấm dứt. Chỉ vào khoảng năm 10-15 tuổi, khi đó những vùng thị giác (ở phía sau não bộ) và thân thể-giác quan (somatosensorielle) (ở giữa) mới trở nên thành thục : vài nối kết (connexions) ” vô ích” đã được tỉa bớt, những nối kết hữu ích nhất được tăng cường. Và phải đợi đến năm 20 tuổi vỏ não trán (cortex frontal) mới hoàn thành sự phát triển của nó. Có nhiệm vụ điều hợp (intégration) những thông tin phức tạp (những lý luận, những quyết định), vùng thiết yếu này (cortex frontal) là vùng cuối cùng kết thúc quá trình thành thục, báo hiệu sự đi vào tuổi trưởng thành…não bộ
(SCIENCE&VIE, QUESTIONS et REPONSES)

3/ SỰ THỨC DẬY CỦA NHẬN THỨC
Em bé nhận thức thế giới một cách rất tinh tế nhiều tháng trước khi sinh. Nó lý luận bằng cách nào từ những thông tin này ? Những thí nghiệm mới đây cho phép đo lường những năng lực của nó.
Làm sao em bé nhận thức môi trường của mình ? Và làm sao, phát xuất từ những thông tin này, nó xây dựng thực tại (le réel), theo từ ngữ của Jean Piaget, thuộc đại học Genève ? Thật vậy, ngoài sự nhận thức đơn thuần thế giới, đứa trẻ nhỏ phải sử dụng những công cụ nhận thức (outil cognitif) để học cách tư duy và nhớ một cách mạch lạc thế giới được nhận thấy : thực hiện những thao tác sắp xếp theo phạm trù (catégorisation) (để xác định những tính chất của các đồ vật), đếm (dénombrement) (lượng các đồ vật) và lý luận (inférer, déduire…).
Những năng lực mới chớm nở này được thăm dò bởi các nhà tâm lý học. Từ vài năm nay họ không ngừng phát hiện tầm của những khả năng của các em bé. Thí dụ những khám phá mới đây của sciences cognitives đã cho thấy rằng rất sớm, ngay cả trước khi xuất hiện ngôn ngữ (hoặc trước hai tuổi), các em bé làm những thống kê để hiểu và dự kiến những biến cố mà chúng nhận thức.
Nhưng trước khi có những năng lực này, những vị giác, khứu giác và những âm thanh đã làm sôi nổi cuộc sống của thai nhi ! 3 tháng sau khi thụ tinh và trong khi mới đo được khoảng 10 cm, thai nhi, trong bụng mẹ, bắt đầu khám phá những vị và những mùi xuyên qua nước ối mà nó nuốt vào qua miệng, nó nuốt vào một phần và thổi ra quả mũi. Một bản đồ nhận thức (une carte perceptive) về các vị và mùi, có lẽ liên kết với những cảm xúc đầu tiên, như thế được thiết đặt trong não bộ đang được xây dựng. Bản đồ tiền sinh này sẽ hướng định những sự ưa thích hơn (préférences) sau sinh đưa đứa bé. Đó là bình minh của các giác quan. Cũng vậy đối với những âm thanh. Ta biết rằng các thai nhi nhận thức một phần và ghi nhớ những giọng nói quen thuộc và âm nhạc. Về thị giác, nó chỉ thật sự được ” hiệu chính” sau khi sinh, khi mở mắt nhìn thế giới của các đồ vật trong 3 chiều không gian. Qua nhiều tháng cái nhìn của em bé sẽ đạt được độ nhạy.Nhưng trước khi sinh, vốn đã nhạy cảm với những bóng và những sắc thái trong ánh sáng mạnh, hệ thị giác của thai nhi, như những hệ giác quan và tri giác khác đã được chuẩn bị.
NHỮNG NĂNG LỰC CỦA CÁC TRẺ SINH NON.
Trong lãnh vực nghiên cứu về những giai đoạn đầu hết của đời sống, những khám phá khoa học mới đây đã hướng về sự quan sát những năng lực của các trẻ sinh non, những em bé này được sinh ra hơi hay quá sớm và ngày nay nhận được những săn sóc tốt nhất trong các service de néonatologie. Sự quan sát các trẻ sinh non mang lại cho các nhà tâm lý học đi đến bên giường bệnh một cửa sổ thời gian (une fenetre temporelle) đặc biệt để đo lường những cơ chế tri giác (mécanisme perceptif) qua đó thế giới đến với các em bé. Chính như thế mà hai thí nghiệm mới đây đã cho thấy rằng thế giới các hình dáng và các âm thanh đến rất sớm trong tâm trí của các em bé và rằng não bộ của chúng, mặc dầu chưa hoàn thành, đã làm việc một cách tinh vi và tinh tế.tsyh317 2Edouard Gentaz, thuộc CNRS (Grenoble) và những cộng sự viên của ông đã nghiên cứu làm thế nào hai tháng trước khi sinh đủ tháng, nghĩa là 7 tháng thai nghén, các em bé đã có khả năng học nhận biết những hình hình học (formes géométriques) bằng xúc giác. Trong công trình nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một phương pháp thí nghiệm đơn giản dựa trên một nguyên tắc phổ biến : sự thờ ơ dần dần mà chúng ta thể hiện đối với một vật quen thuộc và sự chú ý trở lại mà chúng ta biểu lộ đối với một vật mới.
Các nhà tâm lý học trước hết đã đặt trong mỗi bàn tay của mỗi em bé một vật nhỏ hình lăng kính hay hình trụ. Ngay khi em bé thả vật được đặt, các nhà tâm lý đặt nó lại vào bàn tay của em bé và đo thời gian trong đó em bé giữ vật này. Như thế họ đã quan sát rằng qua các thử nghiệm em bé giữ vật càng lúc càng ít lâu hơn.
Sau đó để kiểm chứng rằng điều đó không phải là do mệt, họ đã đưa cho một nửa các em bé một vật có hình dạng khác, và cho một nửa kia cùng vật ấy. Kết quả : những em bé được cho vật mới đã giữ nó lâu hơn vật mà chúng đã biết. Ngược lại, thời gian cầm của những em bé khác đã không gia tăng.
