Thời sự y học số 312 – BS Nguyễn Văn Thịnh

khop goi gia1/ NHỮNG KHỚP GỐI GIẢ CHO PHÉP TÌM THẤY LẠI MỘT CUỘC SỐNG HOẠT ĐỘNG

                                                 Những con số
50.000 người được mổ mỗi năm ở Pháp để đặt một khớp goi giả
15 đến 20 tuổi Đó là tuổi thọ trung bình của một khớp gối giả
4 đến 6 tháng phục hồi chức năng cần thiết trước khi có thể thực hành trở lại một môn thể thao.
Một khớp gối giả dầu hiệu năng đến mức nào cũng không cho phép tìm lại khớp mà ta có ở tuổi 20.

Đối với hơn 80% những người mang một khớp gối giả (prothèse du genou) như thế, kết quả đáp ứng với kỳ vọng.
ORTHOPEDIE. Bởi vì phí tổn đặt các prothèse khác nhau của khớp gối ở Pháp được Sécurité sociale bồi hoàn, nên chúng rất được theo dõi. Chính trong khung cảnh của sự theo dõi này mà đầu tháng năm 2013, Cơ quan an toàn dược phẩm quốc gia đã mở một điều tra sau khi đã khám phá ra rằng khoảng 650 prothèse (háng) của laboratoire Ceraver đã được đặt nhưng không có cerfification CE. Laboratoire Ceraver nhận lỗi hành chánh, nhưng biện hộ với sự giải thích rằng đó là prothèse đã được chứng nhận sau khi vừa chịu những biến đổi nhỏ.
Cũng vậy, 4 prothèse với một film antibactérien đã được đặt cho những người có nguy cơ nhiễm trùng nhưng ngoài khung cảnh của một thử nghiệm lâm sàng đáng ra phải được thực hiện. Do đó đang tiến hành một sự gia tăng theo dõi ở những người được mổ. 50.000 người khác được mổ mỗi năm để đặt khớp giả đầu gối không toàn không bị liên hệ bởi vụ việc này.
” Phẫu thuật đặt khớp gối giả (chirurgie de la prothèse du genou) đã nhận được nhiều tiến bộ, nhất là về những kỹ thuật ngoại khoa cho phép đặt prothèse vào vị trí tốt hơn và về việc điều trị giảm đau hậu phẫu, BS Guillaume Grosjean, thầy thuốc ngoại chỉnh hình thuộc CHU Cochin (Paris) và ở Clinique Ambroise Parré (Neuilly-sur-Seine) đã giải thích như vậy. Nhưng một prothèse khớp gối, dầu hiệu năng như thế nào đi nữa, không cho phép tìm lại khớp mà ta có vào lúc 20 tuổi ! “. Một ý kiến được chia xẻ bởi BS Simon Marmor, trưởng khoa chỉnh hình thuộc bệnh viện Croix-Saint-Simon (Paris): ” Sau phẫu thuật, ít nhất 80% những người đã nhận một prothèse đầu gối sẽ có thể làm mọi chuyện với khớp gối giả này. Nhưng đối với những người được mổ khác, mặc dầu chất lượng của prothèse hay kỹ thuật mổ không bị đặt vấn đề, nhưng những kết quả sẽ không hoàn toàn đáp ứng với mong chờ : thí dụ, vài tư thế vẫn sẽ ít thoải mái. Lại còn đôi khi, chính đau nhẹ còn sót hay đau xuất hiện vào lúc thay đổi thời tiết sẽ tạo vấn đề. Chỉ cần những bệnh nhân này không được báo trước về những bất tiện có thể xảy ra này hay họ đã nghĩ rằng sẽ tìm thấy lại đầu gối ở lứa tuổi 20, thì hẳn họ sẽ thất vọng. Điều quan trọng là phải hiểu rằng một khớp gối giả đầu gối cho phép tìm lại khớp của một sédentaire actif…Chứ không nhất thiết phải là khớp của một thanh niên thể thao có thể cho phép làm mọi chuyện.”
Hiện nay, không thể biết trước ai sẽ là người đáp ứng tốt hay xấu với cuộc mổ. ” Không có chỉ dấu sinh học có khả năng tiên đoán những bệnh nhân nào se tiếp tục vẫn đau sau khi được đặt prothèse, nhưng chúng tôi nghiên cứu những đặc điểm của đau trước khi mổ, với hy vọng từ nay đến hai hoặc ba năm, phân biệt những người có nhiều may mắn nhất được thuyên giảm bởi cuộc mổ với những người sẽ không được như vậy “, GS Francis Berenbaum, trưởng khoa thấp khớp thuộc bệnh viện Saint-Antoine, đã giải thích như vậy.

Ta cũng biết được vài yếu tố có khả năng làm giảm những cơ may thành công của can thiệp, mà ta có thể tác động trên thượng nguồn. ” Gia tăng thể trọng là một yếu tố nguy cơ gây biến chứng và hư mòn sớm prothèse khớp gối. Cũng vậy, một bệnh đái đường cân bằng kém (diabète mal équilibré) làm gia tăng những nguy cơ gây biến chứng nhiễm trùng. Trong hai tình huống này, thầy thuốc ngoại khoa chỉnh hình có thể phải trì hoãn ngày can thiệp, để cho phép sự trở lại một thể trọng hợp lý hơn và một sự kiểm soát bệnh đái đường tốt hơn “, BS Simon Marmor đã ghi nhận như vậy.
Lại còn những điểm khác có thể tác động vào : ” Hút thuốc làm gia tăng những nguy cơ hóa sẹo xấu. Hãy ngừng thuốc lá trong ít nhất 6 tuần trước khi can thiệp và sáu tuần sau đó, đó là điều chủ yếu. Có thể đó cũng là cơ hội tốt để ngừng vĩnh viễn ! Sau cùng, điều cần phải làm : kiểm tra không có ổ nhiễm trùng, đặc biệt răng hãy đường tiểu, và điều trị nếu cần. Và sẽ remuscler bằng cách bước, bơi lội, thực hiện những động tác gập-duỗi mỗi ngày, bởi vì những luyện tập này được thực hiện trước khi mổ làm dễ sự phục hồi chức năng sau này”, BS Grosjean đã nhắc lại như vậy.
Một khi những điểm này đã được giải quyết trước khi mổ và sau khi thầy thuốc gây mê đã đồng ý, can thiệp có thể được lên chương trình. ” Can thiệp có thể được thực hiện với gây mê tổng quát (trường hợp thường gặp nhất) hay tại chỗ vùng (anesthésie locorégionale). Cuộc mổ keo dài từ một giờ đến một giờ rưỡi, tùy theo loại prothèse được đặt và kỹ thuật ngoại khoa. Những prothèse đơn giản nhất, chỉ một ngăn (prothèse unicompartimentale) chỉ thay thế 1/3 khớp gối : nói chung những prothèse này được đặt ở những người còn tương đối trẻ, chỉ có một phần nhỏ đầu gối bị hư mòn.
Phần lớn những prothèse khác là hoàn toan (prothèse totale), với ba ngăn (trong, ngoài và bánh chè). ” Tất cả những prothèse được đặt trong đất nước chúng tôi (Pháp) đều có chất lượng tốt. Điều khác nhau, đó là kỹ thuật của thầy thuốc ngoại khoa, bởi vì prothèse phải được đặt một cách hoàn hào để tạo lại khớp nguyên thủy càng hoàn hảo càng tốt, nhưng cũng để phục hồi chức năng”, BS Grosjean đã nói tiếp như vậy.
Để có cải thiện sự chính xác khi đặt, các thầy thuốc ngoại chỉnh hình có thể nhờ một assistance informatisée : ” Những capteur nhỏ được đặt trên xương đùi (fémur) và xương chày (tibia) trong khi mổ, để giúp thầy thuốc đặt prothèse theo trục tốt nhất có thể được. Khả năng khác trong khi đánh giá : thực hiện trước khi mổ những guides sur mesure, từ một IRM của khớp được thực hiện trước khi mổ, và sau đó cho phép đặt prothèse vào vị trí với độ chính xác từng milimet “, BS Marmor đã giải thích như vậy. Phải chăng cuối cùng có một kỹ thuật lý tưởng ? Vâng : đó là kỹ thuật mà thầy thuốc ngoại khoa làm chủ tốt nhất !
(LE FIGARO 3/6/2013)

2/ KHỚP GỐI GIẢ : KHI NÀO PHẢI MỔ ?
Khớp gối giả (prothèse du genou) nhằm thay thế một khớp gối đã quá hư mòn để có thể chăm lo những công việc hàng ngày, như bước, xuống hoặc lên cầu thang…, mặc dầu một điều trị y khoa được tiến hành đúng đắn.
” Chụp X quang cho thấy một hư khớp (arthrose) ở giai đoạn rất tiến triển, điều đó ít quan trọng, bởi vì ta mổ một người tùy theo triệu chứng đau đớn khó chịu của bệnh nhân, chứ không phải tùy theo phim chụp X quang. Ngoài ra, chính điều trị nội khoa chứng hư khớp phải đứng hàng đầu : vậy phải dùng hết tất cả những khả năng hiện có (những thuốc giảm đau, những thuốc kháng viêm, những tiêm ngấm (infiltration), kiné liệu pháp, mang semelle orthopédique để bù lại một thiếu sót trục…), GS Francis Berenbaum (thầy thuốc khoa thấp khớp, bệnh viện Saint-Antoine) đã nhấn mạnh như vậy.
Những can thiệp khác, nhẹ hơn và được thực hiện với hy vọng làm chậm lại sự đặt một khớp gối giả, như rửa khớp (lavage articulaire) hay cắt lọc khớp (débridement articulaire) với cắt bỏ sụn nem (méniscectomie) hay không, càng ngày ít được ưa thích : ” Ta đã nhận thấy rằng những can thiệp này thường không có hiệu quả hơn kiné liệu pháp và không làm chậm lại chút nào sự đặt một khớp gối giả “, BS Berenbaum đã nói tiếp như vậy.
Vì lẽ tuổi thọ của một khớp gối giả là 15 đến 20 năm, do đó ta tránh tối đa đặt nó trước 60 tuổi, ngoại trừ không có lựa chọn nào khác bởi vì sự đau đớn quá gây trở ngại, điều này được thấy, thí dụ, trong trường hợp di chứng của một chấn thương nặng với hư khớp xảy ra sớm. Ta càng tránh mổ quá sớm nhất là khi bệnh nhân còn trẻ và nhất là khi người được mổ đòi hỏi vận dụng nhiều hơn prothèse được đặt, điều này làm giảm tuổi thọ của khớp gối giả này. Thế mà việc thay một prothèse khớp gối bằng một prothèse khác vẫn còn có thể làm, “nhưng điều đó được thực hiện với cái giá của một can thiệp thường phức tạp hơn, với một prothèse de révision (khớp giả sửa đổi), được gọi như thế khi can thiệp phải chữa tạm một chất lượng xương xấu và/hoặc một tư thế xấu của các dây chằng bên. Những prothèse này đôi khi được trang bị bởi những tige (hay quille) được đưa vào bên trong xương đùi hay xương chày “, BS Simon Marmor, thầy thuốc ngoại khoa chỉnh hình (bệnh viện Croix- Saint-Simon, Paris) đã nhấn mạnh như vậy.
KHÔNG PHẢI BẤT CỨ MÔN THỂ THAO NÀO
Trước khi nghĩ đến “can thiệp”, cũng phải chắc chắn rằng ta mong muốn được mổ vì những lý do tốt, nếu không sẽ thất vọng : ” Vài người đến khám chúng tôi, bởi vì chứng hư khớp gối của họ khiến họ bị trở ngại lúc thực hành thể thao. Họ nghĩ rằng một khớp gối giả sẽ tránh cho họ điều khó chịu này. Nhưng trên thực tế, tất cả các môn thể thao, nguồn gốc của những va chạm nhỏ (micro-impact) (như VTT, judo, rugby…) đều bị cấm chỉ sau khi đặt khớp gối giả, bởi vì nguy cơ xuất hiện những gãy xương vi thể (microfracture) rất quan trọng, nhiên hậu dẫn đến descellement “, BS Guillaume Grosjean (thầy thuốc ngoại chỉnh hình, CHU Cochin, Paris và Clinique Ambroise-Parré, Neuilly-sur-Seine) đã nhấn mạnh như vậy.
Nhưng không phải vì thế mà khớp gối giả cấm không cho thực hành thể thao (sau khi phục hồi chức năng), nhưng không phải bất cứ môn thể thao nào : ” Vẫn được cho phép, randonnée, golf, bơi lội, vélo trên địa hình phẳng, voile và tại sao không, ski, với điều kiện thực hiện nó hors saison (ít nguy cơ va chạm) và trên những piste thích ứng với trình độ. Tất cả là vấn đề giới hạn ! “, GS Berenbaum đã ghi nhận như vậy.
(LE FIGARO 3/6/2013)

3/ KHỚP GỐI GIẢ: PHỤC HỒI CHỨC NĂNG : KHÔNG ĐƯỢC ĐỐT GIAI ĐOẠN
Ngay ngày hôm sau sau khi mổ, bệnh nhân đã có thể đứng và bước với một chiếc gậy. Về phía mình, kinésithérapeute có thể bắt đầu những vận động thụ động của cẳng chân bị mổ. Sau 4 đến 5 ngày, bệnh nhân được chuyển đến một trung tâm phục hồi chức năng (hay nếu không, trở về nhà với những buổi kiné liệu pháp) được dự kiến trong 3 đến 4 tuần. Và sau 45 ngày bệnh nhân lại được phép lái xe.
” Vì sau một tuần những người được mổ đã tìm thấy lại một cơ thể học tốt, nên vài người không thấy được sự cần thiết phải theo đuổi sự phục hồi chức năng, huống hồ là phải đến một trung tâm phục hồi. Nhưng đó là điều chủ yếu, bởi vì những kết quả lâu dài của khớp gối giả tùy thuộc vào tính chất nghiêm túc của công tác phục hồi được thực hiện. Chính vì thế tôi nhấn mạnh với các bệnh nhân của tôi để họ thực hiện trung bình 4 giờ kiné liệu pháp mỗi ngày”, BS Guillaume Grosjean (bệnh viện Cochin, Paris và Clinique Ambroise-Paré, Neuilly-sur-Seine) đã nhận xét như vậy. Ý kiến này được chia xẻ bởi BS Simon Marmor (bệnh viện Croix-Saint-Simon, Paris) : ” Những mạng điều trị hậu phẫu ngoại trú đang được thiết đặt ở Pháp, theo mô hình của điều đã được thực hiện ở Hoa Kỳ. Những mạng này sẽ cho phép tổ chức một phục hồi chức năng tiêu chuẩn hóa, thoải mái hơn và phí tốn ít hơn.”
TIẾN LÊN NHƯNG KHÔNG ĐAU
Mặc dầu hai thầy thuốc ngoại chỉnh hình đều nhất trí về tính hữu ích của sự phục hồi chức năng này, những cả hai cũng cảnh cáo chống lại sự phục hồi quá mức (excès de rééducation) : ” Chẳng ích lợi gì khi muốn làm quá nhiều , quá nhanh. Một phục hồi chức năng được tiến hành tốt là một phục hồi cho phép thực hiện những tiến bộ mỗi ngày mà không gây đau. Nếu bị đau, đó hoặc là người ta ép quá mức, hoặc là có một bất thường và trong tất cả các trường hợp cần nói điều đó với thầy thuốc ngoại khoa của mình. Y hệt như thế nếu vết sẹo trở nên đỏ, nóng, đau hay một chất dịch chảy ra từ đó, lần này đó có thể là dấu hiệu của một nhiễm trùng cần được điều trị cấp cứu “, BS Marmor đã nói tiếp như vậy. ” Dầu sao, một tháng sau khi mổ, cần thực hiện xét nghiệm máu để tìm kiếm một viêm nhiễm “, BS Grosjean đã nhận xét như vậy. “Trong trường hợp bất thường được chứng thực và khi có chút ít nghi ngờ nhiễm trùng, cần chọc dò khớp để tìm kiếm một vi trùng và một xét nghiệm máu để kiểm tra CRP (một chất chỉ dấu sinh học của nhiễm trùng). Điều đó cho phép phát hiện sớm nhiễm trùng và rửa prothèse trong trường hợp cần thiết. Đó là điều quan trọng bởi vì hơn một tháng sau khi đặt, một prothèse bị nhiễm trùng phải được thay thế. Mặc dầu điều đó rất hiếm xảy ra, nhưng đó là một tình huống cần phải tránh “, GS Grosjean và Marmor đã nhấn mạnh như vậy.
Một khi đã vượt qua tháng đầu, tế nhị nhất, còn cần phải cấm mọi sự quá mức ! Dẫu sao, nếu ta không tôn trọng nguyên tắc này, chính khớp có nhiệm vụ nhắc lại cho chúng ta điều đó : khớp trở nên nhạy cảm, đôi khi sưng lên. Đó là dấu hiệu cho biết rằng phải cho khớp nghỉ ngơi ngay, dùng các thuốc kháng viêm nếu cần và dĩ nhiên đi khám bệnh.
” Ngược lại, khi ta theo đúng những y lệnh về phục hồi chức năng khớp gối, ta có thể hy vọng giữ prothèse trong 20 năm (đôi khi lâu hơn bởi vì đó là tuổi thọ trung bình). Vào lúc đó, đầu gối thứ hai đôi khi cũng cần được mổ. Nếu vậy, ta chờ đợi cho khớp gối đầu đã hồi phục trước khi đặt prothèse cho đầu gối thứ hai, nhưng trung bình cần 6 tháng”, BS Berenbaum đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 3/6/2013)

4/ CÀ PHÊ KHỔNG XẤU CHO SỨC KHOẺ.
NUTRITION. Một sự tiêu thụ có mức độ, từ 3 đến 4 tách cà phê mỗi ngày, ngay cả có tính chất bảo vệ.

– Mỗi giây (!), nhân loại tiêu thụ tương đương 253 kilo cà phê dưới   dạng nước uống. Một cà phê chủ yếu phát xuất từ Brésil (36% sản xuất thế   giới) và Việt Nam (14,5%). Tiếp theo là Nam dương, Colombie và Ethiopie. Những nước sản xuất cà phê khác mỗi nước chỉ chiếm dưới 4% sản xuất thế giới.
– Trung bình, người Bỉ tiêu thụ 5 kg cà phê mỗi năm
– Nhưng dầu đó là một petit noir bien serré, một ly cà phê sữa lớn hay một déca, tác động của sự tiêu thụ này lên sức khỏe của chúng ta là gì ?

Cà phê có mặt ở khắp nơi ! Ở nhà, ở nơi làm việc, ở bistrot… Phản xạ petit noir hay grand café au lait ăn sâu vào trong đầu của chúng ta.
Tác dụng kích thích của caféine lên cơ thể không cần phải chứng minh nữa. Tác động của nó lên nhịp tim của chúng ta cũng vậy.
Và theo tin mới nhất, cà phê dường như có cả một tác dụng bảo vệ nào đó
chống lại… chứng trầm cảm. Đó là điều được tiết lộ bởi công trình nghiên cứu của các viện y tế quốc gia (Hoa Kỳ) (NIH), được trình bày ở San Diego trong bối cảnh hội nghị hàng năm của Hiệp hội thần kinh học Hoa Kỳ.
Nhưng phải chăng cà phê thật sự tốt cho sức khỏe ? Hay trái lại phải dè chừng điều đó ? Có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này. Nhưng không phải tất cả các nghiên cứu này đều đi theo cùng một hướng.
Để minh định vấn đề, chúng tôi đã yêu cầu giáo sư André Van Gossum (ULB, Bỉ), trưởng khoa lâm sàng ” Maladies intestinales et du support nutritionnel “, thuộc bệnh viện Erasme, làm sáng tỏ.
Đúng là vấn đề đang được đặt ra. 8 triệu tấn cà phê được sản xuất mỗi năm trên thế giới. Về sự tiêu thụ cà phê, những người châu Âu rõ rệt đứng đầu thế giới.
Ở Bỉ, chúng ta tiêu thụ mỗi người 5,09 kilo cà phê mỗi năm, theo những thống kê của Tổ chức thế giới (và liên chính phủ) về cà phê. Hoặc hơi nhiều hơn những người Mỹ (4,2 kilo) nhưng hơi ít hơn người Pháp (5,7 kilo mỗi năm và mỗi người) và rõ rệt ít hơn những người Scandinave, vô địch thế giới về vấn đề này. Những người Phần Lan mỗi năm tiêu thụ 12 kilo cà phê !
Nhưng tác dụng của nguồn cung cấp thực phẩm to lớn này lên các ung thư, sức khỏe của trái tim của chúng ta, sức khỏe của não bộ của chúng ta, dịch bệnh đái đường thế giới là gì ?
UNG THƯ : KHÔNG CÓ HẬU QUẢ ÂM TÍNH
” Về sức khỏe, những mối liên hệ giữa cà phê và những ung thư khác nhau đã là trong số những vấn đề được nghiên cứu nhất cho đến nay bởi giới khoa học “, BS Van Gossum (Erasme) đã chỉ rõ như vậy.
” Về ung thư tụy tạng, từ lâu ta đã nghi ngờ một tác dụng âm tính của cà phê. Nhưng nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện năm 2012 đã quét sạch mối lo sợ này.”
Về ung thư bàng quang, trước đây cũng có một sự hoài nghi. Những dữ kiện mới nhất từ nay loại bỏ điều đó : vậy không có những mối liên hệ và dường như ngay cả có một tác dụng có lợi !
Sau cùng, về những ung thư tiền liệt tuyến và vài ung thư TMH, những hợp chất phénol của cà phê (chủ yếu acide chlorogénique, những chất chống oxy hóa) ngay cả có một vai trò bảo vệ nào đó.
” Dĩ nhiên, tất cả điều đó với một sự tiêu thụ cà phê hợp lý, hoặc nhiều nhất 3 đến 4 tách mỗi ngày”, vị thầy thuốc đã xác nhận như vậy.
BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.
Trong bối cánh của bệnh đái đường loại II ở những người trưởng thành và đặc biệt ở những người già (bệnh đái đường liên kết với tuổi tác và/hoặc những thói quen ăn uống xấu), sự tiêu thụ cà phê đều đặn được khuyến nghị.
” Trong những tháng vừa qua, gia tăng những công trình nghiên cứu mới nhất xác nhận một tác dụng có lợi của cà phê và của những thành phần phénol của nó, đặc biệt lên insuline. Một công trình nghiên cứu lớn của châu Âu tập trung vào những bệnh mãn tính cũng vừa xác nhận điều đó.
TIM MẠCH
Nhìn toàn bộ, sự tiêu thụ cà phê không bị chống chỉ định nếu ta muốn chăm lo tình trạng sức khỏe tim của mình. ” Ngoại trừ những người bị cao huyết áp và những những người có tim đập nhanh “, thầy thuốc Erasme đã cảnh cáo như vậy. Đối với những người khác, một sự tiêu thụ cà phê hợp lý ngay cả có lợi. Cà phê kích thích nhịp tim và huyết áp.
” Nhưng ở đây chúng ta nói những liều vừa phải, hoặc dưới 3 tách mỗi ngày.”
THẦN KINH
Đối với não bộ cũng vậy, sự tiêu thụ đều đặn cà phê có vài lợi ích. Và không chỉ dùng để thức tỉnh. ” Những công trình nghiên cứu mới đây phần lớn cho thấy rằng cà phê có một tác dụng bảo vệ đối với những tai biến mạch máu não “, André Van Gossum đã nói như vậy. ” Công trình nghiên cứu méta của Cleveland, lấy lại 27 bài báo khoa học về vấn đề này, xác nhận rằng 4 tách mỗi ngày đủ để cho tác dụng phòng ngừa này.”
” Những công trình nghiên cứu khác nhấn mạnh một tác dụng bảo vệ đối với bệnh Parkinson, nhất là bởi vì cà phê tác động lên sự dẫn truyền dopamine trong não bộ. ” Cơ chế ở đây không rõ ràng lắm. Đó cũng là cơ chế can thiệp trong sự bảo vệ chống lại bệnh đái đường loại II (đề kháng với insuline) ở những người già.
DERMATOLOGIE
Vào tháng 7 năm 2012, một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi trường Y Havard phát hiện sự hiện hữu khả dĩ của một tác dụng bảo vệ của cà phê lên ung thư da. Caféine phong bế sự tạo thành những khối u, các chuyên gia của Boston đã chỉ rõ như vậy mặc dầu không rút ra những kết luận vội vàng ! Trái lại công trình nghiên cứu xác nhận rằng chỉ carcinome basocellulaire dường như hưởng tác dụng bảo vệ này, chứ không phải carcinome spinocellulaire hay mélanome.
THỤ THAI NHÂN TẠO
Có vài trường hợp trong cuộc đời tốt nhất là nên tránh cà phê. Đó là trường hợp những phụ nữ muốn có con nhờ một kỹ thuật sinh đẻ hỗ trợ, như thụ thai trong ống nghiệm (fécondation in vitro). Một công trình nghiên cứu của Đan mạch, được trình bày năm qua ở hội nghị của Hiệp hội châu âu về y khoa sinh sản và phôi thai học đã chỉ rõ về chủ đề này, rằng sự tiêu thụ cà phê (5 tách hay nhiều hơn mỗi ngày) làm giảm 5% những cơ may thụ thai thành công. Một hiệu quả không được mong muốn tương tự trong lãnh vực này là tác dụng của chứng nghiện thuốc lá, kíp nghiên cứu đã xác nhận như vậy.
CÀ PHÊ (DEN) ĐỂ GIỮ HAY TÌM LẠI ĐƯỜNG NÉT
Cà phê phái chăng là chất đốt mỡ (bruleur de graisse) ? Câu hỏi này khuấy động các tấm tri từ lâu, với hy vọng tìm thấy trong nước uống lâu đời này một liên minh để kiểm soát thể trọng.
Chính tác dụng kích thích của cà phê lên hệ thần kinh được cho là nguồn gốc của một sự đốt cháy mỡ gia tăng. Cách nay không lâu lắm, ta tìm thấy trong vài hiệu thuốc cà phê được giới thiệu như là chất đốt mỡ và điều đó không có một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh nào biện minh cho tác dụng này !
Quả đúng là caféine, thành phần được nghiên cứu nhất của cà phê, gây nên một sự gia tăng nhẹ lượng năng lượng mà cơ thể tiêu dùng khi nghỉ ngơi. Những tác dụng này đúng là được xác nhận về mặt khoa học, và được đo lường bởi một sự gia tăng tạm thời của nhiệt lượng phát xuất từ cơ thể, nhưng tầm quan trọng của nó không đủ để có mot ảnh hưởng có thể đo lường lên thể trọng. Cà phê đen là một nước uống không có calorie, nhưng ta không có thể gán cho nó tính chất đốt mỡ hoac làm gầy. Chính điều ngược lại khi cà phê đen được thưởng thức thêm đường và mỡ, điều này có thể mang lại một hỗn hợp calorique như một phần bánh tarte.
Dầu không làm gầy, tuy nhiên cà phê đen là một thứ nước uống nhiều nước và light, điều này là một atout trong bối cảnh thừa mứa thức ăn mà chúng ta biết.
Mặc dầu caféine có một tác dụng lợi tiếu nhẹ, cà phê góp phần hydratation : đó là một nguồn dịch đặc biệt đáng kể.
Một trong những đặc điểm dưỡng gây nhiều hâm mộ ở những nhà nghiên cứu là sự hiện diện của nhiều hợp chất chống oxy hóa : theo vài công trình nghiên cứu, cà phê có một hoạt tính chống oxy hóa bằng hoặc lớn hơn hoạt tính của chè xanh. Đó là điều có thể góp phần giải thích vài tác dụng “sức khỏe” được báo cáo trong những lãnh vực khác nhau, và cho đến nay phần lớn không giải thích được.
(LE SOIR 9/1/2013)

5/ NHỒI MÁU CƠ TIM : MỘT STENT AUTO-EXTENSIBLE MỚI
GS Gilles Montalescot, Professeur de cardiologie, hôpital de la Pitié-Salpetrière, trình bày những ưu điểm của thiết bị cải tiến này, được đặt để khai thông một động mạch vành.
Hỏi : Một nhồi máu cơ tim được phát khởi như thế nào ?
GS Gilles Montalescot : Một căn bệnh, xơ vữa động mạch (athérosclérose), đã làm dễ lúc khởi đầu sự tạo thành những mảng xơ vữa (plaque d’athérome) trong những động mạch vành. Vào một lúc nào đó, một mảng bị nứt, gây nên sự tạo thành một cục máu đông tại chỗ tiếp xúc với vết nứt và sẽ bít động mạch. Lúc đó luồng máu bị ngưng lại, cơ tim bị thương tổn và đe dọa bị hoại tử. Nói chung bệnh nhân cảm thấy một đau ngực dữ dội, tức thở (oppressant) và thường trực. Vài nhồi máu gây những biến chứng chết người trước khi kíp cứu đến, như thành tim bị vỡ hay những rối loạn nhịp quan trọng.
Hỏi : Trong những trường hợp bệnh nhân được cứu sống, những hậu quả khả dĩ là gì ?
GS Gilles Montalescot : Sự chết của một phần của cơ tim có thể gây nên suy tim với hậu quả là sự hiện diện của nước trong phổi tương ứng với sự hình thành của một phù phổi.
Hỏi : Những yếu tố nào làm chúng ta đặc biệt dễ bị nguy cơ bị một nhồi máu cơ tim ,
GS Gilles Montalescot : 1. Tình trạng nhiễm độc thuốc lá, gây nên sự tạo thành những mảng xơ mỡ (plaque d’athérome) và, do kích hoạt những tiểu cầu máu, tạo điều kiện cho sự phát triển những cục máu đông. 2. Bệnh đái đường, nguy hiểm vì nồng độ đường trong máu quá cao. 3. Cholestérol, có hại vì mỡ quá thặng dư trong máu. 4. Cao huyết áp. Cũng có những yếu tố không thể biến đổi (facteurs non modifiables) : giới tính (75% những nạn nhân bị nhồi máu cơ tim là những người đàn ông), tuổi tác (nói chung sau 50 tuổi) và di truyền.
Hỏi : Những can thiệp đầu tiên là gì ?
GS Gilles Montalescot : Ngay khi đến bệnh viện, bệnh nhân được đưa vào trong salle de cathétéerisme, ở đây một cathéter được đưa vào tức thoi trong động mạch bị bệnh để có thể khai thông nó. Đó là một guide métallique cỡ nhỏ rất mảnh, được dùng làm rail để đưa vào một stent, một loại lò xo nhỏ bằng kim loại được cuộn lại và được gắn vào một ballon. Cathéter sẽ đưa thiết bị đến chỗ thương tổn. Ballon, khi đó được bơm phồng, đè nát những mảng xơ mõ và cục máu đông vào các thành động mạch, tái lập luồng máu. Ballon và guide métallique sau đó được rút ra, nhưng stent, được mở ra, vẫn ở tại chỗ để giữ động mạch mở. Ta liên kết với can thiệp đầu tiên này một sử dụng thuốc : những thuốc chống tiểu cầu (antiplaquettaire) và những thuốc chống đông.
Hỏi : Những bất tiện của stent quy ước này là gì ?
GS Gilles Montalescot : Stent kim loại cổ điển được đặt ở một bệnh nhân sẽ được chọn theo đường kính của động mạch được nhìn thấy khi xảy ra cơn nhồi máu. Thế mà, động mạch này là một tuyau vivant có đường kính thay đổi tùy theo những trường hợp khác nhau trong khi đường kính của stent vẫn không thay đổi ; nó giữ cùng kích thước suốt cả đời.
Hỏi : Ưu điểm của stent mới này, được gọi là “autoopposant” là gì ?
GS Gilles Montalescot : Thiết bị này được cấu tạo bởi một stent bằng Nitinol (kim loại khác với chrome cobalt thông thường). Stent này không còn được gắn vào một ballon nữa mà được nén ép trong một bao mảnh (une fine gaine). Cũng vậy, tất cả được đưa vào trên một guide rất mảnh được đặt bên trong động mạch cho đến chỗ tắc nghẽn, ở đây bao được rút ra : khi đó stent mở ra và khai thông động mạch. Nó giữ cho động mạch mở bằng cách áp vào các thành. Ưu điểm lớn : stent có thể tự giãn ra (auto-extensible), vậy đường kính sẽ tiến triển theo đường kính của động mạch.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh tính hiệu quả của thiết bị mới này ?
GS Gilles Montalescot : 5 công trình nghiên cứu quốc tế đã thực hiện những kết quả rất tốt. Công trình mới nhất, ở châu Âu, liên kết với kíp của chúng tôi ở bệnh viện la Pitié-Salpêtrière, đã theo dõi trong 1 năm 1000 người (trong đó 77% đàn ông), tuổi trung bình 60, tất cả đều mang stent mới có thể tự giãn, được đặt vì bệnh nhồi máu. Cuối công trình nghiên cứu (một năm theo dõi), chúng tôi đã ghi nhận 2% tỷ lệ tử vong. Với kíp của chúng tôi (Groupe de recherche Action), chúng tôi đã so sánh tỷ lệ này với tỷ lệ của những công trình nghiên cứu trước, được thực hiện với những bệnh nhân mang những stent quy ước. Tỷ lệ tử vong của những công trình nghiên cứu khác này là 3,9%, gần như gấp đôi ! Những kết quả này cho thấy tính hiệu quả của hệ thống cải tiến này, tiếp tục được đánh giá bởi những nghiên cứu đang được tiến hành.
(PARIS MATCH 6/6-12/6/2013)

6/ TIẾNG MẸ ĐẺ HỌC ĐƯỢC TRONG TỬ CUNG.
Một công trình nghiên cứu cho thấy rằng em bé tương lai bắt đầu học tiếng mẹ đẻ khi nghe mẹ nói.
COGNITION. Học ngôn ngữ bắt đầu ngay ở giai đoạn thai nghén. Thật vậy, một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ và Thụy Điển, được công bố trong tạp chí y khoa Acta Pediatrica, tiết lộ rằng các em bé có khả năng phân biệt giữa ngôn ngữ của người mẹ và một tiếng nước ngoài chỉ vài giờ sau khi sinh. Quan sát gây ngạc nhiên này gợi ý rằng đứa bé đã thâm nhiễm ngôn ngữ của người mẹ tương lai trong tử cung.
Theo thứ tự thời gian, quả đúng thính giác là giác quan đầu tiên phát triển. Ngay ở tháng thứ bảy của thai nghén, lỗ tai của em bé hoàn toàn hoạt động, điều này cho phép nó hiểu và nhận biết tiếng nói của người mẹ và trong một mức độ ít hơn, tiếng nói của những người thân (cha, anh chị em) hay ngay cả nhạy cảm với âm nhạc.
Những công trình nghiên cứu trước đã cho thấy rằng trong tháng đầu hiện hữu, một nhũ nhi có thể học và phân biệt những âm vị (phonème) khác nhau, nhưng đã chưa bao giờ chứng minh rằng sự học tập này bắt đầu trước khi sinh.
Để chứng minh điều đó, kíp của GS Christine Moon, thuộc Pacific Lutherian University de Tacoma (Hoa Kỳ), và kíp của GS Hugo Lagercrantz của Viện Karolinska (Stockholm), đã cho nghe 80 trẻ sơ sinh, nửa trai nửa gái, tuổi mới chỉ 7 đến 75 giờ, 17 âm thanh phát ra theo tiếng mẹ đẻ, trong trường hợp này là tiếng Anh hay tiếng Thụy Điển, và cũng bấy nhiêu trẻ sơ sinh nhưng được nghe một tiếng nước ngoài.
Sự lưu tâm của các trẻ sơ sinh này đối với những âm thanh khác nhau đã được đánh giá bằng cách đo thời gian mà chúng dùng để mút một tétine (đầu vú giả ở chai sữa) được nối với một ordinateur. ” Mỗi lần mút sinh ra một nguyên âm (voyelle) cho đến khi đứa trẻ nghỉ một thời gian ngắn và, khi nó bắt đầu mút lại, âm thanh của một nguyên âm mới được phát ra “, Patricia Kuhl, thuộc đại học Washington và đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Thế mà, ở Stockholm cũng như ở Tacoma, thời gian mút lâu hơn nhiều ở các em bé nhận những âm thanh của tiếng nước ngoài (dấu hiệu của một tính tiếp nhận ít hơn) so với những em bé mà ta cho nghe những nguyên âm được phát ra theo ngôn ngữ của người mẹ. Theo các nhà thí nghiệm, đó là bằng cớ chứng tỏ rằng các nhũ nhi đã nhận ra chúng và do đó chúng đã học chúng từ chính miệng của mẹ mình trong lúc thai nghén.
” Công trình nghiên cứu này một lần nữa minh họa tính dẻo đặc biệt của não bộ (plasticité cérébrale) của những em bé rất nhỏ “, Francine Couetoux-Jungman, psychologue clinicienne thuộc bệnh viện La Pitié-Salpêtrière (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Đối với nữ chuyên gia về trẻ em này, đây là cơ hội để lôi kéo sự chú ý về những trường hợp càng ngày càng nhiều những trẻ em lớn lên đồng thời tiếp nhận nhiều ngôn ngữ. ” Mặc dầu bilinguisme có một tác dụng kích thích, nhưng không phải là không tạo ra vài vấn đề, bà nói tiếp như vậy. Thí dụ, ngày càng có nhiều bố mẹ gốc nước ngoài cố bỏ tiếng mẹ đẻ của mình để làm dễ sự hội nhập của con mình. Với nguy cơ, nếu chúng làm chủ kém ngôn ngữ của nước tiếp nhận, rằng đứa con của họ nói một jargon mà không ai hiểu cả.”
(LE FIGARO 8/1/2013)

7/ TIẾN TRIỂN CỦA BỆNH GLAUCOME : MỘT LENTILLE THEO DÕI
BS Florent Aptel, thầy thuốc nhãn khoa thuộc CHU de Grenoble, giảng viên đại học Joseph-Fourier, mô tả những ưu điểm của một thiết bị mới trong điều trị bệnh glaucome
Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh glaucome ?
BS Florent Aptel : Mắt là một hệ thống có thể so sánh với một máy ảnh, võng mạc là pellicule, và dây thần kinh thị giác là câble nối những hình ảnh với não bộ. Glaucome là sự phá hủy dần dần dây thần kinh thị giác, chủ yếu do sự gia tăng của áp lực nội nhãn bởi vì dịch làm đầy mắt không còn được thoát ra một cách đúng đắn nữa. Hậu quả là thị trường bị thu hẹp dần dần, dẫn đến, nếu không được điều trị và tùy theo những trường hợp, sự mù lòa (sau 10,15, 20 năm…).
Hỏi : Có những dấu hiệu báo trước hay không ?
BS Florent Aptel : Bất hạnh thay đó là một căn bệnh âm ĩ và, khi ta nhận thức điều đó, sự đánh mất thị trường đã ở giai đoạn tiến triển và không thể đào ngược được. Do đó cần kiểm tra hàng năm áp lực nội nhãn ngay ở tuổi 45. Sự vắng mặt các triệu chứng là vấn đề quan trọng của bệnh glaucome.
Hỏi : Ta xác lập chẩn đoán như thế nào ?
BS Florent Aptel : Bằng cách đánh giá trương lực nhãn cầu (tonus oculaire), được thực hiện bởi một thầy thuốc nhãn khoa. Những thăm dò này chỉ cho phép thực hiện một đo lường áp lực duy nhất, chỉ vào một lúc trong ngày, trong khi áp lực này thay đổi trong 24 giờ, cũng như huyết áp vậy. Vậy kết quả chỉ cho một ý niệm phỏng chừng về áp lực nội nhãn. Đó là chưa kể áp lực này có thể bình thường trong ngày và tăng cao ban đêm.
Hỏi : Những điều trị hiện nay theo những chỉ định thông thường nhất là gì ?
BS Florent Aptel : Trong đại đa số các trường hợp, khi glaucome ở giai đoạn bắt đầu, ta điều trị bằng cách nhỏ những thuốc giọt có tác dụng làm giảm áp lực nội nhãn. