Thời sự y học số 313 – BS Nguyễn Văn Thịnh

Allergie aux pollensCHUYÊN ĐỀ VỀ DỊ ỨNG

1/ GIẢI MẪN CẢM DỊ ỨNG : NHỮNG KẾT QUẢ ĐƯỢC CHỨNG TỎ.

                                       Những   con số
15 đến 25% những người Pháp bị   viêm mũi dị ứng
100.000 đợt chữa giải mẫn cảm   được thực hiện mỗi năm ở Pháp
95% những người dị ứng với nọc   độc của hyménoptères có thể được chữa lành

Dị ứng,   một phản ứng quá mức của hệ miễn dịch
1. Trong thì đầu chất dị ứng nguyên (phấn hoa,   acarien, thức ăn…) đi vào trong cơ thể
2. Chất lạ được các tế bào lympho   nhận diện như là dị ứng nguyên allergène).Những tê bào   lympho ghi nhớ ” lý lịch ” của nó và phát khởi
sự sản xuất những kháng thể   đặc hiệu (IgE).
3. Vào lúc một tiếp xúc mới với dị   ứng nguyên, các kháng thể phản ứng
quá mức bằng cách phát khởi   sự phóng thích thái quá histamine.
4. Tính chất vận mạch (vasoactif) của   histamine gây những triệu chứng của
dị ứng : viêm mũi, eczéma,   hen phế quản, phù…
Sự giải mẫn cảm (désensibilisation) nhằm cải tạo hệ miễn dịch bằng cách cho dần dần và rất đều đặn những liều chất dị ứng nguyên.

Tính hiệu quả tùy thuộc bệnh nhân, dị ứng nguyên (allergène) gây bệnh và sự tôn trọng nghiêm chỉnh điều trị.
IMMUNOLOGIE. Nước mũi chảy, mắt đỏ, họng có cảm giác buồn buồn, hách xì liên tiếp, khó ngủ : từ 15 đến 25% dân chúng Pháp bị những triệu chứng khó chịu này của viêm mũi dị ứng. Có nhiều điều trị để làm giảm những biểu hiện này nhưng chỉ có giải mẫn cảm (désensibilisation) mới cho phép điều trị nguyên nhân : một sự định hướng xấu của hệ miễn dịch, không có khả năng chấp nhận sự có mặt của vài dị ứng nguyên hiện diện trong không khí. Tuy nhiên, từ nay tính hiệu quả của điều trị giải mẫn cảm, được chứng minh bởi nhiều công trình nghiên cứu và phân tích méta, tùy thuộc vào profil của bệnh nhân, loại dị ứng nguyên mà bệnh nhân nhạy cảm và sự tuân thủ tốt điều trị bởi bệnh nhân trong một thời gian 3 năm.
Kỹ thuật dựa vào điều chứng thực rằng, nếu những liều nhỏ dị ứng nguyên gây một phản ứng dị ứng, những liều mạnh có thể làm giải cảm ứng cơ thể. Ngay đầu thế kỷ XX, các nhà miễn dịch học đã thành công bảo vệ những bệnh nhân dị ứng với nọc độc của hyménoptères. Chứng cớ đầu tiên của lợi ích của kỹ thuật giải mẫn cảm cũng gây ấn tượng mạnh nhất vì lẽ nó có hiệu quả đối với 95% những bệnh nhân có nguy cơ chết vì bị chích bởi ong vò vẽ (guêpe) hay ong mật (abeille). Từ nay, những loại dị ứng nguyên khác hưởng được phương pháp giải mẫn cảm này, chủ yếu do acarien hay phấn hoa (pollen), chiếm hơn 80% những dị ứng hô hấp. Từ nay cơ chế tác dụng của miễn dịch liệu pháp dị ứng nguyên (immunothérapie allergénique) hoàn toàn được xác định : liệu pháp này cho phép hướng hệ miễn dịch trở lại về một phản ứng bình thường.
Tuy nhiên miễn dịch liệu pháp dị ứng nguyên không phải là một giải pháp phổ cập cho tất cả các dị ứng hay cho những người bị dị ứng. Mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng và sự khó chịu mà chúng gây nên là những tiêu chuẩn đầu tiên phải được đánh giá : những điều trị triệu chứng thường đủ để làm giảm những rối loạn, cũng như để tránh tiếp xúc với các dị ứng nguyên. Chống lại các acarien, từ bỏ nuôi một con mèo hay tránh đi ra ngoài vào những ngày nào đó trong năm vẫn là trận tuyến đầu tiên.” Phải luôn luôn kiểm tra rằng bệnh nhân đúng là bị tiếp xúc và bị gây cảm ứng đối với những dị ứng nguyên đặc hiệu và rằng sự tiếp xúc gây nên những triệu chứng “, GS Pascal Demoly, người phụ trách khoa pneumologie thuộc CHU de Montpellier đã xác nhận như vậy. Thầy thuốc kiểm tra mức gây cảm ứng bằng cách so sánh lịch trình của các triệu chứng với sự hiện diện của một số dị ứng nguyên nào đó trong không khí. Khi đó những trắc nghiệm đã cho phép xác nhận phản ứng dị ứng đối với những dị ứng nguyên này.
” Chú ý, không phải bởi vì đã phản ứng với vài dị ứng nguyên mà bệnh nhân bị gây cảm ứng với chúng, GS Demoly đã nhắc lại như vậy. Những người Mỹ thực hiện sự giải mẫn cảm bằng cách tiêm quy mô lớn đối với tất cả những dị ứng nguyên được nhận diện bởi các trắc nghiệm da. Điều đó không hiệu quả.” Thật vậy sự giải mẫn cảm không thể áp dụng được cho những bệnh nhân đa cảm ứng (patient polysensibilisé) : số những dị ứng nguyên không được vượt quá hai, đôi khi ba, nếu ta muốn có được một kết quả. Ngoài ra, nếu phương pháp này có thể được sử dụng ở mọi lứa tuổi bắt đầu từ 5 tuổi (xem bài 2), thầy thuốc sẽ không thể thực hiện nó nếu bệnh nhân bị vài bệnh lý khác, đặc biệt một hen phế quản không được cân bằng tốt.
Ở Pháp, hơn 100.000 đợt chữa được thực hiện mỗi năm, phần lớn bằng đường miệng nhờ thuốc giọt hay thuốc viên, phải được hấp thụ dưới lưỡi một cách rất hệ thống mỗi ngày. Tính đều đặn và hằng định là thiết yếu cho sự thành công của điều trị, dường như lâu dài đối với các bệnh nhân và khó giữ vững với thời gian. Đối với những viêm mũi dị ứng mùa (rhinite allergique saisonnière), đợt chữa bắt đầu vài tuần trước thời kỳ hiện diện của những dị ứng nguyên trong không khí và được tiếp tục cho đến hết thời kỳ này, trung bình toàn bộ từ 4 đến 6 tháng. Vài nước tiếp tục sản xuất những mũi tiêm hàng tháng, theo vài tác giả, tạo điều kiện cho sự tuân thủ nhưng cũng chịu trách nhiệm, trong những trường hợp rất hiếm, những phản ứng nặng, đôi khi gây chết người. Công tác nghiên cứu rất tích cực để tạo điều kiện cho điều trị (xem bài dưới) và từ nay càng ngày càng nhiều dị ứng nguyên hiện diện trong những viên thuốc.
” Tuy nhiên thật là vô ích nếu cứ tiếp tục theo đuổi giải mẫn cảm, mặc dầu được tuân thủ đúng đắn, nếu nó đã không có hiệu quả trong năm thứ hai. Thường nhất, điều đó có nghĩa rằng phương pháp này không thích ứng với bệnh nhân “, GS Michel Aubier, thuộc service de pneumologie-allergie của bệnh viện Bichat (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Những triệu chứng phải được cải thiện ngay mùa dị ứng thứ hai và, bắt đầu từ năm thứ ba, hiệu quả của điều trị giải cảm ứng đạt tối đa để rồi được duy trì sau đó trong 3 đến 5 tháng.
(LE FIGARO 10/6/2013)

2 / DỊ ỨNG TRẺ EM : CHA MẸ PHẢI CÓ ĐỘNG CƠ.
” Sự giải mẫn cảm làm giảm những triệu chứng của dị ứng và hen phế quản ở trẻ em, dầu được cho thuốc như thế nào.” Kết luận này của một phân tích méta từ 30 công trình nghiên cứu, được công bố ngày 6 tháng nằm trong tạp chí Pediatrics, xác nhận lợi ích của miễn dịch liệu pháp dị ứng nguyên (immunothérapie allergénique) trong nhi khoa, với những kết quả càng có sức thuyết phục khi điều trị càng sớm.
Một công trình nghiên cứu đang được tiến hành để xác nhận một giả thuyết ngày càng có vẻ thật : điều trị giải mẫn cảm có thể phòng ngừa hen phế quản. Những yếu tố chứng cớ như thế có thể cho phép điều trị những trẻ dưới 5 tuổi, ngày nay vốn bị loại trừ bởi một quy chế được xác lập khi chỉ có những mũi tiêm để điều trị. Tuy nhiên, những công trình mới nhất chỉ rằng những dị ứng này và tố bẩm hen phế quan được thành hình rất sớm, có lẽ ngay cả trong tử cung, nhưng những công trình nghiên cứu về những đối tượng trẻ như thế khó có thể thực hiện được.
” Sự giải cảm ứng ở trẻ em đã cho phép làm giảm những triệu chứng của hen phế quản và lượng thuốc cần thiết để điều trị nó “, GS Jacques de Blic, trưởng service de pneumolgie-allergologie thuộc hôpital universitaire Necker-Enfants malades (Paris) đã nhấn mạnh như vậy.
Tuy nhiên, cũng như ở người lớn, điều trị chỉ được thực hiện khi có thể mang lại một sự cải thiện cho những triệu chứng gây khó chịu.” Thật là vô ích khi điều trị một đứa bé không kêu ca gì hết, nhất là khi ta không có thể đánh giá tính hiệu quả của điều trị.” Hen phế quản, thường được liên kết với các dị ứng ở trẻ em, cũng phải được điều trị ổn định hoàn toàn. Một khi sự gây cảm ứng (sensibilisation) được chứng minh, đối với một số nhỏ các dị ứng nguyên, điều trị thường tỏ ra có hiệu quả ở trẻ em hơn so với người lớn. Chưa có những viên thuốc để giải cảm ứng những dị ứng đối với acarien ở trẻ em, thường gặp nhất ở lứa tuổi này, nhưng ngày nay có thuốc giọt phát xuất từ những chế phẩm được làm thanh khiết và hoàn toàn được tiêu chuẩn hóa.
Động cơ của bố mẹ tuy nhiên vẫn là chìa khóa thật sự của sự thành công : những thuốc viên hay thuốc giọt phải được dùng mỗi ngày và được duy trì vài phút dưới lưỡi, trong những tuần dài và trong nhiều năm. Những mũi tiêm có thể giải quyết điều trở ngại này nhưng nhiều chuyên gia cho rằng thật là vô ích khi bắt chịu một động tác đau đớn và gây nguy cơ hơn cho trẻ em trong khi điều trị bằng đường miệng cũng cho những kết quả tốt.
Những kết quả cũng được duy trì nhiều năm sau điều trị và cho phép trả lại sự vô tư cho đứa trẻ. Một sự vô tư thường bị đặt lại vấn đề bởi một loại dị ứng khác ngày càng thường gặp ở trẻ em : những dị ứng thức ăn. Vài trong những dị ứng này, mà những hậu quả có thể bi thảm, đã là đối tượng của những thử nghiệm điều trị và cũng sẽ được nhận những điều trị giải cảm ứng trong những năm đến.
(LE FIGARO 10/6/2013)