Điều đó chứng tỏ rằng, với những bàn tay của chúng, những em bé sinh non này biết phân biệt hai vật có những hình dạng khác nhau. Đó không phải là những phản xạ đơn giản, nhưng là một sự học tập (apprentissage) do sự quen mất (habituation) và phản ứng với cái mới. Sau đó những hiệu năng của những em bé sinh non này đã được so sánh với những hiệu năng của những em bé sinh đủ tháng. Thế mà thủ năng (aptitude manuelle) của chúng đều tương tự nhau, dầu đó là với tay phải hay tay trái. Khác nhau duy nhất : các trẻ sinh non không quan tâm đến vật nhanh hơn, có lẽ đó mệt mỏi của quá trình nhận thức (fatigue cognitive) vì tình trạng của sinh non của chúng.
Đối với kinh nghiệm thăm dò bằng xúc giác này, các vùng giác quan vận động (région sensorimotrice) cũng đủ, trong trường hợp này là những vùng liên kết với sự phân biệt bằng xúc giác. Ta biết rằng những vùng này là những vùng đầu tiên đạt đến sự thuần thục, trước cả những vùng trước trán (région préfrontale), liên kết với sự kiểm soát nhận thức phức tạp. Công trình nghiên cứu này cho thấy rằng những vùng giác quan vận động này đã hoạt động vào tháng thứ bảy của thai kỳ. Ở những trẻ sinh non sinh hai tháng trước hạn kỳ, những cơ sở nhận thức thần kinh (fondements neurocognitifs) của sự phân loại những hình dáng, thậm chí của hình học, như thế đang được xây dựng. Một khám phá quý giá cho những người chuyên nghiệp khoa sơ sinh (néonatologie) : họ có thể lập lại một cách dễ dàng loại bài tập học tích cực này để đánh thức trí thông minh của những em bé này, với điều kiện không làm cho chúng quá mệt.
MẠNG NGÔN NGỮ.
Kíp nghiên cứu của Viên y tế và nghiên cứu y học quốc gia của Ghislaine Dehaene ở NeuroSpin gần Paris, đã thành công thấy được hoạt động não của những em bé sinh non, từ hai đến một tháng trước hạn kỳ sinh đẻ, lúc thực hiện một công tác phân biệt bằng thính giác những âm tiết (syllabe). Để thực hiện điều đó, các nhà nghiên cứu đã sử dụng ở tại giường của các trẻ sinh non một trang bị spectroscopie, cho phép quan sát hoạt động não của những trẻ em rất nhỏ tuổi trong những khung cảnh tự nhiên. Mặc dầu não bộ không hẳn đã chín mùi ở lứa tuổi này, nhưng những kết quả đã phát hiện ở trẻ sinh non, sự kích hoạt của một vòng của vỏ não (un circuit du cortex), tương tự với mạng ngôn ngữ (réseau du langage) của người trưởng thành, với một sự chuyên môn hóa đã được thiết đặt ở bán cầu não trái.
Nhờ mạng neurone này, những em bé này, kể cả những trẻ sinh non rất nhỏ (29 tuần thai nghén), có khả năng phân biệt một cách tinh tế những thay đổi âm vị (phonème) (ba hay ga) và giọng nói người (một giọng nói nam hay nữ). Trên thực tế, những biến thiên của những kích thích này đã có thể tương quan với hoạt động của những vùng não dưới nằm ở phía trước của não bộ của chúng. Sau cùng, những kết quả của công trình nghiên cứu này cho thấy rằng hai loại thay đổi này (các âm vị và loại giọng nói) huy động những vùng trán phái, trong khi chỉ vỏ não trán trái được kích loại một cách đặc hiệu đối với sự phân biệt các âm vị.
Điểm cuối này xác nhận rằng một sự chuyên môn hóa về phía trái đối với sự tri giác những kích thích ngôn ngữ (stimuli linguistique) trong não bộ con người được thiết đặt vô cùng sớm. Kết quả đáng chú ý của công trình nghiên cứu này cũng là phần trán của não bộ của em bé đã làm việc để phân loại (catégoriser) một cách chọn lọc những thông tin của thế giới âm thanh. Một sự ngạc nhiên bất ngờ. Bởi vì cho mãi đến nay ta hằng tưởng rằng phần trước này của não bộ chỉ đi vào hoạt động chậm hơn nhiều trong quá trình phát triển nhận thức của đứa bé.
Từ nhiêu thập niên nay, các nhà tâm lý học về em bé đã chứng minh, về mặt hành vi (comportemental), rằng trong suốt năm đầu của đời sống, các nhũ nhi thông minh hơn nhiều điều mà Piaget đã tưởng tượng. Ngay trước khi xuất hiện ngôn ngữ cấu âm (langage articulé) (vào khoảng 2 tuổi), ngày nay, công trình nghiên cứu về những phản ứng thị giác của những em bé đã xác lập rằng chúng hiểu rất sớm những nguyên tắc cơ bản về tính đơn nhất (unité) và tính thường xuyên (permanence) của các vật, về số, cũng như quan hệ nhân quả vật lý và tâm thần. Trong sự kế tục của những khám phá này, mới đây đã xuất hiện một trào lưu mới cho rằng em bé là một nhà khoa học bé nhỏ thật sự, thực hiện những thống kê để hiểu và dự kiến những biến cố mà nó nhận thức. Vậy qua những thống kê mà thế giới đến với em bé !
NĂNG LỰC TRỪU TƯỢNG HÓA.
Chính nhà tâm lý học nữ người Mỹ Alison Gopnik, thuộc đại học Californie (Berkeley) là chef de file chính của trào lưu nghiên cứu mới này. Theo bà, các em bé và những trẻ nhỏ là những nhà thống kê (statisticien), nói một cách khác là những nhà tư tưởng nhỏ, đã tưởng tượng những cấu trúc trừu trượng từ những dữ kiện tri giác của môi trường chung quanh chúng. Như thế các em bé phát hiện những motif statistique (năng lực dự kiến một biến cố có thể đoán trước) và sử dụng chúng để trắc nghiệm những giả thuyết, nghĩa là những mong chờ khá chính xác mà chúng có về những đồ vật và người.
Thí dụ, lúc sử dụng một kỹ thuật dựa trên những phản ứng thị giác, Fei Xu, thuộc đại học Colombie-Britanniques (Vancouver), đã cho thấy rằng những em bé 8 tháng nhạy cảm với những motif statistique trong một thí nghiệm với những trái banh pinpong. Nhà thí nghiệm cho các em bé thấy một hộp lớn chứa đầy những trái banh trắng và đỏ. Sau đó, bà nhắm mắt lại và lấy một cách tình cờ vài trái banh từ trong hộp và đặt chúng vào trong một hộp khác, nằm bên cạnh (xem hình). Mặc dầu số những trái banh lấy ra thật sự là do tình cờ, nhưng sự phân bố của các trái banh này trong hộp nhỏ phải tương ứng với sự phân bố trong hộp lớn.tsyh317 3Sau rút thăm, các em bé thấy một số các trái banh trong hộp nhỏ, tùy theo những điều kiện thí nghiệm, hoặc là tương ứng với sự phân phối xác suất (distribution probabiliste) (biến cố thống kê được dự kiến), hoặc không tương ứng (biến cố không được trông chờ). Kết quả : khi biến cố tri giác (événement perceptif) không tương ứng với xác suất (probabilités : khả năng xảy ra), các em bé ngạc nhiên và nhìn cảnh tượng lâu hơn. Vậy chúng nhận thức sự sai lầm và phát hiện sự vi phạm motif statistique. Trong một thí nghiệm kiểm tra, các em bé thấy một cách chính xác cùng chuỗi những hành động nhưng nhà thí nghiệm rút những trái banh từ túi quần của bà chứ không phải từ chiếc hộp lớn. Trong trường hợp này, không có một phản ứng ngạc nhiên nào đã xảy ra.
Một nhóm các nhà nghiên cứu khác, trong đó Vitorrio Girotto, thuộc CNRS của đại học Aix-Marseille, cũng đã xác nhận rằng ngay 12 tháng các em bé có những năng lực suy luận xác suất (raisonnemnt probabiliste) gây ngạc nhiên khi tri giác những hình thể phức tạp của những vật đang chuyển động. Lại còn những công trình nghiên cứu khác, được tiến hành theo cùng tinh thần, đã phát hiện rằng các em bé đã dùng những motif statistique để trắc nghiệm những giả thuyết về những série các hình ảnh, các câu nói… Vậy đúng là có những nhà thống kê bé nhỏ thật sự ẩn dấu trong các chiếc nôi ! Và chính nhờ cái não bộ “proto-mathématique” (bề ngoài có vẻ thụ động nhưng rất tích cực và sáng suốt) mà thế giới đến với các em bé.
CHỈ DÂU CỦA Ý THỨC
Sự sáng suốt ? Vâng. Thật vậy, Sid Kouider, thuộc CNRS và của Trường cao đẳng sư phạm Paris, với kíp của Ghislaine Dehane, vừa cho thấy rằng em bé có ngay lúc 5 tháng một tri giác (conscience perceptive) gần với tri giác của người lớn : thật vậy nó có một chỉ dấu điện sinh lý (marqueur électrophysiologique) của tri thức tương tự với chúng ta. Như người lớn, và ngay cả trước khi có thể diễn đạt bằng lời nói, não bộ của nó đáp ứng trong hai thì sự tri giác của một biến cố bên ngoài.
Trong thì đầu, nó xử lý những thông tin một cách không có ý thức, điều này được đặc trưng bởi một hoạt động neurone thẳng tỷ lệ với khoảng thời gian xuất hiện của sự cố. Rồi trong thì hai, đáp ứng neurone không còn theo đường thẳng nữa, tín hiệu cho biết rằng ngưỡng tri thức (seuil de la conscience) được vượt qua. Giai đoạn thứ hai này đạt được trong khoảng 300 mili giây ở người trưởng thành, so với 900 mili giây ở em bé 5 tháng, và 750 mili giây ở em bé 15 tháng. Chứng minh một hiện tượng như thế ở những em bé chưa biết nói quả là một thách thức khoa học. Các nhà nghiên cứu đã thực hiện điều đó bằng cách đưa cho các em bé những hình ảnh của các gương mặt được thấy rõ ít hay nhiều. Sự tiếp cận ý thức những hình ảnh này đã được đo một cách gián tiếp bởi technique des potentiels évoqués cérébraux.
NHỮNG SAI LẦM SUY DIỄN
Tuy nhiên có một nghịch lý. Nếu, như ta vừa thấy, não bộ của các trẻ sinh non đã sẵn sàng, trước khi đủ tháng, làm việc một cách nhanh chóng và sau đó, ngay năm đầu của đời sống, các em bé tri giác thế giới một cách sáng suốt, thông minh và khoa học, thế thì tại sao các em bé lớn hơn ở nhà trường và ngay cả những người lớn lại phạm những sai lầm về suy luận logic ? Như Piaget đã xác định rõ điều đó ở những trẻ em trước tuổi học đường và học đường và sau ông, Daniel Kahneman, giải Nobel, thuộc đại học Princeton, ở người lớn, não bộ của chúng ta thường suy luận lệch lạc, tuân theo những trực giác tri giác (intuition perceptive) hơn là những quy tắc logic và toán học trừu tượng.
Giải thích nghịch lý của những năng lực sớm và những thiếu khả năng muộn là công tác chính của tâm lý học về phát triển nhận thực hiện nay. Một trong những cách lấy đi cái nghịch lý này là cho rằng não bộ người, nhất là phần trước trán của nó, còn phải học ức chế, tùy theo từng trường hợp, suốt trong thời thơ ấu và ngay cả ở tuổi trưởng thành, vài tính tự động tri giác (automatisme perceptif) thụ đắc khá sớm. Do đó, mặc dầu thế giới tri giác (monde perceptif) được áp đặt cho tất cả chúng ta rất sớm trong giai đoạn phát triển, cũng phải học chống lại nó để suy luận được tốt. Và điều đó không phải là hiển nhiên.
(LA RECHERCHE 7-8/2013)

4/ KHI NÀO NÃO ĐƯỢC SỬA CHỮA ?
Những tế bào của da của chúng ta có khả năng của một bộ máy tài tình và vô cùng hiệu quả : một vết đứt nhỏ, và thế là những tế bào da được tái tạo để lấp đầy vết thương ! Những tế bào não, mặc dầu vô cùng phức tạp, bất hạnh thay lại không có năng lực tái sinh này.Trong trường bị thương tổn não, bị gây nên bởi một va chạm trên đầu, một bệnh thoái hóa thần kinh (maladie neurodégénérative) (như bệnh Parkinson hay Alzheimer), hay một tai biến mạch máu não, những tế bào thần kinh thương tổn bị phá hủy, nhưng không được thay thế. Một mô sẹo có thể lấp lỗ hổng, nhưng chỉ có thế. Vì vậy, sau đó có thể bị những rối loạn thần kinh, bại liệt… Những bệnh càng gây vấn đề khi cho đến nay không có một điều trị hiệu quả nào.
THAY THẾ NHỮNG TẾ BÀO THẦN KINH BỊ PHÁ HỦY.
Ngoại trừ…Sự tiến hóa đã đặt cuộc, đối với não bộ, không phải vào sự thay thế đột ngột những neurone biến mất, mà vào sự tái triển khai những nối kết thần kinh (connexions). Trăm tỷ neurone mà não bộ người chứa là một kho dự trữ đủ quan trọng để một phần trong số những neurone này có thể đảm nhiệm, ít nhất một phần, công việc mà những neurone bị mất thực hiện. Có thể nói đó là một recablage cấp cứu. Và ” tính dẻo của não bộ ” (plasticité cérébrale) được thực hiện rất nhanh. Thật vậy, năm nay, các nhà nghiên cứu của Zurich đã cho thấy rằng chỉ cần khoảng 15 ngày cũng đủ để những người thuận tay phải bị gãy xương cánh tay phải, cải thiện năng lực của cánh tay trái và để cho cấu trúc não liên kết (vỏ não vận động) tiến hóa. Bề dày của chất xám của bán cầu não phải (bán cầu não chỉ huy phía trái) như thế đã tăng 3mm ! Trong khi đó trong bán cầu não trái, những vùng neurone khác đã giảm thể tích. Một sự sắp xếp lại có hiệu quả đến độ các thầy thuốc xét đến việc thay đổi những mục tiêu và nhịp độ của những buổi phục hồi chức năng được dự kiến trong những tình huống như thế. Mặc dầu sự ” tái triển khai chiến lược ” (redéploiement stratégique) của các nối kết neurone là một đáp trả có hiệu quả đối với những thiệt hại trong não bộ, nhưng từ 10 năm nay các nhà nghiên cứu hy vọng sửa chữa được não bộ bằng cách thay thế một cách trực tiếp những neurone bị phá hủy. Đó là cái tế bào gốc thần kinh (cellules souches neurales), ẩn náu trong lòng não bộ, có năng lực tăng sinh và biệt hóa thành những neurone..mặc dầu không có một thương tổn nào (trong một mục đích còn chưa được biết rõ). Vậy ý tưởng là buộc những tế bào này biến đổi thành những neurone, và buộc chúng thay thế nhưng tế bào bị mất, bằng cách hướng chúng một cách nhân tạo về phía những vùng bị thương tổn.
(SCIENCE ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

5/ CÁC EM BÉ THẤY THẾ GIỚI BAO QUANH CHÚNG NHƯ THẾ NÀO ?
Cảnh tượng của một em bé nhìn chằm chằm trong nhiều phút vật chuyển động được lay động trên nôi luôn luôn gây tò mò. Một cách chính xác, nó thấy được gì ? Cái gì đã giữ sự chú ý của nó như thế ? Tại sao ? Một điều chắc chắn : nếu trong những tháng đầu tiên thị giác của em bé vẫn chỉ phỏng chừng, vì lẽ một phần nó thấy mờ và chỉ khám phá dần dần những màu sắc, tuy nhiên nó có khả năng dừng lại trên một gương mặt hay một đồ vật và phát hiện một chuyển động. Thế mà điều đó một cách chính xác hơn là điều mà ta có thể hằng tưởng. Bởi vì với những đôi mắt mở to, những trẻ dưới 3 tuổi không những nhạy cảm đối với những kích thích thị giác : chúng tạo cho mình một thể hiện thực sự về thế giới bao quanh chúng… không liên quan gì với sự thể hiện của những người lớn. Còn hơn thế : theo nhà tâm lý học Hoa Kỳ Alison Gopnik, nhà nghiên cứu thuộc đại học Berkeley (Californie), và chuyên gia về phát triển nhận thức của những đứa trẻ rất nhỏ tuổi, những đứa trẻ này đương đầu với thế giới một cách mạnh mẽ và trực tiếp hơn nhiều so với người lớn.tsyh317 4Theo một loạt những thí nghiệm mà bà đã tiến hành trong phòng thí nghiệm với các em bé, lượng các hình ảnh, các âm thanh và các biến cố bên ngoài đến với chúng ” không hạn chế “, điều này không còn như thế khi chúng lớn lên. Đối với chúng, tất cả đều đáng quan tâm, tất cả đều mới, không gì được bỏ qua bên. Và cách thấy bao quát thế giới này cho phép chúng tri giác điều mà những người lớn không còn khả năng thấy nữa ! Cai sự chú ý thường trực và tổng quát này, vả lại bố mẹ đã khai thác trong cuộc sống hàng ngày, bằng cách chuyển hướng sự chú ý của em bé vào chiếc ly màu xinh đẹp để chỉ cho nó chiếc khăn tròn, cũng gây tò mò, nhưng ít dễ vỡ và nguy hiểm hơn nhiều. Đó không phải là một sự chú ý thuần cơ học, điều đó không còn phải nghi ngờ. Điều này đă được xác nhận bởi nhung công trình nghiên cứu trong neurobiologie bằng cách làm sáng tỏ những phạm vi của phương pháp mới về sự nhận thức của các em bé.
EN PERMANENCE AU CINEMA
Tập trung sự chú ý một cách đặc biệt vào một vật, đó là làm một lựa chọn trong số toàn bộ môi trường và thị trường mang lại. Trong não bộ, vùng đang hoạt động khi đó là vỏ não trán (cortex frontal), còn trong giai đoạn phát triển mạnh ở những trẻ nhỏ tuổi nhất. Vùng này sinh ra nhiều neurone, những tế bào thần kinh có nhiệm vụ dẫn truyền trong não bộ những tín hiệu thần kinh mà chúng tiếp nhận. Ngoài ra, những neurone, đã được sản xuất từ giai đoạn phôi thai, về mặt cấu trúc chưa được trưởng hành. Vì thế vỏ não vùng trán chưa đảm nhận các chức năng của nó. Kết quả : trước 3 tuổi, não bộ của của các em bé để rối mù với nhau những tri giác giác quan (perceptions sensorielles), những cảm xúc, những kỷ niệm… mà vỏ não trán không can dự vào để lọc và tổ chức theo thứ bậc những thông tin này. Và chính sự không có năng lực phân biệt này đã mở rộng các cánh cửa cho chúng để tri giác thế giới. Những cánh cửa này sau đó càng khép lại khi vỏ não trán càng phát triển.
Mặc dầu các em bé thấy một thế giới mà các người lớn không còn có thể nhìn thấy nữa, tuy vậy những người lớn này vẫn còn có thể kinh qua điều đó…khi họ đi xem chớp bóng ! Bởi vì trong một phòng tối, chúng ta bị đắm chìm trong một môi trường tương tự như điều mà một đứa bé dưới 3 tuổi trải qua mỗi ngày. Bằng cớ: một công trình nghiên cứu được tiến hành năm 2004 bởi nhà sinh thần kinh hoc (neurobiologiste) Rafael Malach ở Viện khoa học Weizmann, ở Israel, đã cho thấy rằng hoạt động não bộ của 5 khán giả khi xem một phim dài là số không ở vỏ não trước trán (cortex préfrontal) : tất cả đều bị phim “thu hút” : những hình ảnh, âm thanh…như các em bé.
Thật vậy, dối với các nhà sinh thần kinh (neurobiologiste), cách trải qua những năm đầu của cuộc sống như là một khán giả bị thu hút bởi một màn ảnh chiếu bóng rất hữu ích cho sự phát triển của cá thể. Theo Alison Gopnik, nó kích thích, không hơn không kém, những năng lực học tập (capacités d’apprentissage) ! Thật vậy, trí não được mở ra thường trực, trí tưởng tượng trong trạng thái linh hoạt, các em bé “trắc nghiệm” thường xuyên thực tế bao quanh chúng, để từ đó suy ra rất nhanh, và rất hiệu quả, những quy tắc logic. Những chỉ dấu khác chỉ rõ rằng một trạng thái không thuần thục kéo dài của vỏ não trán (cortex cérébral) là có lợi cho việc học tập. Đối với Etienne Koechlin, giám đốc của Laboratoire de neurosciences cognitives của Trường cao đẳng sư phạm, “mọi sự xảy ra như thể, đối với đứa bé từ 0 đến 3 tuổi, chức năng trán được đảm nhận bởi cha mẹ : chính họ quyết định vào bất cứ lúc nào về điều mà em bé sẽ làm hay không làm” Và sự phát triển chậm của phần này của não bộ, như Michael Ramscar, nhà tâm lý học thuộc đại học Stanford (Californie) bảo vệ, là bí quyết tiến triển của sự thông minh : vừa handicapant vừa thiết yếu, việc sự chú ý không được kiểm soát là cái bảo đảm cho một sự thăm dò mạnh mẽ thế giới hiện thực.
(SCIENCE ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

6/ NHỮNG NEURONE TRAO ĐỔI VỚI NHAU NHƯ THẾ NÀO ?
Trí thông minh, những cảm xúc, những kỷ niệm, những cảm giác, sự ý thức về chính mình : tất cả sự phức tạp của những quá trình nhận thức (processus cognitifs) này xuất phát từ trăm tỷ neurone của não bộ của chúng ta. Thật vậy, chính những tế bào thần kinh này cho phép xử lý những thông tin của có thể đến dưới dạng những xung động điện. Phải tưởng tượng những neurone cũng như những dây cỗble điện. Mỗi dây có nhiều chỗ vào (entrée), những sợi nhánh (dendrite), cho phép nhận những tín hiệu điện, và một chỗ ra (sortie), sợi trục (axone), biến đổi chúng thành thông tin hóa học (information chimique) (những nguyên tử được gọi là những chất dẫn truyền thần kinh) để dẫn truyền nó đến một neurone khác. Vậy sự trao đổi (communication) được thực hiện ở điểm tiếp xúc giữa hai neurone, được gọi là khớp thần kinh (synapse). Nhưng, cũng như mọi quy tắc, có vài trường hợp đặc biệt nhưng hiếm : trong vài neurone, thông điệp (message) có thể lưu thông từ sợi trục (axone) đến các sợi nhánh (dendrite) trong khi những neurone khác có thể phát ra hai thông điệp.
(SCIENCE ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

7/ GIẤC NGỦ KHÔNG TÁCH CHÚNG TA RA KHỎI THẾ GIỚI
Trong khi ngủ, những tri giác của chúng ta khong bi ngủ hoàn toàn. Một cơ chế tinh tế lọc những thông tin giác quan (informations sensorielles) đảm bảo sự thức dậy trong trường hợp nguy hiểm.
” Thình lình, một tiếng gầm lên ngắn ngủi được nghe… Một máy bay rơi xuống ở ngoài nhà ” : giấc mơ này là một trong những giấc mơ được báo cáo cho William Dement, nhà tiền phong người Mỹ về những nghiên cứu giấc ngủ. Tiếng ồn được mô tả bởi người tham gia trong công trình nghiên cứu này tương ứng một cách chính xác với tiếng động mà ông ta đã từng chịu lúc ông ngủ ở trong phòng thí nghiệm của người thầy thuốc, ở đại học Chicago. Một người tình nguyện khác, bị đổ nước lạnh trong khi đang ngủ, đã mơ thấy rằng trời đang mưa. Được thực hiện trong những năm 1950, những thí nghiệm này đã chỉ rõ rằng những giác quan của chúng ta không hoàn toàn bị gây mê trong khi ngủ.
Tuy vậy, khi chúng ta ngủ, chúng ta có khả năng không còn nghe nữa những lời trò chuyện của những người quanh bên, không còn thấy nữa ánh sáng của TV và không còn cảm thấy nữa những đau đớn của chúng ta. Thế thì chúng ta tri giác một cách chính xác những gì khi chúng ta ngủ ? Những tiến bộ của chụp hình ảnh đã cho phép theo dõi dấu vết của đường đi của các tri giác trong não bộ đang ngủ. Những tín hiệu điện hóa chịu nhiều giai đoạn lọc. Đến độ chung khó đến được những vùng của vỏ não, ở đó chúng có cơ may đạt đến tri thức của chúng ta. Mặc dầu vô thức, những thông tin giác quan này vẫn được xử lý bởi não bộ của chúng ta.
Đối với các thầy thuốc, biết tại sao và như thế nào những giác quan của chúng ta phản ứng lại trong khi ngủ tỏ ra quý báu. ” Chúng ta cần biết làm sao giữ gìn giấc ngủ mặc dầu, thí dụ, tiếng ồn hay sự đau đớn mà các bệnh nhân chịu đựng. Chúng ta cũng cần biết những cảm giác nào có thể đánh thức người ta, thí dụ một đứa trẻ đái dầm hay những người dân bị đe dọa bởi một rỏ khí đốt (fuite de gaz) ” Mary Carskadon, người đã cộng tác với William Derment, và theo đuổi những nghiên cứu của mình ở đại học Brown (Hoa Kỳ) đã xác nhận như vậy.
TIẾNG ĐỘNG CƠ
Trong số những giác quan được trắc nghiệm, khứu giác là giác quan ít có cơ may nhất đánh thức một người đang ngủ, và như thế không đạt đến tri thức của người này. Nhà tâm thần học đã thực hiện một thí nghiệm về vấn đề này. Bà ta đã cho 6 người đang ngủ, trong nhiều đêm liên tiếp, ngửi hai mùi rất khác nhau, với những nồng độ thay đổi : mùi, được cho là dễ chịu, của bạc hà cay (menthe poivrée) và mùi, hắc, của pyridine, giống với mùi của cá thối.
3 loại giấc ngủ lớn kế tiếp nhau suốt trong một chu kỳ khoảng 1 giờ 30 phút đã được trắc nghiệm : giấc ngủ chậm và nhẹ (sommeil lent léger), giấc ngủ chậm và sâu (sommeil lent profond), rồi giấc ngủ nghịch lý (sommeil paradoxal), trong đó xảy ra phần lớn các giấc mơ. Kết quả không chối cãi : trong khi những mùi đậm (odeurs concentrées) gây nên những lần thức dậy nhỏ (microréveil) ở những người ngủ với giấc ngủ nhẹ, pyridine chỉ có tác dụng này trong 45% các trường hợp một khi giấc ngủ sâu thành hình, và trong 1/3 các trường hợp giấc ngủ nghịch lý. Trong hai giai đoạn cuối của giấc ngủ (sâu và nghịch lý), mùi bạc hà đã không đánh thức một người nào.
Khứu giác được cảm nhận trong lúc ngủ yếu hơn nhiều so với những âm thanh : chịu một âm thanh với cường độ từ 78 den 85 décibels (tương đương với một tiếng ồn của động cơ xe hơi) những con chuột của Mary Carskadon đã thức dậy trong 82% các trường hợp.
Ngược lại, sự đau đớn dường như là một trong những giác quan có cơ may nhất len lỏi đến tận tri thức, như đã được chứng tỏ bởi những thí nghiệm được tiến hành bởi Gilles Lavigne, thầy thuốc thuộc đại học Montréal, Canada. Ông này đã so sánh số những lần thức dậy ngắn (microréveil) sau khi kích thích xúc giác (một chấn động), thính giác (âm thanh), và đau đớn (truyền một dung dịch rất mặn). Những cảm giác đau vì được điều chỉnh để được cảm nhận một cách yếu ớt, nên chỉ 30% những kích thích này gây tỉnh dậy ở giai đoạn giấc ngủ nhẹ. Nhưng những chấn động (vibration) và tiếng ồn hầu như không được cảm thấy trong giấc ngủ sâu và chỉ làm thức dậy ít trong giấc ngủ nghịch lý (15% các trường hợp), còn đau vẫn được cảm thấy ở cùng mức độ, dầu giai đoạn của giấc ngủ như thế nào.
Tất cả những thí nghiệm này xác nhận rằng, nếu một vài thông tin giác quan đến được tri thức suốt trong giấc ngủ, chúng luôn luôn được biến đổi. Tuy nhiên tất cả những tín hiệu này không chịu chung số phận : vài tín hiệu được giảm bớt hơn những tín hiệu khác. Vào lúc nào trên đường đi đến não bộ những tín hiệu này bị ” thanh lọc” ? Ngoại trừ khứu giác (olfaction) (quá cảnh qua système limbique, nơi các xúc cảm được xử lý), những tri giác (perception) đều đến hệ thần kinh trung ương qua đồi thị (thalamus), một cấu trúc nằm ở giữa não. Sau đó đồi thị hướng chúng về những vùng giác quan chuyên trách nguyên phát : vỏ não thị giác, thính giác, vị giác hay giác quan thân thể (somatosensoriel). Rồi các thông điệp thần kinh (message nerveux) liên vận về phía trước của não, cortex orbitofrontal, trụ sở của những chức năng nhận thức cao cấp, của sự suy nghĩ, của sự lấy quyết định…
ĐIỆN NÃO ĐỒ.
Để theo dõi hành trình của các thông tin giác quan trong vỏ não, các nhà nghiên cứu sử dụng chủ yếu điện não đồ (électroencéphalographie) và từ não đồ (magnétoencéphalographie). Những kỹ thuật này nhằm đo, bằng những điện cực được đặt trên da đầu, những điện trường và từ trường được sinh ra trên sọ đo hoạt động của vỏ não bên dưới.
” Trong một thời gian lâu, ta đã hằng tưởng rằng chính đồi thị (thalamus) đã lọc những thông tin giác quan (informations sensorielles), Michel Magnin, thuộc trung tâm nghiên cứu về neurosciences Lyon đã giải thích như vậy. Thật ra, trong lúc ngủ, đồi thị ở trong một trạng thái đặc biệt. Các neurone nối đồi thị với vỏ não gởi một cách ngẫu nhiên những bó tín hiệu (paquets de signaux) hay potentiels d’action với một nhịp độ đều đặn và chậm, với một tần số khoảng 4 hertz. Ta đã tưởng rằng trạng thái đặc biệt này ngăn cản sự đi qua của các thông tin từ thế giới bên ngoài để giữ gìn một chất lượng tốt cho giấc ngủ. Nhưng với Hélène Bastuji, chúng ta đã quan sát rằng đồi thị để đi qua một cách khá tinh tế vài thông tin.” Thật vậy, khi những người đang ngủ được cho nghe những chữ, các nhà nghiên cứu chứng thực trên điện não đồ rằng hoạt động của vỏ não bị rối loạn nếu họ phát âm prénom của người ngủ thay vì những chữ vô hại.
Để hiểu rõ hơn về dồi thị, nằm vùi quá sâu trong não bộ nên không thể phát hiện hoạt động của nó bằng những điện não đồ đơn giản, Hélène Bastuji và kíp nghiên cứu của bà đã yêu cầu sự hợp tác của những bệnh nhân bị bệnh động kinh, được trang bị bởi những điện cực được đưa vào bên trong sọ, ở đồi thị. Những người tình nguyện đã chịu một cảm giác đau đớn nhẹ (một cảm giác bỏng ngắn ngủi do laser) trong khi ngủ. ” Chúng tôi đã chứng thực rằng thông tin (message) được truyền qua đồi thị. Tín hiệu có cường độ yếu hơn và hơi khác so với khi thức, những tín hiệu đúng là đã qua đó “, Michel Magnum đã chứng thực như vậy. Như vậy trong khi ngủ đồi thị không kiểm duyệt các thông tin giác quan như ta đã hằng tưởng.
MẠNG NEURONE RỘNG LỚN.
Sự truyền những thông tin giác quan lên vỏ não được thể hiện bởi một hoạt động vỏ não đặc biệt, Giulio Tononi, thuộc đại học Wisconsin (Hoa Kỳ) đã ghi nhận như vậy : ” Đáp ứng lại với những kích thích, dầu là xúc giác, thính giác hay thị giác, ta đều quan sát thấy qua điện não đồ sự kích hoạt của những khu vực giác quan nguyên phát (aire sensorielle primaire). Nhưng sự kích hoạt sau này của những khu vực vỏ não cao cấp khác bị giảm.” Một hiệu quả mà ông đã đo lường bằng kích thích qua sọ. Phương pháp này nhằm kích thích những neurone bằng một bobine điện từ được đặt trên sọ và quan sát qua điện não đồ sự lan tràn của tín hiệu được sinh ra như thế.
Trong lúc thức, hoạt động lan tràn một cách nhanh chóng trong vỏ não trên nhiều centimère, nhưng trong giấc ngủ chậm, hoạt động vẫn khu trú ở nơi kích thích (trong trường hợp này là cortex prémoteur). Thế mà, theo nhà thần kinh học này, ý thức lộ ra đúng là do sự chia thông tin giác quan bởi một cộng đồng to lớn của các neurone. Bằng cách ngăn cản sự lan tràn của các tín hiệu bên trong vỏ não, giấc ngủ do đó ngăn cản sự ý thức thế giới bên ngoài, và như thế ngăn cản sự thức tỉnh…Giả thuyết mà Tononi đưa ra là, trong giấc ngủ chậm, các neurone của vỏ não trút hết, một cách chu kỳ, các tích dương (charges positives) của chúng, điều này làm khó kích thích chúng. Cơ chế này, sinh ra những sóng chậm đặc trưng của não bộ trong giấc ngủ chậm, kềm hãm sự lan tràn của thông tin. Vậy không phải ở đồi thị (thalamus) cũng như không phải ở mạng rộng lớn của các neurone ở vỏ não mà thông tin giác quan được giữ lại.
TRAITEMENT COGNITIF
Giả thuyết theo đó thông tin giác quan đến được vỏ não, mặc dầu không len lỏi đến ý thức, càng đáng lưu ý khi giả thuyết giải thích rằng thông tin này dẫu sao cũng chịu một xử lý nhận thức (traitement cognitif), đôi khi phức tạp. Trong những thí nghiệm tiền phong của William Dement, khoảng 1/4 những kích thích giác quan mà ông bắt các người tình nguyện đang ngủ phải chịu, dường như nhập vào các giấc mơ.
Vào năm 2006, một kíp nghiên cứu Chí Lợi, được quy tụ chung quanh Augustin Ibanez, thuộc đại học Diego Portals (Santiago) đã cho thấy rằng traitement cognitif này có thể đi rất xa. Ông đã cho những người đang ngủ nghe những câu trong đó ông xen vào một chữ lạ. Sự lựa chọn chữ lạ cho phép điều biến sự không mạch lạc của các câu. Như thế, câu : ” nó có một động cơ và nó bay, đó là : một chiếc tàu bay/một con chim/ một moto/một hòn núi ” càng lúc càng được đánh giá là không mạch lạc. Thế mà lúc tỉnh, một tín hiệu được phát ra trong vỏ não trán khoảng 400 mili giây sau khi nghe một cụm từ được cho là không mạch lạc.
Những điện não đồ của những người tình nguyện của nhà thần kinh người Chí Lợi, mặc dầu họ ngủ sâu, đã tiết lộ sự hiện hiện của tín hiệu này. Mặc dầu không ý thức điều đó, não bộ đang ngủ dẫu sao vẫn có khả năng xử lý ngữ nghĩa học các âm thanh. Từ nay đó là một sự kiện được xác lập : mặc dầu chúng ta không ý thức điều đó, não bộ chúng ta có khả năng cảm nhận và xử lý, mà chúng ta không hay biết, nhiều thông tin giác quan trọng khi chúng ta đang ngủ.
(LA RECHERCHE 7-8/2013)

8/ KHI NÀO NÃO BỘ NGỪNG CHẾ TẠO CÁC NEURONE
” Hôm nay đây còn đâu những neurones của những năm 20 của tôi ? “, não bộ của một người trưởng thành có thể ca lên như vậy khi hoài tưởng đến thời vàng son của nó. Thật vậy, trong những năm 1990, ta đã hay biết rằng não bộ bắt đầu mất các tế bào thần kinh ngay ở tuổi 20…hàng trăm mỗi ngày ! May mắn thay ta cũng biết rằng những neurone mới có thể được sản xuất trong suốt cuộc đời ở những động vật có vú. Các nhà nghiên cứu của viện Pasteur đã nhận diện vào năm 2003 những ” kho dự trữ ” những neurone mới ở chuột, trong hồi hải mã (hippocampe) và hành khứu (bulbe olfactif). Tuy nhiên vào tháng năm 2012, một kíp nghiên cứu Thụy Điển đã không thành công tìm thấy điều tương tự trong hành khứu của những con người. Tương lai sẽ cho biết sự đổi mới của các neurone người có thật sự khác với các con chuột hay không. Ít nhất ta biết rằng ở người sự mất không được bù. Sự mất này là 10 đến 20% ở 90 tuổi. Hoặc một sự đánh mất 10 tỷ neurone. Không có gì phải lo hoảng : chính chất lượng sự nối kết giữa các neurone, hơn là số lượng các neurone, là cơ sở của những năng lực não (capacité cérébarle) của chúng ta. Và điều đó tùy thuộc sự bảo trì trí tuệ và vật lý của chúng ta. Nhất là, sự sinh neurone này là một khám phá to lớn. Các nhà nghiên cứu ra sức khám phá những phương tiện để kích thích sự sinh neurone để có thể điều trị vài bệnh não phá hủy rất nhanh các neurone.
(SCIENCES & VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

9/ CÓ ĐÚNG LÀ CHÚNG TA CÓ SỐ LƯỢNG NEURONE BẰNG VỚI SỐ LƯỢNG NGÂN HÀ CÓ TRONG VŨ TRỤ ?
100 tỷ : theo những dữ kiện thống kê của các nhà thiên văn học của toàn thế giới, đó là tổng số những giải ngân hà ta có thể quan sát thấy trong Vũ trụ có thể thấy được. Và đó cũng chính là số lượng neurone trung bình mà não bộ người có. 6 lớp cấu thành vỏ não, màng mỏng ở bề mặt của não bộ, chỉ chúng thôi đã chứa khoảng 10 tỷ. Sự dồi dào này được tạo thành ngay những tháng đầu tiên của đời sống : phần lớn những neurone của một con người được tạo thành khoảng năm 2 tuổi. Mỗi phút, vào lúc bắt đầu thai nghén, nhịp độ tăng trưởng là hết mức : khoảng 250.000 neurone đến xâm nhập não bộ của thai nhi. Cần ghi nhận rằng tủy sống cũng không kém gì : chỉ mình nó tủy sống chứa khoảng 1 tỷ neurone. Nếu màng tế bào của toàn bộ các neurone của não được làm phẳng và được sắp xếp để tạo thành một màng mỏng, màng này sẽ bảo phủ một diện tích 25.000 mét vuông ! Tuy nhiên năng lực kỳ diệu xử lý các thông tin của não bộ không những do số lượng các neurone mà còn số lượng các nối kết (connexions) nối chúng lại với nhau. Về điểm này, số lượng các ngân hà bị vượt qua nhiều : ta đếm được từ 1000 đến 10.000 điểm tiếp xúc (synapse) giữa hai neurone !
(SCIENCES & VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

10/ CÓ ĐÚNG LÀ TA CHỈ SỬ DỤNG 10% NÃO BỘ CỦA CHÚNG TA ?
Định kiến này vừa rất phổ biến lại vừa sai. Nói rằng não bộ chỉ sử dụng 10% năng lực của nó, cũng như cho rằng một kíp thể thao không chơi 100%, vì lẽ một phần các cầu thủ không tham gia một cách trực tiếp vào mỗi hành động. Trên thực tế, toàn bộ não được sử dụng, nhưng không cùng lúc. Từ hai mươi năm nay, những kỹ thuật chụp hình ảnh cho phép theo dõi hoạt động của não bộ en temps réel cho thấy điều đó. Ngoài ra chụp cộng hưởng từ hạt nhận chức năng (IRMf : résonance magnétique fonctionnelle) và PET scan (tomographie par émission de protons) cho thấy rằng những vùng được kích hoạt khi ta nói, đọc, cử động…được phân bố trong toàn não bộ. Bằng cớ cho thấy rằng hoạt động não không giới hạn vào một khu vực chiếm 10% của thể tích toàn bộ của não, cũng không giới hạn vào 10% những tế bào thần kinh của nó, những neurone. ” Trên thực tế, tất cả những neurone đều ở trong một tình trạng thức tỉnh thường trực. Đối với chúng, ngay cả đó là một sự cần thiết sinh tồn, vì lẽ một neurone không được kích thích sẽ thoái hóa, Rémi Gervais (Laboratoire de neurosciences sensorielles, Inserm, Lyon) đã giải thích như vậy. Nếu 90% não bộ của chúng ta không hoạt động, tất cả những neurone này sẽ biến mất và não chúng ta chỉ chiếm 10% thể tích của nó hiện nay.
(SCIENCE ET VIE. QUESTIONS ET REPONSES)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(24/8/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s