Thời sự y học số 316 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ U HẮC TỐ (MELANOME) : CÁC CABINE DE BRONZAGE) LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ.
Một công trình nghiên cứu nhấn mạnh tác dụng có hại của những tia tử ngoại và của mặt trời lên da.
uhtCANCEROLOGIE. Những chỉ dấu tích lũy chống lại các cabine de bronzage, mà các thầy thuốc nghi là làm gia tăng nguy cơ bị ung thư da. Lần này, báo động phát xuất từ những nhà nghiên cứu của Mayo Clinic uy tín (Hoa Kỳ), vừa phát hiện, trong 40 năm, qua một sự gia tăng mạnh những trường hợp u hắc tố (mélanome) ở những người trưởng thành trẻ. Giữa 1970 và 2009, tỷ lệ mắc phải ung thư này như thế đã được nhân lên 8 ở các phụ nữ tuổi từ 18 đến 39 và gấp 4 ở những người đàn ông cùng lứa tuổi trong tiểu bang Minnesota. ” Sự khác nhau này có thể được giải thích bởi những hành vi đặc biệt của phụ nữ (comportement féminin spécifique), nhất là sự tiếp xúc với những tia tử ngoại nhân tạo “, các tác giả của công trình này, được công bố 2/4/2012, đã đề xuất như vậy.

Từ mười năm nay, sự công bố nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học đã cho phép xác lập một mối liên hệ giữa sự tiếp xúc với những tia tử ngoại được phát ra bởi các lampe de bronzage và nguy cơ bị những ung thư da (carcinome và mélanome). Một sự gia tăng 75% nguy cơ, đặc biệt được phát hiện trong trường hợp tiếp xúc lần đầu ở một lứa tuổi còn trẻ, trước 35 tuổi.Những công trình nghiên cứu này đã khiến Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư (CIRC), vào tháng 7 năm 2009, đã thêm các tia tử ngoại nhân tạo trong danh sách các tác nhân gây ung thư đối với người, ngang hàng với bức xạ mặt trời (rayonnement solaire).
TUMEUR EPAISSE.
” Tuy vậy, những người ham thích ” soleil en boite ” còn rất ít ý thức về mối nguy hiểm, Claudine Blanchet-Bardon, phó chủ tịch Công đoàn quốc gia các thầy thuốc da liễu, đã phát biểu như vậy. Công trình nghiên cứu này của Hoa Kỳ, với một quy mô rất đáng lưu ý, nêu lên nguy cơ y tế liên kết với việc làm này.”
Ở Pháp cũng vậy, u hắc tố da (mélanome cutané) là một trong những ung thư mà tỷ lệ mắc phải đã gia tăng nhất trong những năm qua, với một sự tăng gấp ba được ghi nhận giữa 1980 và 2005, vì lẽ một sự tiếp xúc mạnh hơn của dân chúng với ánh nắng mặt trời. Ta ước tính số những trường hợp mới được phát hiện là 9780 và số những trường hợp tử vong có thể quy cho ung thư này vào năm 2011 là 1620. Theo Anne Thuret, chuyên gia dịch tễ thuộc Viện theo dõi y tế quốc gia, tỷ lệ mắc phải ở phụ nữ cao hơn so với đàn ông. Có lẽ các phụ nữ tiếp xúc nhiều hơn với mặt trời và với những cabine de bronzage. 3/4 các trường hợp được ghi nhận sau 49 tuổi.
Được phát hiện ở một giai đoạn sớm, khi u còn ít dày, thường nhất u hắc tố được điều trị rất tốt. “Vượt qua một giai đoạn nào đó, ung thư này có thể di căn trong cơ thể rất nhanh, một cách hung dữ, BS Caroline Robert, trưởng khoa bệnh ngoài da thuộc Viện Gustave-Roussy (Villejuif) đã nhấn mạnh như vậy. May mắn thay, sau 50 năm không chút tiến bộ nào, hai loại điều trị mới (miễn dịch liệu pháp và liệu pháp nhắm đích) mang lại một niềm hy vọng thật sự.”
Nhưng sự phát hiện và sự phòng ngừa vẫn là những vũ khí tốt nhất chống lại bệnh. Hai biện pháp này có lẽ góp phần giải thích một sự ổn định tương đối của tỷ lệ tử vong trong những năm qua.
” Tuyệt đối phải biết sự chịu được của mình đối với mặt trời, trước khi phơi nắng”, Viện phòng ngừa và giáo dục đối với sức khỏe (Inpes) đã nhấn mạnh như vậy. Vậy những người có da và mắt màu nhạt, tóc hung hay vàng hoe, không rám da hay rất ít là những người có nguy cơ cao. Những nốt ruồi và nhiều vết tàn hương (taches de rousseur) cũng là nhưng chỉ dấu về tính chất dễ thương tổn (vulnérabilité). Sau cùng, những tiền căn gia đình phải được xét đến , cũng như những đợt trúng nắng trong thời thơ ấu.
Vậy, mùa hè đến, các thầy thuốc cần nhắc lại tầm quan trọng của một sự sử dụng hợp lý của mặt trời để bảo vệ da và mắt của các em bé, cấm mọi sự tiếp xúc giữa 12 và 16 giờ, ưu tiên dùng quần áo bảo vệ. Những crème solaire, mặc đầu có một tác dụng bảo vệ nào đó, dầu thế không được phơi nắng quá lâu. ” Trái với một ý tưởng sai lạc, cũng hữu ích cần biết rằng sự làm rám da nhân tạo (bronzage artificiel) không có tác dụng luyện da “, Inpes đã ghi nhận như vậy. Theo Inca, ở Pháp các đèn phát ra một bức xạ giàu các tia tử ngoại A, không gây đau, nhưng cường độ có thể lên đến 12, hoặc cường độ của mặt trời trong những vùng á nhiệt đới.
Khoảng 3 triệu người nhận những tia tử ngoại một cách đều đặn hay một đôi khi. Những hhách hàng này, nữ giới 75% và tuổi trung bình 32, gia tăng mỗi năm. Những người hành nghề bronzage artificiel thề rằng họ tham gia vào công tác phòng ngừa khi thực hiện trong những trung tâm của họ những diagnostic solaire. Còn những thầy thuốc bệnh ngoài da thì khuyên một cách chính thức không nên làm rám da nhân tạo.
(LE FIGARO 16/4/2012)

2/ CÓ NÊN CẦM NHỮNG CABINE DE BRONZAGE ?
Professeur Jacques Bazek
Dermatologue
Membre de l’Académie de médecine.

Hè đến, thật là hấp dẫn khi thực hiện vài buổi tia tử ngoại (séance d’UV) để thử có một bộ mặt tươi tắn và xuất hiện trên bãi biển với da đã rám nắng. nhất là với cuộc khủng hoảng và tin báo thời tiết đặc biệt xấu của mùa xuân này, sự làm rám nắng nhân tạo (bronzage artificiel) nhận thêm những môn đồ mới ngoài 8 triệu khách hàng quen thuộc của 15.000 ” cabines à UV ” được thống kê ở Pháp.
Một sự tiếp xúc đều đặn với những tia tử ngoại nhân tạo nhân lên gấp hai lần nguy cơ ung thư da, đặc biệt u hắc tố (mélanome), là thể nghiêm trọng nhất. Ở Pháp, theo Viện ung thư quốc gia, thực hành này chịu trách nhiệm 9780 trường hợp mới u hắc tố đã được thống kê và 1.620 trường hợp tử vong chỉ đối với năm 2011. Trên thế giới, những người sử dụng những salon de bronzage có 20% nguy cơ nhiều nguy cơ hơn là những người đã không bao giờ sử dụng ; Người ta đã chứng minh rằng nguy cơ gia tăng 1,8 % đối với mỗi buổi rám nắng nhân tạo được thêm vào mỗi năm và, nhất là, sự việc bắt đầu những buổi này trước 35 tuổi làm gia tăng 87% nguy cơ u hắc tố. Những con số đã khiến cho những cơ quan khoa học phải rung chuông báo động và khiến cho Trung tâm nghiên cứu quốc tế về ung thư của OMS xếp một cách chính thức những nguồn tia tử ngoại nhân tạo như là ” sinh ung thư đối với người “, ngang hàng với thuốc lá. Nhưng, mặc dầu rõ ràng là sự tăng gấp ba tỷ lệ mắc bệnh u hắc tố đã trùng hợp với mode du bronzage artificiel ra đời trong những năm 1980, thực hành này vẫn tiếp tục phát triển và, mặc dầu những bằng cớ tích lũy về mối hiểm nguy mà nó mang lại cho sức khoẻ cộng đồng, nó vẫn phô trương mà không bị trừng phạt sức khỏe tốt của mình…
Ánh sáng mặt trời không thể phủ nhận là có lợi : nó kích thích tinh thần và cho phép chúng ta tổng hợp vitamine D và làm xương chúng ta thêm mạnh… Nhưng với liều mạnh, những tia tử ngoại của nó có một tác dụng sinh ung thư ngày nay được nhất trí công nhận, đó là chưa kể những nguy cơ cho mắt đã được biết rõ, từ bệnh đục thủy tinh thể đến bệnh thoái hóa điểm vàng đó tuổi tác (DMLA), mà cơn bộc phát hiện này liên quan đến thế hệ vốn đã không có phản xạ dùng kính chống nắng… Bằng cách tấn công vào những tế bào gốc của chúng ta, những tế bào đổi mới biểu bì và những tế bào là nguồn gốc của sự nhiễm sắc tố (pigmentation), những tia X sinh ra không những những gốc tự do (radicaux libres), nguồn gốc của stress oxydant, chịu trách nhiệm làm da của chúng ta hóa già, mà chúng còn làm tổn hại vật liệu di truyền (matériel génétique) của chúng ta. Chính những tổn hại này của ADN, khó sửa chữa, đã sinh ra những ung thư. Thế mà, sự nhiễm sắc tổ của da, noi một cách khác su ram nang (bronzage), chỉ được thể hiện nếu đã có một sự biến đổi tế bào, càng quan trọng trong cabine de bronzage khi UVB vì bị cấm ở đó nên ta không thể cảm thấy những tiền đề của coup de soleil, phát khởi báo động… Nếu các UVB, đó kích thích sự tổng hợp mélamine, tạo một hàng rào tự nhiên chống lại những tác dụng có hại của các tia tử ngoại, thì trái lại các UVA, bởi vì chúng đi vào sâu hơn, làm biến đổi biểu bì và bì. Thế mà, trong cabine, chính những UVA được phát ra bởi những đèn có một công suất 5 đến 15 lần mạnh hơn ánh nắng mặt trời với một bức xạ (rayonnement) 15 đến 20 lần mạnh hơn ánh nắng mặt trời vào lúc giữa ngày ở Địa Trung hải, điều này tương dương với một ensoleillement tropical ! Một trận dội bom thật sự, càng đi ngược lại với thiên nhiên nhất là khi nó được tập trung trong những buổi chỉ kéo dài 20 đến 30 phút, do đó nguy cơ gia tăng bị một ung thư da xuất hiện.
NHỮNG LUẬN ĐIỆU DỐI TRÁ.
Như vậy, sự tiếp xúc với các tia tử ngoại A (UVA) trong cabine de bronzage không chuẩn bị da cho bronzage. Các tia này nhuộm màu da nhưng không làm dày nó, điều chỉ có những tia tia ngoại B (UVB) có thể làm để bảo vệ da. Điều này càng nguy hiểm, khi tin là mình được che chở, ta có khuynh hướng tiếp xúc nhiều hơn, và ngay cả không bảo vệ ! Nghiêm trọng hơn : quá nhiều luận điệu khiến nghĩ rằng việc đi lại thường xuyên các cabine de bronzage sẽ là cái đảm bảo cho sức khoẻ tốt. Đó là điều sai trái : tất cả những tiếp xúc với các tia tử ngoại A đều nguy hiểm và không có lợi cho sức khỏe. Sự cung cấp vitamine D không được liên kết với tác dụng của các tia tử ngoại A và có thể được thực hiện dễ dàng bằng đường miệng, và ta không điều trị chứng trầm cảm theo mùa (dépresion saisonnière) trên một banc de bronzage : chỉ luminothérapie, với sự kiểm soát y khoa, có thể có một hiệu quả nào đó, chưa kể rằng vài loại thuốc, được gọi là “photosensibilisant , nhất là những thuốc chống trầm cảm, nhưng cũng các kháng sinh, thí dụ. Ngoài ra, UIA không những không làm biến mất mụn, mà đúng hơn ta có nguy cơ phát khởi những phản ứng dị ứng và những lucite, và một sự lão hóa da sớm, thậm chí làm kích hoạt một herpès.
Législation cấm một cách chính thức những người hành nghề bronzage quảng bá mọi lợi ích đối với sức khỏe.
Số lượng các ung thư da tăng gấp đôi mỗi mười năm ; đó là một nguyên nhân quốc gia ít nhất cũng quan trọng như những tai nạn đường xá.