3/ CÁC DỊ ỨNG NGUYÊN ĐƯỢC KIỂM SOÁT DƯỢC HỌC.
Những viên thuốc được làm tan dưới lưỡi, mới xuất hiện gần đây trong kho thuốc giải mẫn cảm, được cho phép đưa ra thị trường sau khi đã chứng tỏ, theo những quy tắc kỹ thuật được đòi hỏi bởi quy chế an toàn hiện nay, tính hiệu quả của chúng mà không gây nguy cơ. Một quá trình kiểm tra mà sự thực hiện khó khăn và tốn kém, nhưng được biện minh đối với những dị ứng thường gặp nhất.
Hiện nay, những dị ứng nguyên chịu trách nhiệm 80% những dị ứng đối với phấn hoa (pollen) hiện diện trong các viên thuốc và tiếp ngày sau đó là các acarien, điều này hẳn cho phép điều trị đại đa số những dị ứng hô hấp. Những tiến bộ này đã có thể thực hiện bởi vì quá trình giải mẫn cảm, từ nay hoàn toàn được xác định, có thể được định lượng trong những nghiên cứu và thêm vào những yếu tố bằng cớ tính hiệu quả.
Khi hệ miễn dịch được thành hình, trong thời thơ ấu và ngay cả trước đó, nó phải học nhận diện, trong số những yếu tố lạ tấn công cơ thể thường trực, những yếu tố phải được dung nạp và những yếu tố cần phải chống lại, và với cái giá nào. Khi đó những loại phản ứng khác nhau được phát khởi trước sự hiện diện của những yếu tố này, đường “bình thường”, TH1, và đường “dị ứng”, TH2.
ĐIỀU TRỊ BẰNG PATCH.
” Sự giải mẫn cảm (désensibilisation) nhằm cải tạo hệ miễn dịch hướng về đường TH1, đặc biệt sản xuất những tế bào lympho điều hòa (lymphocytes T régulateurs), GS Alain Didier, trưởng service de pneumologie-allergologie thuoc CHU de Toulouse đã giải thích như vậy. Những tế bào lympho này, mới được khám phá gần đây, cân bằng cán cân giữa TH1 và TH2 và tạo điều kiện cho sự dung nạp đối với các dị ứng nguyên. Những công trình nghiên cứu mới đây cũng cho thấy rằng những tận cùng sợi nhánh (terminaisons dendritiques), hiện diện dưới lưỡi, làm dễ sự sản xuất những tế bào lympho điều hòa, số lượng ít hơn ở những người dị ứng.
Hiện nay, sự nghiên cứu về miễn dịch liệu pháp dị ứng nguyên (immunothérapie allergénique) đang trong thời kỳ phát triển. Các phòng thí nghiệm ra sức phát triển những nguồn dị ứng nguyên thuần chất mới, những thuốc bổ trợ (adjuvant) mới để làm gia tăng tính hiệu quả của những điều trị và những đường cho thuốc mới như patch, nhằm tạo điều kiện cho sự tuân thủ điều trị. Các nhà nghiên cứu cũng đã tấn công những dị ứng thức ăn bằng những phương pháp giải mẫn cảm và gây nên sự dung nạp, sẽ dẫn đến những điều trị trong những năm đến.
Sự phát triển những thuốc điều trị, được cho phép thương mãi hóa, làm dễ sự tiêu chuẩn hóa những điều trị và sự kiểm soát những lạm dụng. Tuy nhiên nó tạo điều kiện cho những điều trị có thể áp dụng đối với những bệnh lý thường gặp hơn. Những dị ứng nguyên được bào chế một cách đặc hiệu cho một cá thể (Apsi : allergène préparé spécifiquement pour un individu), dạng dược phẩm ban đầu được phát triển để giải mẫn cảm, không được phép thương mãi hóa, nhưng phụ thuộc một đạo luật khác đảm bảo an toàn sự sản xuất chúng.
(LE FIGARO 10/6/2013)

4/ THAY ĐỔI THỜI TIẾT CÓ LÀM TĂNG NGUY CƠ DỊ ỨNG ?
Professeur François-Bernard Michel
Vice-président de l’Acasémie de médecine
Professeur Pascal Demoly
Vice-président de l’Académie européenne
d’ allergie et d’immunologie clinique

Ở khắp nơi, tần số của các bệnh dị ứng, hô hấp, mắt và da gia tăng, nhưng với những mức độ thay đổi tùy theo những vùng trên thế giới. Thí dụ, ở châu Âu, tần số của bệnh hen phế quản biến thiên theo một gradien bắc-nam : từ 18% ở Vương quốc Anh xuống 4% ở Tây Ban Nha, qua 8% những người trưởng thành ở Pháp ; cũng vậy, tần số này chuyển từ 5,5% ở Đông nam Á lên 9% ở châu Á Thái bình dương, 17% ở Bắc Mỹ và 25% ở Úc đại lợi. Viêm mũi dị ứng, thường gặp hơn, cũng biến thiên từ 30% ở Pháp so với 10 đến 20% ở phần còn lại của châu Âu và 40% ở Úc. Trong khi hen phế quản, thường không được chẩn đoán đủ, có lẽ bị đánh giá thấp và viêm mũi dị ứng trái lại được đánh giá cao do sự không chắc chắn của các bảng câu hỏi, những tỷ lệ luu hành mạnh này và những gia tăng đột ngột này đúng là dường như do một hiện tượng mới đây và được nhất trí chia sẻ. Đó là những tấn công hóa học, vật lý và sinh học gây dị ứng mà chúng ta bị tiếp xúc không phân biệt, dị ứng hay không. Hiện tượng này cũng do những thay đổi thời tiết và bầu khí quyển, càng ngày càng được nhận diện tốt hơn.
Những hạt phấn hoa sản xuất những giao tử đực và nẩy mầm khi chúng rơi vào nhụy của một hoa cái cùng loài. Được phóng thích trong thời kỳ thụ phấn (pollinisation), chúng phụ thuộc, về lượng và chất, môi trường, đặc biệt là nhiệt độ. Từ lâu, một mối liên hệ chặt chẽ đã được chứng minh giữa toàn bộ những nhiệt độ suốt trong một thời kỳ nhất định và thời điểm bắt đầu thụ phấn của một loài, những lượng của các hạt phấn hoa được phát ra, được rải rác và được lắng xuống. Với sự gia tăng nhiệt độ, các thời kỳ thụ phấn gia tăng thời gian và cường độ, tạo điều kiện cho những dị ứng phấn (allergie pollinique) khác ở những người đa cảm ứng (polysensibilisé) hay làm dễ những dị ứng ở những người đã không từng bị. Đó là trường hợp đối với những phấn hoa của cay bách (cypres) ở miền Nam nước Pháp (+18 ngày từ 1980 đến 2002), của cay ô liu (olivier) (+18 ngày) và của cay gai tường (pariétaire) (=85 ngày) cũng như của ambroisie trên lục địa bắc mỹ (+1 đến 27 ngày tùy theo vĩ tuyến từ 1995 đến 2009). Chính vì vậy, những trẻ sinh ra trong những mùa nhiều phấn hoa này và bị tiếp xúc với những lượng lớn phấn được hít vào bất hạnh thay sẽ có thiên hướng dị ứng hơn.
Liên kết với sự tăng cao nhiệt độ (trung bình 0,7 độ C trong thế kỷ vừa qua) thường là sự tăng cao của CO2 trong khí quyển (+22% trong 30 năm). Những hạt của CO2 gắn vào những hạt phấn hoa được hít vào, tăng gấp mười lần công suất gây dị ứng (puissance allergisante) của chúng, như điều đó đã được chứng minh đối với ambroisie và bouleau. Một bầu không khí nhiều CO2 tác động lên bộ máy sinh sản của thực vật đồng thời làm gia tăng 30% khối lượng toàn thể của nó, 19% kỳ nở hoa (floraison), thời kỳ thụ phấn cũng như khả năng sinh dị ứng. Ở Hoa kỳ, ta đã chứng thực rằng những lượng phấn hoa của ambroisie đã gia tăng 132% từ thời đại công nghiếp và rằng trong trung tâm thành phố Baltimore, hơi nóng hơn (+2 độ C) những vùng nông thôn lân cận và nhiều CO2 hơn (+30%), ambroisie sản xuất nhiều phấn hoa hơn (+189%). Cũng vậy, những hạt phấn hoa của phéode, cây làm thức ăn gia súc (plante fourragère) nổi tiếng về khả năng gây dị ứng mạnh của nó, phóng thích những lượng dị ứng nguyên lớn hơn khi chúng được tiếp xúc với những nồng độ tăng dần của CO2. Điều này giải thích rằng những thực vật có tiếng ít gây dị ứng trở nên gây dị ứng khi ở gần các đường vòng (rocade) và xa lộ. Ngoài ra, CO2 và các hạt diesel tạo điều kiện cho sự gây cảm ứng dị ứng nguyên (sensibilisation allergénique), vì thế, một mặt, những người không có tố bẩm di truyền đối với dị ứng có thể, lúc tiếp xúc với chúng, phát khởi viêm mũi với sự kích hoạt nhiều ổ tế bào và tổng hợp những kháng thể của dị ứng ; mặt khác, viêm mũi dị ứng nói chung và viêm mũi đối với phấn hoa của cây thông tuyết (cèdre) ở Nhật Bản nói riêng, ảnh hưởng thường hơn những cá thể ở gần những đường xá có mật độ lưu thông cao.
MỘT CƠ CHẾ PHÒNG THỦ LỖI THỜI.
Nhà chuyên khoa dị ứng phải xét đến những mùa thụ phấn dày đặc hơn và dài lâu hơn này cũng như những thay đổi di truyền, đối với thực vật là một cách đáp ứng, thậm chí một cách sống sót trước những tấn công của khí hậu, đồng thời biết rằng những protéine của chúng gây dị ứng hơn trong môi trường đô thị, là nơi sự ô nhiễm không khí tấn công và kích thích những niêm mạc hô hấp và mắt, thậm chí da, do những hạt vi thể (microparticule) diesel được hít vào và do sự sản xuất ozone, đồng thời làm giảm vai trò hàng rào bảo vệ của chúng. Như thế, niêm mạc mũi, hấp thụ 40% ozone được thở, đáp ứng bằng một viêm cấp tính rồi mãn tính với sự tăng cao histamine, một trong những sản phẩm được tìm thấy với số lượng gia tăng ở những người bị dị ứng. Cũng vậy, những dị ứng nội thất (acarien, lông động vật, mốc) dường như độc lực hơn do sự tăng cao nhiệt độ và độ ẩm trong các nhà ở. Do đó, IgE (kháng thể của dị ứng được sản xuất quá mức chống lại những dị ứng nguyên có vẻ vô hại) phải chăng chứng tỏ một cơ chế phòng vệ lỗi thời được tái sử dụng để chống lại những môi trường mới và nguy hiểm ? Thật vậy, chúng ta hãy nhắc lại rằng, nếu “dị ứng” từ nay chỉ các căn bệnh, thì những dị ứng này phát xuất từ những thái quá của một cơ chế miễn dịch tự nhiên phòng vệ cơ thể con người
(LE FIGARO 8/10/2012)

5/ PARACETAMOL CÓ LIÊN QUAN TRONG DỊ ỨNG.
Paracétamol có thể tăng gấp ba tỷ lệ dị ứng ở các em bé.

– Cùng với thời tiết đẹp, các dị ứng lại nãy nở trở lại.
– Theo một công trình nghiên cứu mới   đây, một phần nguy cơ là do liều lượng của paracétamol.

 Một công trình nghiên cứu, được tiết lộ hôm nay bởi giáo sư Françoise Smets, gastroentérologue và hépatologue pédiatrique ở Cliniques universitaires Saint-Luc (UCL), cho thấy một sự gia tăng đáng kể số những trẻ em bị dị ứng sau khi chúng đã nhận những liều paracétamol, một trong những loại thuốc hạ sốt và chống đau thường được sử dụng nhất. Paracétamol hiện diện trong nhiều loại thuốc, nhưng những dạng được biết nhiều nhất là Doliprane, Dafalgan, hay Efferalgan. Nhà nghiên cứu và kíp đã theo dõi 300 trẻ em trong 5 năm, đã cố nhận diện điều gây nên nguy cơ phát triển một dị ứng ở nhũ nhi, mặc dầu biết rằng nhiều dị ứng nhi đồng có thể biến mất với tuổi tác.
Thí dụ, có bố mẹ hay anh chị em bị dị ứng làm tăng nguy cơ này 42% đối với nhũ nhi. Nhưng nhà nghiên cứu nữ cũng đã khám phá một cách ngạc nhiên mối liên hệ với sự sử dụng paracétamol.Thí dụ,” nguy cơ dị ứng càng gia tăng khi càng sử dụng paracétamol “. Vào lúc 18 tháng sự khác nhau này chưa lớn lắm, vì lẽ 86% các trẻ em dị ứng đã nhận dược phẩm này ít nhất một lần, so với 67% những trẻ không dị ứng. Và 50% những trẻ dị ứng đã nhận hơn một lần paracétamol so với 33%. Những sự khác nhau gia tăng hơn nữa với thời gian : vào lúc 36 tháng, 40% những trẻ dị ứng đã nhận hơn hai lần so với 13% ở những trẻ không dị ứng, hoặc ba lần nhiều trẻ em hơn…
” Những dữ kiện này, cần phải được xác nhận bởi những kết quả sẽ được thu thập sau 5 năm quan sát, phù hợp với những kết quả của vài chuyên gia người Anh, đã đánh giá rằng nguy cơ phát triển một hen phề quản được nhân lên gấp ba lần. Vài chuyên gia ngay cả khuyên không nên sử dụng paracétamol đối với những trẻ mà bố mẹ hay gia đình có một profil dị ứng “, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy.
Điều này loại bỏ nguy cơ rằng công trình nghiên cứu này lẫn lộn nguyên nhân và hậu quả, nghĩa là sẽ là điều bình thường khi những trẻ dị ứng dùng nhiều hơn loại thuốc này để làm giảm những triệu chứng của bệnh dị ứng của chúng. ” Chúng tôi đã xếp loại những đứa trẻ tùy theo số lần trung bình bị những nhiễm trùng. Thật vậy những trẻ có hơn 3 đợt nhiễm trùng trong 18 tháng đầu đã tiêu thụ nhiều những thuốc kháng viêm và kháng sinh hơn nhưng không nhiều paracétamol hơn”. Vậy đó đúng là loại thuốc chịu trách nhiệm sự gia tăng này của nguy cơ.
Phải làm gì để giảm thiểu điều đó ? Sử dụng mặc nhiên ibuprofène, một thuốc thông thường khác với cùng những tính chất ? ” Đối với tất cả các trẻ em, chắc chắn là không, bởi vì ibuprofène có nhiều tác dụng phụ thường gặp hơn, như loét tiêu hóa hay những bệnh gan và điều này quan trọng hơn so với một sự gia tăng khả dĩ của nguy cơ dị ứng.Trái lại, đối với những trẻ đã tuyên bố thật sự bị một bệnh dị ứng, sử dụng ibuprofène hơn là paracétamol thật sự được khuyến nghị bởi vài chuyên gia, nhưng đặc biệt với một sự theo dõi nghiêm túc những nguy cơ liên kết với sự mất nước.”
” PHẢI TRÁNH CHO MỘT LOẠI THUỐC KHI KHÔNG CẦN THIẾT.”
Đối với giáo sư Franoise Smets, chủ yếu phải tránh sử dụng những loại thuốc như paracétamol hay ibuprofène khi chúng không cần thiết. ” Về cá nhân tôi, tôi chủ trương ibuprofène không được bán tự do (không cần toa bác sĩ) vì sự việc này đôi khi đưa đến những hậu quả nghiêm trọng do sự lạm dụng. Sử dụng quá thường xuyên một thuốc chống đau hay chống sốt, đó gần như là một phản xạ của nền văn minh của chúng ta. Đôi khi các ông bố và bà mẹ đã không biết những động tác đơn giản khác như cởi quần áo đưa trẻ.Ta mở quá nhanh tủ thuốc…Cho đến một nhiệt độ 38,5 độ, tốt nhất là cởi quần áo đưa trẻ, thậm chí để trần truồng, mà không sợ gây cảm lạnh. Và cho đứa bé tắm nước ấm (một hay hai độ thấp hơn nhiệt độ của nó). Sốt đã được cơ thể tạo ra để chống lại bệnh, không nên loại bỏ nó với bất cứ giá nào và nhằm một mục tiêu lý tưởng 37,2 độ thân thể. Dĩ nhiên, đứa trẻ có thể sẽ càu nhhàu. Theo dõi nó tắm trong một nửa giờ, điều đó đòi hỏi thời gian. Không nhất thiết là điều dễ dàng. Nhưng một loại thuốc, đôi khi dường như là giải pháp đơn giản và nhanh nhất, không nhất thiết là một panacée. Cũng vậy, ta thường cho một cách tự động một thuốc chống sốt hay chồng đau sau khi được tiêm chủng hay sau khi mổ. Thế mà điều đó làm giảm tính hiệu quả của thuốc chủng, vậy không nhất thiết là hữu ích. Không nên coi thường việc sử dụng các loại thuốc.”
(LE SOIR 17/4/2013)

6/ MỘT PATCH ĐỂ GIẢI MẪN CẢM
DỊ ỨNG. Chống chứng sổ mũi mùa (Rhume de foins)

                                 Những điều chủ yếu
– Mùa dị ứng phấn hoa đang trở lại
– Một patch giải mẫn cảm đang được bào chế   ở Zurich
– Tính hiệu quả của nó đáng chú ý

 Những ngày qua, những điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự phát ra những phấn hoa (cây bouleau). Đối với những người bị dị ứng thì đó là một tin xấu. Nhất là từ nay đến cuối tháng năm các graminée sẽ đến tiếp sức.
Để tránh mũi chảy và cay mắt, một sự giải mẫn cảm (désensibilisation) có thể được xét đến. Những loại điều trị này cần thời gian lâu dài (nhiều năm) và cần những mũi tiêm đều đặn.
Tại sao không thăm dò một đường trung gian, thực hiện đơn giản hơn ? Đó đúng là thách thức mà BS Gabriella Senti, thuộc Centre de recherche clinique của bệnh viện đại học Zurich (Thụy Sĩ) đã sẵn sàng nhận lấy.
Không dám chắc ghi được cùng những kết quả như một giải mẫn cảm thật sự, ý tưởng của người thầy thuốc và kíp nghiên cứu của ông là kiểm tra xem trong những chừng mực nào một patch đơn thuần chứa 6 loại phấn hoa khác nhau có thể hạn chế những triệu chứng của chứng sổ mũi mùa.
” Toàn bộ, 132 người bị chứng sổ mũi mùa đã thử patch của chúng tôi, BS Gabriella Senti đã giải thích như vậy. Họ đã mang chúng 6 lần ở phần trên của cánh tay trong 24 giờ. Thí nghiệm đã diễn ra năm 2008 trong hai tháng, ngay trước khi những phấn hoa của graminée bắt đầu lưu hành trong không khí.”
Các kết quả ? Thật đáng ngạc nhiên ! Những patch này đã làm giảm 70% những triệu chứng của sổ mũi mùa !
” Những kết quả tốt này là do hai tính chất của da, BS Senti đã đánh giá như vậy. Da gồm nhiều tế bào có khả năng nhận diện các vật lạ và phát khỏi một phản ứng miễn dịch nhắm đích (réaction immunologique ciblée). Đối với phấn hoa, thật là tuyệt hảo. Ngoài ra, những lớp ngoài của da không chứa các huyết quản. Điều đó làm giảm nguy cơ các dị ứng nguyên đi vào trong máu, và do đó gây nên những đáp ứng miễn dịch toàn thể “.
Kinh nghiệm của Thụy Sĩ hiện nay vẫn chỉ là…một thí nghiệm. Thật là vô ích ào đến các hiệu thuốc để mua những patch phấn hoa. Trước khi đạt được điều đó, nhiều vấn đề còn phải được giải quyết.
Để cho phép các phấn hoa đến tiếp xúc với những tế bào miễn dịch của biểu bì, các nhà nghiên cứu bắt đầu cào da, để lấy đi lớp ngoài bao phủ nó. Điều đó được thực hiện với một adhésif. ” Những kết quả này không tuyệt hảo, nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Nhưng chúng tôi cũng thích trắc nghiệm những phấn hoa khác để xác định xem phương pháp này, thí dụ, cũng hiệu quả với những dị ứng nguyên của cây bouleau. Chúng tôi cũng nghĩ có thể làm giảm bớt những phản ứng miễn dịch đối với những chất khác, đặc biệt là thức ăn, như những arachides. Điều đó còn đòi hỏi phải được nghiên cứu. Sau cùng, chúng tôi cũng đang tìm kiếm một partenaire industriel “.
” Một khi những chướng ngại này đã được loại bỏ, sau cùng chúng tôi sẽ có một phương tiện đơn giản để chống lại những trận dịch mới phát xuất từ nền văn minh này. Không những những patch của chúng tôi làm giảm trung bình 70% những triệu chứng của rhume de foins, nhưng ngoài ra tác dụng bảo vệ này vẫn luôn luôn hiện diện phần nào một năm sau mà không cần dùng những patch mới. Như thế ta có nó như một công cụ đáng lưu ý so với những phương pháp giải cảm ứng khác dưới da hay dưới lưỡi “, vị thầy thuốc đã kết luận như vậy.
(LE SOIR 2/5/2012)

7/ DO ĐÂU MÀ NHIỀU NGƯỜI DỊ ỨNG VỚI GLUTEN ?
Ỉa chảy, bón, đau bụng, mệt…” Sự không dung nạp đối với gluten “, một phản ứng dị ứng tấn công niêm mạc ruột, rất gây trở ngại cho cuộc sống hàng ngày. Ở châu Âu cứ 100 người thì có một bị tình trạng dị ứng này. Ngày nay, giải pháp duy nhất là không ăn gluten nữa. Nói thì dễ hơn là làm, khi biết rằng hỗn hợp protéine này là một thành phần của phần lớn các ngũ cốc (céréales) và do đó ta tìm thấy chúng trong nhiều thức ăn, như bánh mì và pâte. Tại sao không có một điều trị nào ? Chủ yếu là bởi vì những nguyên nhân của dị ứng đối với gluten vẫn không được biết rõ. Trong khi các nhà khoa học đã có thể xác lập rằng có những tố bẩm di truyền, thì sự nghiên cứu các yếu tố chịu trách nhiệm dị ứng đối với gluten đã dẫn đến những kết quả gây ngạc nhiên : ít nhất 13 vùng của các nhiễm sắc thể làm dễ bị bệnh… nhưng không một vùng nào liên quan với hệ tiêu hóa ! Vài vùng có một vai trò trong hệ phòng vệ chống lại các virus ; những vùng khác có liên hệ trong sự kiểm soát những tế bào miễn dịch chịu trách nhiệm những bệnh tự miễn dịch. Phát xuất từ điều chứng thực này, ngày nay vài giả thuyết đã được đưa ra. Thí dụ, những nhiễm trùng do virus có thể liên hệ với sự xuất hiện của căn bệnh. Hoặc là một liên hệ giữa dị ứng gluten và vài bệnh tự miễn dịch như bệnh đái đường loại 1 hay bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Nhưng hiện nay không dứt điểm một sự chắc chắn nào. Và điều đó càng ít hơn khi các nhà nghiên cứu nghĩ rằng khoảng 50 yếu tố di truyền khác liên kết với dị ứng này vẫn cần phải được khám phá.
(SCIENCES ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

8/ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA HÁCH XÌ
Sự thở ra đột ngột làm kích hoạt trở lại những tế bào mũi có nhiệm vụ lọc không khí được hít vào.
PNEUMOLOGIE. Những cảm giác kim châm đột ngột loan ra trong suốt vùng cao của mũi. ” Hách xì !” Chẳng làm gì được, điều đó sẽ lại bắt đầu.” Hách xì ! “. Nhưng quỷ quái gì làm ta hách xì trong khi ta không bị bệnh ? Theo các nhà nghiên cứu của đại học Pennsylvanie (Hoa Kỳ), sự bùng nổ không cưỡng lại được này không chỉ cho phép đuổi các hạt (particule) và những tác nhân gây bệnh khác có thể chất đầy đường mũi. Nó còn có một chức năng khác, cho đến nay không được nghi ngờ. Bằng cách gây nên một tăng áp lực (surpression) bên trong phổi cho đến tận mũi, sự thở khí ra đột ngột kích hoạt trở lại hệ lưu thông niêm dịch (mucus) có nhiệm vụ giữ bụi và phế thải chúng.
Khi ordinateur của bạn bắt đầu ramer, bạn tắt nó. Khi bạn bắt đầu khởi động lại, nó hoạt động tốt hơn. Hách xì cũng hơi giống với Crtl Alt Suppr của hệ hô hấp. Nó đẩy mạnh trở lại máy, Noam Cohen, người đã chỉ đạo những thí nghiệm phòng thí nghiệm được tiến hành bởi kíp ông ta, đã tóm tắc như vậy. Đó là một chức năng cứu và duy trì hệ hô hấp.
Trong những điều kiện bình thường, không khí hít vào được thanh lọc trước khi đến các phế nang, ở đây những trao đổi khí được thực hiện (O2 đổi lấy CO2). Các lông mũi có một vai trò rất thứ yếu, chúng chỉ giữ những hạt bụi lớn. Công tác quét sạch được đảm bảo bởi hai loại tế bào phủ các thành của đường dẫn khí phía trên các phế nang : mũi, khí quản và các phế quản. Trước hết những tế bào biểu mô sản xuất các dịch nhầy (niêm dịch). Chúng bắt giữ các hạt bụi và ngăn cản không cho các thành của đường dẫn khí bị khô. Sau đó, những tế bào tiêm mao (cellules ciliées) làm trượt, như một tapis roulant, niêm dịch tích chứa các chất bẩn về phía miệng hay mũi. Mỗi trong những tế bào tiêm mao này có khoảng một trăm lông vi thể (poils microscopiques) với những móc ở đầu mút. Chịu những cử động đập thường xuyên, các lông mao bám lấy niêm dịch và đưa niêm dịch này lên về phía lối ra. Vào mùa đông cơ chế bị chậm lại vì lạnh, điều này tạo điều kiện cho cảm cúm.
” MỘT HƯỚNG ĐIỀU TRỊ “
Hách xì xảy ra khi hệ thanh lọc bắt đầu không hoạt động. Các nhà nghiên cứu đã khám phá điều đó lúc cấy trong phòng thí nghiệm những tế bào tiêm mao được lấy ở mũi chuột và người.” Thao tác không gây đau và cấy được thực hiện dễ dàng “, Christelle Coraux, chuyên gia biểu mô hô hấp thuộc Inserm (Reims) đã xác nhận như vậy. Khi cho những tế bào này chịu cùng điều kiện áp suất như những điều kiện gây nên khi hách xì (năng lượng và thời gian), họ đã chứng thực một sự gia tăng tần số của các cử động đập. Sự gia tăng này được kích hoạt do sự sản xuất của nhiều phân tử đặc hiệu mà các nhà nghiên cứu Hoa kỳ đã tìm thấy với những nồng độ tăng cao ở những người vừa mới hách xì. Sau hết, nếu vài người hách xì thường xuyên, đó là bởi vì những hách xì của họ không có hiệu quả. ” Đặt những giọt của các phân tử này trong mũi có thể là một hướng điều trị “, Noam Cohen và kíp nghiên cứu đã kết luận như vậy. ” Các hách xì do dị ứng thuộc về một quá trình khác, Chrisrelle Coraux, về phía mình, đã nhấn mạnh như vậy. Và đối với những bệnh lý nặng nề hơn, hướng của những tế bào gốc biểu mô (cellules souches épithéliales) là hướng nghiêm chỉnh nhất “.
(LE FIGARO 22/8/2012)

9/ TẠI SAO TA NHẮM MẮT KHI HÁCH XÌ ?
Đó là một sự kiện : chúng ta nhắm cả hai mắt khi chúng ta hách xì. Và không thể thoát khỏi hiện tượng này vì hai lý do.Trước hết, hách xì là một phản xạ có liên quan đến toàn cơ thể. Trong trường hợp niêm mạc mũi tiếp xúc với một vật lạ hay trong trường hợp kích thích, các cơ dành cho sự thở ra (cơ hoành, các cơ gian sườn) làm lồng nguc co đột ngột để tống khí ra khỏi phổi. Sự đi lên dữ dội của không khí đến tận mũi thình lình gây một hồi lưu không khí với áp suất rất cao trong ống lệ (canal lacrymal) (chảy qua đó lượng dư thừa của nước mắt co nhiệm vụ làm ẩm). Sự đi đến đột ngột của khí làm phát khởi sự kích thích phản xạ các cơ của mí mắt và mí mắt tức thời khép lại. Mặt khác sự dữ dội, cần thiết để tống xuất vật lạ, gây nên một cử động toàn thể các cơ, đến độ đôi khi gây đau lưng, một cử động mà các mí mắt đôi khi cũng tham dự vào.
(SCIENCES ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

10/ VỆ SINH THÁI QUÁ LÀM DỄ HEN PHẾ QUẢN
Môi trường nhiễm trùng là quan trọng cho sự phát triển tốt của hệ miễn dịch.
INFECTIONS. Làm sao giải thích sự gia tăng của hen phế quản và các dị ứng từ nhiều năm nay ở các nước phương Tây ? Giả thuyết vệ sinh học (théorie hygiéniste) quy sự gia tăng này là do những điều kiện vệ sinh tốt hơn vào thời thơ ấu, nhưng cơ chế vẫn còn bí ẩn. Một công trình nghiên cứu, được công bố trong tạp chí Science (27/4/2012), vừa làm sáng tỏ điều đó khi tìm thấy một vai trò quyết định của ruột trong rối loạn này của hệ miễn dịch.
Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ thuộc Trường Y Havard cho thấy rằng nếu khuẩn chí ruột (flore intestinale) không được tạo thành ở chuột sau khi sinh, những tế bào miễn dịch có liên hệ trong hen phế quản dị ứng tích tụ trong phổi của các động vật.” Công trình này xác nhận tầm quan trọng của môi trường nhiễm trùng của trẻ sơ sinh đối với sự phát triển tốt của hệ miễn dịch, GS Jean-François Bach, thuộc Viện hàn lâm khoa học, chuyên gia về lý thuyết vệ sinh học, đã nhấn mạnh như vậy. Khuẩn chí ruột và những nhiễm trùng xảy ra lúc còn nhỏ tuổi như thế có thể điều biến những năng lực miễn dịch tương lai của chúng ta.”
Mặc dầu các dị ứng và hen phế quản có một thành phần di truyền, nhưng sự gia tăng của chúng trong những nước phát triển cũng cáo buộc yếu tố môi trường, mặc dầu chưa một yếu tố trách nhiệm rõ ràng nào đã được nhận diện. Lý thuyết vệ sinh học phát xuất từ quan sát năm 1989, bởi một thầy thuốc dịch tễ học người Anh, rằng trong những gia đình đông con, rhume de foins và eczéma thường xảy ra ở những đứa con cả, ít tiếp xúc hơn so với những đứa con thứ, đối với những nhiễm trùng và ít bị những thiếu sót vệ sinh hơn. Điều này gợi ý rằng sự tiếp xúc ở lứa tuổi còn nhỏ với các vi trùng là cần thiết cho sự giáo dục hệ miễn dịch. Ý tưởng này khi đó đã được hỗ trợ bởi sự kiện là những trẻ em ở nông thôn, do tiếp xúc với một lượng các vi trùng lớn hơn, nên chúng ít nguy cơ hơn trở thành hen phế quản hay dị ứng.
VAI TRÒ CỦA KHUẨN CHÍ RUỘT
Làm thế nào sự tiếp xúc với các vi trùng lại có thể tác động dài lâu lên hệ miễn dịch ? Một chỉ dấu đầu tiên về vai trò ruột xuất hiện năm 2004 : các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Michigan đã nhận thấy rằng một điều trị kháng sinh tấn công khuẩn chí ruột, hay microbiote, có thể gây nên một sự mẫn cảm đối với hen phế quản ở chuột. Năm tiếp theo, một kíp những nhà nghiên cứu Trung Quốc tạo một tiến bộ mới bằng cách phân lập trong phổi những bệnh nhân hen phế quản những tế bào miễn dịch cần thiết cho sự phát khởi hen phế quản. Những tế bào này, được gọi là iNKT, có đặc điểm duy nhất là nhận biết những glycolipide, những phân tử thường gặp trong môi trường, nhất là trong những vi khuẩn và phấn hoa.
Và chính mối liên hệ giữa sự hiện diện của các tế bào và những vi khuẩn ruột bây giờ đã được xác lập bởi các nhà nghiên cứu của Havard (Boston). Những nhà nghiên cứu này cho thấy rằng các con chuột ngay từ khi sinh không có khuẩn chí ruột, có những lượng rất lớn những tế bào iNKT trong ruột và trong phổi, bằng cớ cho thấy rằng sự hiện diện của các vi khuẩn ruột điều hòa sự phát triển của chúng. Những động vật này tỏ ra rất nhạy cảm với hen phế quản dị ứng và viêm ruột già.
Đáng ngạc nhiên hơn, sự tái lập khuẩn chí ruột của chúng ở tuổi trưởng thành không có thể điều chỉnh những phản ứng bệnh lý này của hệ miễn dịch. Ở người, những kết quả này cũng giải thích tại sao những trẻ sinh ra sau khi mổ césarienne hay sau khi đã nhận các kháng sinh lúc tuổi còn nhỏ, có một nguy cơ hơi cao hơn phát triển hen phế quản hay dị ứng.
“SỰ CÂN BẰNG TINH TẾ ”
Tầm quan trọng này của microbiote đối với sự phát triển tốt của hệ miễn dịch không làm ngạc nhiên Gérard Eberl, giám đốc của đơn vị phát triển của những mô lympho ở viện Pasteur, bởi vì ” trong ruột, những lực của hệ miễn dịch tham gia nhiều để duy trì một sự cân bằng với microbiote, một trong những yếu tố đầu tiên của thế giới bên ngoài mà cơ thể đến tiếp xúc. Và chính sự cân bằng tinh tế này, được tạo nên trong quá trình tiến hóa, mà những điều kiện vệ sinh mới đây đã biến đổi “.
Khuẩn chí (faune bactérienne) định cư trong ruột của chúng ta có một tầm quan trọng mới. Ở người, microbiote nặng khoảng 1 kg, đại diện cho hơn 10.000 tỉ vi khuẩn thuộc hơn 1000 loài khác nhau. Những loài vi khuẩn này giúp chúng ta tiêu hóa những thức ăn, bảo vệ chúng ta chống lại những vi khuẩn sinh bệnh khác hay giúp có được vài vitamine, nhưng cũng có vẻ có một ảnh hưởng sâu xa hơn nhiều lên cơ thể của chúng ta. ” Vai trò của các microbiote đối với sức khỏe của chúng ta bắt đầu được biết rõ hơn, Jean-François Bach đã kết luận như vậy, và kiến thức này có lẽ sẽ mở ra những triễn vọng điều trị mới đối với nhiều căn bệnh.”
(LE FIGARO 15/5/2012)

11/ CÓ ĐÚNG LÀ THỂ THAO TRÌNH ĐỘ CAO LÀM DỄ HEN PHẾ QUẢN ?
Thể thao không phải luôn luôn đi đối với sức khỏe. Những vận động viên thể thao trình độ rất cao dường như có một tính mẫn cảm đối với hen phế quản cao hơn mức trung bình. Ngay năm 1998, một công trình nghiên cứu được tiến hành ở Phần Lan đã cho thấy, trong khi hen phế quản chỉ ảnh hưởng 4% dân chúng Phần Lan, rằng nó gây bệnh cho 23% nhưng vận động viên trình độ quốc gia hay quốc tế. Ngược lại, những vận động viên thể thao trình độ khu vực dường như không bị hen phế quản nhiều hơn dân lamda. Theo một công trình nghiên cứu của Na Uy, dành hơn 20 giờ mỗi tuần cho luyện tập, làm các động viên chịu một nguy cơ 1,9 lần cao hơn nguy cơ của những vận động viên luyện tập ít hơn 10 giờ mỗi tuần.
Nguy cơ hen phế quản cũng biến thiên tùy theo môn thể thao được thực hành. Nguy cơ cao hơn nhiều đối với một vận động viên marathon hơn là đối với một vận động viên cử tạ. Nói một cách khác, hen phế quản dường như ảnh hưởng nhất là những môn đồ của những môn thể thao đòi hỏi sự dai sức (endurance) như chạy bộ, bơi lội, đua xe đạp hay ski de fond. Thế mà ưu thế này không phải là tối thiểu. Yếu tố nguy cơ được nhân gấp hai đối với một vận động viên chạy bộ so với một vận động viên ném lao.
Nhưng điều đó có gì là gây ngạc nhiên ? Chính trong những môn thể thao đòi hỏi dai sức mà các vận động viên thở sâu nhất và theo nhịp tăng cao nhất. Như thế chúng làm dễ sự viêm của các đường hô hấp. Thật vậy, những tiểu phế quản (bronchiole) và những phế nang, hoặc những đường dẫn khí ngoại biên, khi đó bị liên hệ trong quá trình sưởi nóng và làm ẩm không khí hít vào. Quá trình này, bình thường chỉ liên hệ những thành mũi, làm khô và lạnh những thành của phế nang và những tiểu phế quản phổi, tất cả những điều được thể hiện bởi quá trình viêm của chúng. Ngoài ra, những vận động viên chuyên về những môn thể thao mùa đông bị hen phế quản nhiều hơn nhưng vận động viên luyện tập trong những môi trường nóng và ẩm. Nhiệt độ và mức độ hygrométrie của không khí hít vào càng thấp, thì sự khô của các đường dẫn khí càng nghiêm trọng và sâu. Vậy nhưng skieur de fond là những vận động viên thể thao bi hen phế quản do tập luyện nhất.
PHẢN ỨNG PHÒNG VỆ CỦA CÁC PHẾ QUẢN
Sự quan sát phổi của những vận động viên như thế đã cho thấy một sự dày lên của các thành của các phế quản và những tiểu phế quản, một sự giãn của các mạch máu phổi và một sự gia tăng số các tế bào lympho và các dưỡng bào (mastocyte), những tế bào, trong các phế nang, có nhiệm vụ bắt giữ các chất bẩn và do đó đóng một vai trò trong miễn dịch. Tất cả những yếu tố này nhắc lại bệnh hen phế quản “cổ điển”. Tuy nhiên, trong khi một người bị hen phế quản, nhưng không phải vận động viên thể thao, bị khó thở sau khi hoạt động vật lý, thì những vận động viên thể thao chỉ cảm thấy khó thở trong khi gắng sức. Rõ ràng : như thế, ở những vận động viên điều giống với hen phế quản không phải là như vậy. Đó đúng hơn là một phản ứng phòng vệ của các phế quản đối với sự làm khô của niêm mạc, gây nên bởi tăng thông khí (hyperventilation). Mặt khác, sự mất nước của niêm mạc gây nên sự phóng thích các phân tử, những neuropeptide, tác động lên những tận cùng thần kinh giác quan và gây ho. Mặt khác, sự giãn các mạch máu phổi và sự sản xuất thừa niêm dịch là những cơ chế bù những mất nước do sự tăng thông khí. Hai quá trình sinh lý này có hậu quả tai hại là làm dày lên thành của các phế quản và do đó gia tăng nhất thời sức cản của đường dẫn khí đối với sự đi qua của không khí.
Giải thích khả dĩ khác cho sức cản các đường dẫn khí : géométrie phổi đặc biệt ở những vận động viên thể thao lớn. Những điều biến toán học (modélisation mathématique) khiến nghĩ rằng những vận động viên này có những lá phổi với một thể tích cực đại so với kích thước của lồng ngực của họ. Như thế những vận động viên thể thao có một năng lực hô hấp lớn hơn những người khác. Mặt trái của chiếc médaille : géométrie đặc biệt này gia tăng sức cản đối với sự hít không khí vào, làm các lá phổi dễ bị những khó khăn hô hấp hơn.
(SCIENCES ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(17/7/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 313 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 502 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s