Brésil đã có can đảm cấm những salon de bronzage ; trong nhiều nước châu Âu, ở Úc, ở Canada và Hoa Kỳ, những trẻ dưới 18 tuổi không được nhận vào.Ở chúng ta (Pháp), ta đợi từ 10 năm nay một réglementation và những kiểm soát thật sự… Trong khi đó, những hiệp hội của các người hành nghề bronzage tổ chức một sự quảng bá thương mãi tích cực về hoạt động của họ, mặc dầu tội phạm, nhưng đang bành trường mạnh, không do dự nói trái lại những dữ kiện khoa học vững chắc nhất về tính chất nguy hiểm của những tia tử ngoại nhân tạo. Ngay cả họ dám thiết đặt các cabine de bronzage của họ trong những câu lạc bộ thể thao và xúi giục các liên đoàn thể thao quảng cáo cho họ mặc dầu những vận động viên thể thao trình độ cao sử dụng bronzage en cabine nhận thêm những nguy cơ boi vi hoat động của họ thường nhất là ở ngoài trời. Các vận động viên bóng đá, các vận động viên marathon, những nhà vô địch bơi lội thế vận hội của chúng ta, khi chấp nhận làm “đại sứ ” cho họ há không biết rằng chính cái ảnh của môn thể thao như thế đã bị giữ làm con tin ? 7.000 u hắc to thêm vào mỗi năm, một kỹ lục !
(LE FIGARO 1/7/2013)

3/ U HẮC TỐ ÁC TÍNH DI CĂN : MIỄN DỊCH LIỆU PHÁP HỨA HẸN.
BS Caroline Robert, trưởng khoa bệnh ngoài da thuộc Viện Gustave-Roussy de Villejuif, giải thích tác dụng của hai điều trị mới được trình bày nhân hội nghị quốc tế của Asco tại Chicago.
Hỏi : Bà hãy nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của ung thư da có tính thời sự vào mùa hè này : u hắc tố (mélanome)
BS Caroline Robert : Đó là ung thư da đang sợ nhất bởi vì nó có nguy cơ di căn. Thường nhất nó có thể xuất hiện dưới dạng một nốt ruồi (grain de beauté) hơi không điển hình. Sự thay đổi về hình dáng, chỗ nổi, kích thước hay màu sắc phải được báo động. Khoảng 9000 trường hợp mới được thống kê mỗi năm ở Pháp và, bất hạnh thay, 1600 trường hợp tử vong.
Hỏi : Có những yếu tố di truyền làm dễ không ?
BS Caroline Rober : Có những gia đình có nguy cơ, nhất là những gia đình có da màu nhạt (peau claire), nhưng những tiếp xúc quá mạnh với ánh nắng mặt trời là những yếu tố quan trọng bởi vì những tia tử ngoại tạo điều kiện cho một quá trình sinh ung thư.
Hỏi : Một u hắc tố phát triển bằng cơ chế nào ?
BS Caroline Robert : Đặc điểm của một tế bào ung thư, do đó đặc điểm của u hắc tố, đó là khả năng tăng sinh của nó để tạo một khối u rồi xâm lấn những cơ quan khác. Để phong bế quá trình này, hệ miễn dịch gởi những tế bào lympho “giết người” (lymphocytes tueurs). Bất hạnh thay những tế bào này không luôn luôn hiếu chiến và do đó khối u tiến triển. Chính sự thiếu sót phòng thủ này cho phép những tế bào ác tính xâm chiếm những cơ quan khác và tạo ở đó những di căn. Chính để tăng cường hệ miễn dịch mà những điều trị miễn dịch liệu pháp đã được hiệu chính.
Hỏi : Trong lãnh vực này ngày nay ta có những vũ khí gì ?
BS Caroline Robert : Từ hai năm nay, ta sử dụng ipilimumab (một kháng thể chống CTLA-4), nhằm kích hoạt những tế bào thiếu hụt của hệ miễn dịch. Hôm nay, với một thời gian nhìn lại 5 năm, ta quan sát 15 đến 20% những trường hợp thuyên giảm kéo dài. Những loại thuốc này đôi khi gây nên những tác dụng phụ nặng : viêm đại tràng, viêm gan, nổi ban da, mà ta kiểm soát với vài liệu pháp triệu chứng.
Hỏi : Những điều trị nào đã được trình bày nhân hội nghị Chicago vừa qua ?
BS Caroline Robert : Những điều trị miễn dịch liệu pháp mới mang nhiều hy vọng. Điều trị thứ nhất, đang được phát triển gia tốc, sử dụng một kháng thể (một anti-PD-1), lambrolizumab, được tiêm tĩnh mạch mỗi hai hay ba tuần. Kíp của Viện Gustave-Roussy mà tôi đang điều khiển cùng với BS Christine Mateus, đã bắt đầu, cách nay 18 tháng, liên kết với những trung tâm y tế Hoa Kỳ, một công trình nghiên cứu trên 135 bệnh nhân với loại thuốc này.
Hỏi : Đặc điểm của miễn dịch liệu pháp mới này là gì ?
BS Caroline Robert : Kháng thể này kích hoạt trở lại một cách đặc hiệu hơn những phòng ngự miễn dịch ngay nơi di căn. tác dụng của nó nhắm đích hơn miễn dịch liệu pháp hiện nay.
Hỏi : Những kết quả nào đã được chứng minh với công trình nghiên cứu đang được tiến hành ?
BS Caroline Robert : Ở 38% những bệnh nhân, kích thước của các di căn đã giảm và, đối với phần lớn các bệnh nhân, sau một thời gian theo dõi 11 tháng, điều trị tỏ ra luôn luôn có hiệu quả. Những cải thiện khác đang được trông chờ. Một ưu điểm lớn : những tác dụng phụ ít thường gặp hơn với anti-CTLA-4 được sử dụng từ hai năm nay. Những kết quả đầu tiên rất đáng phấn khởi của công trình nghiên cứu Pháp-Mỹ này đã được công bố hôm 2/6 vừa qua trong tạp chí khoa học ” The New England Journal of Medicine “. FDA (giới hữu trách y tế Hoa Kỳ) vừa dành cho loại thuốc mới này quy chế “đổi mới” để tạo điều kiện cho sự thương mãi hóa. Một hy vọng lớn lao đối với các bệnh nhân !
Hỏi : Điều trị miễn dịch liệu pháp mang nhiều hy vọng thứ hai là gì ?
BS Caroline Robert : Những kết quả rất đầy hứa hẹn đã được trình bày nhân hội nghị bằng sự liên kết của một kháng thế mới (anti-PD-1), nivolumab (có tác dụng nhắm đích lên các tế bào lympho giết người ở ngay nơi di căn), với ipilimumab, được sử dụng hiện nay trong miễn dịch điều trị. Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ được tiền hành trên 53 bệnh nhân đã cho thấy một sự giảm quan trọng các di căn ở hơn 40% những bệnh nhân. Với một sự tối ưu hóa các liều lượng, ta hy vọng có được những lợi ích còn quan trọng hơn. Trong cuộc đấu tranh chống lại các mélanome, chúng ta cũng tiến bộ trong lãnh vực của những điều trị nhắm đích với những thuốc có một tác dụng trực tiếp lên các tế bào ung thư.
(PARIS MATCH 27/6-3/7/2013)

4/ PHÓNG XẠ LIỆU PHÁP : PHUƠNG PHÁP MỚI VỚI NHỮNG NANOPARTICULES.
BS Alain Herrera, chuyên gia trong sự phát triển nanomédecine trong ung thư học, giải thích tác dụng của quan niệm cải tiến này trong nanomédecine.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi tác dụng của phóng xạ liệu pháp chuẩn (radiothérapie standard) để điều trị tại chỗ một khối u ung thư.
BS Alain Herrera : Đối với điều trị này, trong 90% các trường hợp, ta sử dụng những máy phát ra những tia X nhằm làm hoại tử khối u ung thư. Vào lúc chúng giao thoa với những thành phần của một tế bào, những tia X gây nên sự xuất hiện những điện tử phá hủy trực tiếp ADN của nó. Nhưng để phóng xạ liệu pháp có hiệu quả, những liều lượng phải đủ cao. Chúng bị giới hạn bởi những tác dụng phụ có thể xảy ra trên những mô lành mạnh lân cận.
Hỏi : Ta có thể kiểm tra tính hiệu quả của điều trị như thế nào ?
BS Alain Herrera : Ta đánh giá điều đó bằng một thăm khám hình ảnh. Trên chụp cắt lớp vi tính (scanner), vài khối u sẽ giảm đi rõ rệt, những khối u khác, mặc dầu bị phá hủy, vẫn giữ cùng kích thước. Trong trường hợp nghi ngờ, một Pet-Scan cho phép thấy khối u có được kích hoạt hay bị hoại tử vĩnh viễn.
Hỏi : Đối với những loại u ung thư nào ta thường nhờ đến một phóng xạ liệu pháp nhất ?
BS Alain Herrera : Phóng xạ liệu pháp thường được sử dụng : 1. Đối với những ung thư vú, bổ sung cho phẫu thuật nhằm hạn chế nguy cơ tái phát. 2. Khi một khối u ung thư khó hay không thể mổ (phóng xạ liệu pháp có thể thay thế một can thiệp ngoại khoa hay làm dễ nó, như trong vài trường hợp ung thư tai mũi họng). 3. Với mục đích giảm đau, phóng xạ liệu pháp có thể, thí dụ, làm giảm tạm đau đớn trong một trường hợp ung thư xương di căn.
Hỏi : Có những định vị tạo ra những vấn đề đặc biệt không ?
BS Alain Herrera : Trên vài cơ quan quá nhạy cảm, ta không thể phát ra những liều bức xạ đủ bởi vì ta sẽ không tránh khỏi giết chết một cách quan trong những tế bào lành mạnh. Vấn đề cũng có thể là do vị trí quá gần của những cơ quan thiết yếu, có thể bị thương tổn bởi các tia X. Trong bệnh Hodgkin, ta buộc chiếu xạ những hạch ở trung thất (médiastin), gần tim, điều này có thể gây nên một viêm màng ngoài tim (péricardite) (viêm vỏ bọc tim) và, ở phổi, gây suy hô hấp do xơ hóa (fibrose).
Hỏi : Trước khi đề cập phương pháp mới này, ông hãy giải thích cho chúng tôi một nanoparticule là gì ?
BS Alain Herrera : Các nanoparticule là những nanomatériaux có một kích thước từ 50-100 nanomètre với tầm cỡ nhỏ hơn nhiều một tế bào người, hàng chục ngàn lần nhỏ hơn một sợi tóc ! Trong lãnh vực điều trị, chức năng của chúng là đưa vào trong những tế bào bệnh một nanoparticule được cấu tạo bởi oxyde de hafnium, đây không phải là một phân tử hóa học nhưng là một vật liệu trơ, một ” vecteur ” sẽ phóng thích một loại thuốc.
Hỏi : Ý niệm mới như thế nào ?
BS Alain Herrera : Hôm trước của buổi phóng xạ liệu pháp đầu tiên, ta tiêm vào trong khối u những nanoparticule (dưới dạng huyền dịch trong một chất lỏng). Hôm sau và những ngày tiếp theo, những buổi rọi tia X được thực hiện một cách bình thường với liều thường được đòi hỏi. Những nanoparticule này bên trong những tế bào ung thư sẽ khuếch đại tác dụng của những tia X trong đó tác dụng giết chết sẽ được giảm tốc. Nhưng cường đó rất mạnh này không làm gia tăng nguy cơ thương tổn ở những tế bào lành mạnh chung quanh.
Hỏi : Sau phóng xạ liệu pháp, những nanoparticule này tiến triển như thế nào ?
BS Alain Herrera : Trong những công trình nghiên cứu của chúng tôi ở động vật, chúng tôi đã có thể chứng thực rằng nếu đã không được mổ, các nanoparticule bị bắt giữ và bị loại bỏ bởi các đại thực bào trong nhiều tháng. Ở người, có lẽ sẽ phải cần nhiều tháng.
Hỏi : Cho đến nay, những công trình nghiên cứu nào đã có thể được thực hiện với phóng xạ liệu pháp này ?
BS Alain Herrera : Sau những thử nghiệm xác chứng ở động vật, Cơ quan an toàn dược phẩm quốc gia đã cho phép, cách nay một năm, bắt đầu một công trình nghiên cứu đầu tiên ở người, ở viện Gustave-Roussy. Trước hết thử nghiệm này nhằm xác định số lượng nanoparticule phải được tiêm vào tùy theo mỗi kích thước của khối u. Cho mãi đến nay, 12 bệnh nhân bị sarcome các mô mềm (ở các chị) đã được điều trị. Sau phóng xạ liệu pháp, 11 bệnh nhân đã có thể được mổ không có vấn đề. Bệnh nhân thứ 12 luôn luôn đang được điều trị. Những bệnh nhân đầu tiên này đã cho thấy rằng phương pháp này có thể thực hiện ở người. Giai đoạn kế tiếp sẽ là chứng mình rằng một tính hiệu quả lớn hơn của kỹ thuật này so với phóng xạ liệu pháp quy ước. Chẳng bao lâu nữa một công trình nghiên cứu so sánh sẽ bắt đầu trên nhiều trăm bệnh nhân.
(PARIS MATCH 11/7 – 17/7/2013)

5/ CHỌN LÚC THUẬN TIỆN ĐỂ PHÁT HIỆN UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG.
Nội soi đại tràng (colonoscopie) hay test Hémoccult bắt buộc phải thực hiện tùy theo mức nguy cơ cá nhân. Nhưng sự tuân thủ của các người tham gia không đủ để có thể quan sát thấy những lợi ích về mặt y tế cộng đồng.
PREVENTION. Thất bại của công tác điều tra phát hiện có tổ thức (dépistage organisé) hay sự nhận thức không đủ của dân chúng ? Mỗi năm ở Pháp, ta thống kê được 40.000 trường hợp mới và 17.000 người chết vì những hậu quả của một ung thư đại tràng hay trực tràng (ung thư đại-trực tràng : cancer colorectal). ” Ngoài ra, GS Iradj Sobhani, thầy thuốc chuyên khoa ung thư dạ dày-ruột thuộc CHU Henri-Mondor đã nhấn mạnh như vậy, ung thư này vẫn nghiêm trọng vì lẽ cứ ba người thì có một đã ở một giai đoạn tiến triển, di căn, vào lúc chẩn đoán. “Tuy vậy, ở lứa tuổi 50, mỗi người Pháp đều nhận qua đường bưu điện, một thư yêu cầu đến lấy ở thầy thuốc điều trị của mình một kit de dépistade ung thư đại trực tràng, Hémoccult II, nhằm làm giảm nguy cơ này. Một biện pháp được lặp lại mỗi 2 năm, cho đến năm 74 tuoi nếu không có bất thường, điều này cho phép làm giảm 1/3 nguy cơ chết vì ung thư này đối với những người tham gia.
” Hémoccult được dành duy nhất cho những người đã không có nguy cơ đặc biệt “, BS Jean-Christophe Letard, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa thuộc Polyclinique de Poitiers đã nhấn mạnh như vậy.” Trái lại, ông ta đã nói thêm như vậy, nếu ta có nguy cơ cao, điều đó cần tức thời một trắc nghiệm phòng ngừa, nghĩa là một soi đại tràng (colonoscopie).”Ai có nguy cơ ? ” Khoảng 10% những người từ 50 đến 74 tuổi, GS Sobhani đã đánh giá như vậy, tất cả những người có những tiền sử cá nhân và gia đình về ung thư đại trực tràng hay adénome (thương tổn đôi khi tiền ung thư), một bệnh viêm của ruột hay một nguy cơ di truyền được xác định.” Tuy nhiên ý tưởng sử dụng soi đại tràng như thăm dò phát hiện đối với tất cả những người trên 50 tuổi bị gạt bỏ bởi BS Jérome Viguier, giám đốc của pôle santé publique &soins của Viện quốc gia ung thư bởi vì ” những chương trình châu Âu sử dụng soi đại tràng (Ba Lan, Đức) cũng phải đối đầu với sự tham gia kém của dân chúng đối với thăm dò này.”
Bởi vì Hémoccult chỉ dựa trên sự tìm kiếm những vết máu trong phân, một dấu hiệu gián tiếp của ung thư. Khi trắc nghiệm dương tính (trong 2 đến 3% các trường hợp), thường nhất đó là một sự chảy máu hiền tính nhưng đôi khi đó cũng là dấu hiệu đầu tiên của một ung thư của đại tràng hay trực tràng (ung thư đại-trực tràng). Một trường họp trên mười, nội soi đại tràng, được thực hiện sau một trắc nghiệm dương tính, khám phá một ung thư và ba trường hợp trên mười, đó chỉ là một adénome. Adénome ít nghiêm trọng hơn nhưng nó tiến triển thành ung thư khoảng một trường hợp trên bốn, chính vì vậy nguoi ta phải lấy nó đi.
Vấn đề là ung thư đại-trực tràng phát triển lâu mà không có những triệu chứng nào khác ngoài vài dấu hiệu xuất huyết ruột xảy ra từng hồi khó nhận biết trong phân. Vì vậy cần phải lập lại thăm dò mỗi hai năm, bởi vì trắc nghiệm hiện nay có một độ nhạy cảm 50%, điều này có nghĩa là cứ hai ung thư trắc nghiệm chỉ nhận diện một. Mặt khác, trắc nghiệm này sẽ được thay thế vào năm 2014 bởi những trắc nghiệm miễn dịch học nhạy cảm hơn. ” Mức độ nhạy cảm sẽ gia tăng lên 75-80% nhưng không phải vì vậy gia tăng những nội soi đại tràng vô ích “. BS Vincent Dancourt, người phụ trách tổ chức phát hiện ở Côte-d’Or và Nièvre đã xác nhận như vậy. Nhưng than ôi các lão niên rất thường an tâm sau một trắc nghiệm âm tính và quên làm lại nó mỗi hai năm.
Ngoài ra, mặc dầu những cố gắng được triển khai, cứ ba người thì có hai không tham gia vào công tác phát hiện. ” Có lẽ hệ thống phát hiện của chúng ta sẽ tiến triển, BS Christian Boustière, trưởng khoa bệnh tiêu hóa (bệnh viện Saint-Joseph, Marseille), cựu chủ tịch của Société française d’endoscopie digestive, đã đánh giá như vậy. Chúng tôi đã có những dữ kiện cho thấy rằng công tác điều tra phát hiện không hoạt động tốt. Số những người tham gia quá thấp.”
Vấn đề chính là do sự tham gia không đủ của dân chúng. Vào năm 2010-2011, trên 16 triệu người Pháp được tiếp xúc bởi Assurance-maladie, dưới 5 triệu trong số những người này đã đáp ứng với đề nghị điều tra phát hiện, hoặc một tỷ lệ tham dự 31%. Tuy nhiên, một tỷ lệ cần chỉnh bình bởi vì 3/4 những soi đại tràng được thực hiện mỗi năm được làm ngoài điều tra phát hiện có tổ chức, theo một công trình nghiên cứu của Sfed. Trên 1,28 triệu soi đại tràng được thực hiện ở Pháp năm 2011, thì 6 trên 10 trường hợp liên quan đến những người nằm trong lứa tuổi đích của điều tra phát hiện (50-74 tuổi).
” Sau một soi đại tràng với kết quả bình thường, ta yên ổn được 10 năm “. BS Dancourt đã giải thích như vậy. ” 3 công trình nghiên cứu, được tiến hành lần lượt ở Đức, ở Hoa Kỳ và ở Pháp, cho thấy rằng những người đã từng được một lần soi đại tràng duy nhất sau 50 tuổi có khoảng 2 đến 3 lần ít nguy cơ hơn bị một ngày nào đó một ung thư đại tràng”, BS Boustière đã nói như vậy. Tỷ lệ biến chứng mặc dầu thấp nhưng có thật sự. Trong một báo cáo tháng 12 năm 2012, Assurance-maladie ước tính rằng 30 trường hợp thủng ruột và 40 đến 90 trường hợp xuất huyết nghiêm trọng xảy ra mỗi năm sau một nội soi đại tràng trong khuôn khổ của điều tra phát hiện có tổ chức.
Sau cùng, những người, ở họ ta đã khám phá những adénome khi làm một nội soi đại tràng, trở nên có nguy cơ gia tăng bị ung thư đại trực tràng, dieu này buộc cần theo dõi nghiêm túc.
(LE FIGARO 1/7/2013)

6/ ĐAU LƯNG CÓ THỂ CHE DẤU MỘT NHIỄM TRÙNG ĐƠN GIẢN.
Điều trị đau lưng bất trị (lombalgie récalcitrante) bằng những thuốc kháng sinh ? Ý nghĩ dường như được xác nhận, theo một công trình nghiên cứu được tiến hành ở université de Danemark du Sud. Điểm khởi đầu : sự khám phá những vi khuẩn trong những thoát vị đĩa đã gợi ý một nguồn gốc nhiễm trùng. Những bệnh nhân, đau lưng dưới từ hơn 6 tháng và có những dấu hiệu phù đốt sống trên các hình ảnh IRM, đã nhận 3 tháng điều trị (kháng sinh hay placebo). Sau 6 tháng không dùng thuốc, sự đánh giá đã tỏ ra tốt hơn đối với những bệnh nhân được điều trị tích cực. 1/3 bệnh nhân không còn đau gì nữa cả và 1/2 có thể thực hiện không trở ngại những cử động gấp hay duỗi. Đau trong các cẳng chân cũng đã giảm đi. Những tác dụng có lợi này xuất hiện ngay sau 6 đến 8 tuần điều trị kháng sinh và kéo dài…làm tăng thêm sự vững chắc của lý thuyết nhiễm trùng. Theo kịch bản này, những vi trùng kỵ khí thông thường nằm trong đĩa liên đốt sống, từ đó chúng tác động lên xương đốt sống và kích thích những rễ thần kinh. Sau khi triệt trừ chúng, đốt sống “lành sẹo” và những triệu chứng thoái triển. Tuy nhiên, quá trình này không giải thích tất cả những chứng đau lưng mãn tính.
(SCIENCE ET VIE 7/2013)

7/ TA CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ CHỨNG PHÓNG TINH SỚM ?
Dr André Corman
Médecin sexologue et andrologue
Directeur d’enseignemnt à la Faculté de médecine
Toulouse III.

Hai mươi năm qua đã chứng kiến một bước tiến của các kiến thức y học về sự phóng tinh sớm (éjaculation précoce), dựa trên những bằng cớ. Vào giờ phút xuất hiện trên thị trường một loại thuốc đầu tiên để điều trị bệnh phóng tinh sớm, ta hãy xem vấn đề này và điều trị của nó như thế nào.
Chứng phóng tinh sớm là một loạn năng sinh dục nam (dysfonction sexuelle masculine) thường gặp nhất. Chứng bệnh này liên quan đến khoảng 1/3 những người đàn ông ở vào những lúc khác nhau của cuộc đời, nhưng không biến thiên lớn theo tuổi tác và các lục địa. Nhiều công trình nghiên cứu đã phát hiện rằng chứng phóng tinh sớm gây nên một nỗi đau khổ rất quan trọng ở người đàn ông, dĩ nhiên, nhưng cũng ở người bạn đường phối ngẫu (partenaire) và lứa đôi. Sự phóng tinh sớm có một tác động rất mạnh lên chất lượng sống của những người đàn ông nói chung, đặc biệt trên sự thỏa mãn nhục dục (satisfaction sexuelle), rất bị suy giảm. Chứng phóng tinh sớm cũng ảnh hưởng rất mạnh lên lòng tự tin và lòng tự trọng.
Vấn đề này cũng tác động lên tình dục phụ nữ (sexualité féminine). Ngoài ra, những người đàn ông bị chứng phóng tinh sớm cũng thường cảm thấy tội lỗi rất lớn đối với người bạn đường phối ngẫu của mình. Những khó khăn trong diễn đạt có thể xuất hiện trong đôi lứa vì cả hai thấy khó khăn lúc phải đề cập vấn đề : người phụ nữ, bởi vì nàng sợ đẫy chồng mình vào tình trạng lo âu vì thất bại, sợ làm anh ta đau khổ, sợ làm phật ý anh ta, còn người đàn ông, bởi vì anh ta thích chọn sự phủ nhận và tránh né hơn. Những giao hợp thưa thớt dần (” lại còn phóng tinh quá nhanh, thử thêm lần nữa có được gì không ?), điều này lại càng làm gia tăng sự phóng tinh nhanh và có thể kéo lứa đôi vào một cuộc khủng hoảng.
Chứng phóng tinh được định nghĩa như sau bởi Hiệp hội quốc tế y khoa tình dục (médecine sexuelle) : chứng phóng tinh sớm là một loạn năng sinh dục nam, được đặc trưng bởi một sự phóng tinh, xảy ra luôn luôn hoặc hầu như luôn luôn trước hoặc nhiều lắm khoảng 1 phút sau khi đưa dương vật vào âm đạo (pénétration vaginale), được đặc trưng bởi một sự mất năng lực làm chậm lại sự phóng tinh, vào tất cả lúc hay hầu như tất cả lúc đưa dương vật vào âm đạo và được đặc trưng bởi những hậu quả âm tính cá nhân (conséquences négatives personnelles), như đau khổ, lo lắng, thất vọng và/ hoặc tránh né tính sâu kín sinh dục (intimité sexuelle). Ta phân biệt hai dạng lâm sàng chính : sự phóng tinh nguyên phát (éjaculation primaire), trong đó sự phóng tinh xảy ra rất nhanh, tiếp theo sau hay đôi khi đi trước sự đi vào của dương vật, gần như xảy ra luôn luôn đối với tất cả những giao hợp, đối với tất cả những bạn đường phối ngẫu (partenaire sexuel), từ lúc bắt đầu hoạt động tình dục (activité sexuelle). Một cách cụ thể, thường xảy ra nhất, đó là những người đàn ông, chủ yếu trẻ và thiếu kinh nghiệm, cảm thấy một sự lo âu mạnh về hiệu năng (angoisse de performance). Những người này dưới 30 tuổi, và họ thiếu tập dược rõ ràng. Những người đàn ông trẻ này thường có một thủ dâm tội lỗi (masturbation culpabilisée), và họ quen với việc trút nhanh những căng thẳng của mình bằng sự thủ dâm.
Chứng phóng tinh thứ phát (éjaculation secondaire) xuất hiện sau một thời kỳ đời sống tình dục (période de vie sexuelle), trong đó sự phóng tinh không có vấn đề. Sự thay đổi này có thể là do những biến cố đời sống ảnh hưởng lên cuộc sống thầm kín (thí dụ sự ra đời của một đứa trẻ), những vấn đề thuộc loại tâm lý, quan hệ hay y khoa. Trong trường hợp này, đó thường là do một rối loạn cương (trouble de l’ érection) (khi đó người đàn ông tìm kiếm một sự kích dục tối đa để đạt được và duy trì một sự cương cứng mà anh ta sợ mất và, do đó, anh ta làm vội sự xuất hiện phóng tinh của mình).
Ngoài hai dạng làm sàng chính này, cũng có những người đàn ông kêu ca trong khi mọi việc đều bình thường về thời hạn phóng tinh. Đó là những người đàn ông có trong đầu những hiệu năng xa rời với thực tế sinh dục (réalité sexuelle).
Tất cả những nghiên cứu được thực hiện nêu rõ hai khía cạnh cho phép giải thích bệnh lý này. Khía cạnh đầu tiên thuộc về giới tính học (sexologique) và khía cạnh kia thuộc về hóa học thần kinh (neurochimique).
Khía cạnh giới tính học căn cứ trên một sự thiếu khéo léo tình dục (habilités sexuelles) cho phép kềm chế sự kích thích nhục dục (excitation sexuelle). Một cách cụ thể, bệnh nhân không thể giữ sự kích thích ở những mức dưới mức làm phát khởi phản xạ phóng tinh (réflexe éjaculatoire) và do đó anh ta không thể kéo dài thời gian để đưa dương vật vào.
Khía cạnh hóa thần kinh (neurochimique) căn cứ trên những công trình nghiên cứu về vai trò chủ chốt của một chất trung gian thần kinh não (neuromédiateur cérébral) : sérétonine. Phóng tinh sớm là do sự kiện rằng ta không tìm thấy đủ sérotonine hoạt tính trong những khoang liên khớp thần kinh (espaces intersynaptiques).
Sự xử trí điều trị chứng phóng tinh sớm phát xuất từ hai khía cạnh này. Dĩ nhiên, những phương cách thay đổi tùy theo cá nhân và những tình huống, nhưng thường nhất, chứng phóng tinh sớm sẽ đáp ứng với một điều trị phối hợp, liên kết một liệu pháp giới tính học (thérapie sexologique) với một điều trị dược lý (traitement pharmacologique).
Có nhiều liệu pháp giới tính học hành vi (sexothérapie comportementale) nhằm mang lại cho bệnh nhân những khéo léo trong chorégraphie sexuelle, cho phép anh ta điều biến sự kích dục của mình. Những protocole cổ điển nhất là ” Stop and go” hay ” arrêt-départ ” (ngừng rồi tiến) (nguyên tắc là phân tích sự kích dục thành những nấc và dừng lại ở những nấc này), những đè ép (compressions) hay “Squeeze” (nguyên tắc là dạy cho người đàn ông, bằng những động tác ép khác nhau, làm giảm sự kích dục của mình trong khi anh ta sắp phóng tinh) và thérapie sexofonctionnelle (nguyên tắc là quản lý cường độ của sự kích thích mà người đàn ông nhận và những biến đổi gây nên bởi sự kích dục, nhất là sự hô hấp và trạng thái căng cơ).
Điều trị dược lý dựa trên sự sử dụng một inhibiteur de la recapture de la sérotonine, cho phép có một tính hiệu quả nhanh lên các triệu chứng, hữu ích để tạo cho bệnh nhân động cơ, cần thiết trong trường hợp phóng tinh nặng (dưới 1 phút), để xác lập khả năng có được những khéo léo hay khi đôi lứa đang trong cơn khủng hoảng và yêu cầu một kết quả nhanh.
Mỗi bệnh nhân bị phóng tinh sớm đều có khả năng điều trị nó. Để đạt được điều đó bệnh nhân phải vượt qua sự ngượng ngùng và xấu hổ khi phải đi khám bệnh. Chứng phóng tinh sớm thường nhất là một bệnh lý liên quan đôi lứa và sự tham dự của người vợ hay người tình trong bước điều trị thường là hữu ích. Mỗi bệnh nhân phải có thể nhận một giáo dục tâm-sinh dục (une éducation psychosexuelle) cơ bản. Người thầy thuốc thuc hành ngày nay có những điều trị khác nhau và có thể đề nghị cho mỗi lứa đôi một can thiệp psychosexologique thích hợp, riêng rẻ hay bổ sung cho một liệu pháp dược lý (pharmacothérapie)
(LE FIGARO 18/3/2013)
Ghi chú :
– Sexologie (giới tính học) : sự nghiên cứu về bản năng giới tính (sexualité), về những rối loạn của nó.
– Sexologue : chuyên gia về giới tính học
– Sexothérapie : điều trị những rối loạn nhục dục (troubles sexuels) bằng những phương thức tâm lý trị liệu.

8/ TA HIỂU TỐT HƠN TẠI SAO TA GÃI ?
Tiếp xúc với một ortie, bị côn trùng cắn hay eczéma, những kết quả đều như nhau : đến đột ngột với chúng ta một cảm giác ngứa không kìm lại được. Nhưng làm sao, từ da, thông tin này lên đến tận não để, khi trở lại, phát khởi hành động gãi ? Santosh Mishra và Mark Hoon, những nhà sinh học thuộc National Institute of Health de Bethjesda (Hoa kỳ), đã trả lời câu hỏi này. Họ đã nhận diện chất dẫn truyền thần kinh, ở những neurone cảm giác, tạo thành thông điệp đầu tiên về thông tin ngứa (information urticante). Tên của nó ? “Nppb”, để chỉ polypeptide natriurétique type B. ” Chất dẫn truyền thần kinh này đã được khám phá cách nay đã lâu, nhưng chức năng duy nhất của nó là kiểm soát sodium trong máu. Vậy đó quả là một sự bất ngờ khi phát hiện một chức năng mới, lại trong hệ thần kinh “, Mark Hoon đã giải thích như vậy.Và ông nói thêm : ” Chỉ mới cách nay năm năm, chúng tôi cứ tưởng rằng thông tin ngứa được phát hiện bởi những neurone cảm giác không được biệt hóa và rằng chính não bộ đã chọn lọc giữa những cảm giác đau đớn, bỏng hay ngứa. Công trình nghiên cứu của chúng tôi cho thấy điều ngược lại : có một circuit riêng cho cảm giác ngứa. ”
(SCIENCE ET VIE 8/2013)

9/ BỆNH TIM : PHỤ NỮ KHÔNG ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN TỐT.
Những chiến lược liên quan đến chẩn đoán bệnh và những điều trị phải được thích ứng hơn với giới tính cua người bệnh.
CARDIOLOGIE. Trái tim phụ nữ yếu ớt hơn là điều mà ta hằng tưởng. Trong nhiều năm, tất cả các công trình nghiên cứu về nhồi máu, nguy cơ tim, sự phòng ngừa đều tìm cách tìm những giải pháp cho các người đàn ông. Trên thế giới và ở Pháp vài phụ nữ đã nổi giận về điều đó. Tuần này trong tờ báo Global Heart, tạp chí của Fédération mondiale pour le coeur, các nhà nghiên cứu Hoa kỳ nêu lên những đặc điểm của các bệnh tim ở phụ nữ. Những yếu tố nguy cơ hơi khác, sự biểu hiện bệnh cũng vậy. Về tỷ lệ tử vong, nó cao hơn đối với phụ nữ, sau một nhồi máu cơ tim. Từ nay, phải xét đến những dữ kiện mới này, nhằm thiết đặt những chiến lược chẩn đoán và điều trị thích ứng.
” Trong những năm qua, nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng thương tổn tim không những đã bị đánh giá thấp ở các phụ nữ, mà ngoài ra, bệnh lý này phát triển khác nhau ở phụ nữ so với đàn ông “, các bác sĩ Kavita Sharma và Martha Gulati (Đại học Ohio, Hoa Kỳ) đã nhấn mạnh như vậy. Vài yếu tố nguy cơ ảnh hưởng một cách khác nhau lên hai giới tính. Thí dụ, bệnh béo phì làm tăng 64% nguy cơ nhồi máu cơ tim đối với các phụ nữ và chỉ 46% đối với đàn ông. Các phụ nữ dưới 50 tuổi, đã bị một nhồi máu cơ tim, có một nguy cơ chết hai lần lớn hơn những người đàn ông, mặc dầu mức độ trầm trọng tương đương. Đối với những phụ nữ 65 tuổi bị nhồi máu cơ tim, nguy cơ tử vong trong năm sau quan trọng hơn nhiều : 42% trong số họ chết trong năm tiếp theo, so với 24% của những người đàn ông (những kết quả Hoa Kỳ). Một trong những lý thuyết để giải thích những kết quả xấu hơn này là việc xử trí ít tốt hơn đối với các phụ nữ, đặc biệt, với một sự chậm chẩn đoán, đặc biệt do giáo điều sai trái muốn rằng đối với những bệnh lý tim, các phụ nữ ít dễ bị thương tổn hơn so với đàn ông
MỘT SỰ LAI GIỐNG QUAN TRỌNG HƠN
Một cách gây ngạc nhiên hơn, chụp hình ảnh cho thấy rằng các phụ nữ có khuynh hướng, trái với những người đàn ông, phát triển một sự biến đổi của những động mạch nhỏ của tim, với thương tổn của tiểu tuần hoàn (microcirculation).” Trong khi lúc chụp hình ảnh, các phụ nữ dường như thường không có tắc những động mạch vành chính, nhưng những triệu chứng của họ là do tắc những huyết quản nhỏ, các nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Gần một nửa các phụ nữ bị những rối loạn tim không có tắc các động mạch vành chính. Mặt khác, trên bình diện cơ thể học, những mảng xơ vữa động mạch ở các phụ nữ thường được đặc trưng hơn bởi những xói mòn.”
Thêm vào đó, mặc dầu những yếu tố nguy cơ truyền thống của nhồi máu cơ tim đối với đàn ông cũng giống với các phụ nữ (tố bẩm gia đình, cao huyết áp, bệnh đái đường, tăng cholestérol máu, chứng nghiện thuốc lá, tình trạng nhàn rỗi không hoạt động), nhưng vài khác nhau cũng đang kể. Những phụ nữ, có một người bà con độ một (cha, mẹ, anh hay chị em) đã từng bị nhồi máu cơ tim, có nhiều nguy cơ hơn đến lượt mình bị nhồi máu, so với những người đàn ông trong cùng hoàn cảnh gia đình. Cũng vậy, sự kiện bị đái đường nhân nguy cơ bị nhồi máu cơ tim bởi một thừa số từ 3 đến 7 (theo những công trình nghiên cứu) đối với các phụ nữ, so với 2 đến 3 đối với những người đàn ông. Nếu nguy cơ gia tăng ở người đàn ông theo tỷ lệ thuận với tuổi tác, ở phụ nữ có một cassure của đường biểu diễn, gia tăng một cách lũy tiến sau 60 tuổi.
Công trình nghiên cứu đổi mới này được chấm dứt bởi những nhận xét không chối cãi được :” Các phụ nữ rất bị ảnh hưởng bởi những bệnh động mạch vành. Đó là một trong những nguyên nhân của tỷ lệ tử vong đối với họ. Những đặc điểm của các bệnh động mạch vành của các phụ nữ rất đặc hiệu. Những dữ kiện ngày càng chính xác chứng mình rằng vài chiến lược điều trị phải được thích ứng với giới tính của bệnh nhân, các nhà khoa học đã xác nhận như vậy. Còn cần những công trình nghiên cứu để thiết đạt những phương pháp chẩn đoán và điều trị thích ứng. Những bệnh động mạch vành không phải là những thương tổn chỉ xảy ra ở nam giới.” Đã đến lúc phải nhận thức điều đó.
(LE FIGARO 29/7/2013)

10/ TA CÓ THỂ SỐNG BAO LÂU MÀ KHÔNG CẦN ĂN ?
Một người trưởng thành trung bình có thể đứng vững giữa 70 và 80 ngày không ăn với điều kiện uống. Không uống, người này không còn có thể hy vọng sống hơn 3 ngày. Đó là điều được báo cáo bởi một nhóm các thầy thuốc đã theo dõi những người tuyệt thực giữa năm 2003 và 2004. Nhưng thời gian này có thể thay đổi rất nhiều tùy theo mỗi cá thể, bởi vì tất cả chúng ta không có cùng những dự trữ lúc khởi đầu. Như thế, trong cùng báo cáo này, các thầy thuốc nhắc lại rằng những bệnh nhân béo phì chịu nhịn đói để điều trị có khả năng đề kháng 100 ngày. Trong khi đó ở dân lambda, chết có thể xuất hiện ngay ngày thứ tư.
Thật vậy, sự nhịn ăn bắt cơ thể chịu một loạt các vấn đề. Trong thời gian đầu, có thể lấy trong những dự trữ cổ điển : trước hết là các chất đường, sau đó là các chất mỡ. Mặc dầu cơ thể chịu đuoc tốt sự không có thức ăn, tuy vậy nó sẽ bị ảnh hưởng đôi chút. Trong khoảng 3 ngày, những dự trữ đường bị cạn kiệt. Sau hai tuần, chính những dự trữ mỡ bị cùng số phận.
Trong chương trình của 10 ngày đầu này : dĩ nhiên một cảm giác đói, một sự mất cân, nhưng cũng những cơn đau quặn dạ dày. Cho đến đó, với điều kiện thể trạng cường tráng, vẫn còn có thể mua vé trở về…
SAU 10 NGÀY : NGUY HIỂM
Giữa ngày thứ 10 và 30, sau khi những dự trữ đường và mỡ bị cạn kiệt, có thể không còn lựa chọn nào khác là đào bới các protéine…và như thế làm thoái biến các mô. Danh sách những nỗi khó chịu khi đó kéo dài ra một cách đáng kể. Người đói cảm thấy yếu, sự tập trung bị giảm, càng ngày càng khó diễn đạt. Người đói bị những cơn chóng mặt, đau đầu. Đau các cơ, nhiệt độ hạ xuống. các đợt đau bụng tiếp tục. Sau một tháng, điều đó trở nên hoàn toàn không thể sống được. Các biến chứng nghiêm trọng xuất hiện : suy thận, xuất huyết tiêu hóa, vàng đã… Thân thể lỏng ra khắp nơi. Rồi người đói cuối cùng rơi vào hôn mê. Tình huống không thể đảo ngược được. Còn những người đã không đi xa như vậy và muốn chấm dứt một cuộc nhịn đói kéo dài, nhưng hãy chú ý lúc trở lại bàn ăn : một sự ăn uống trở lại không được quản lý tốt cũng có thể gây chết người
(SCIENCE ET VIE 7/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(18/8/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 316 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 440 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s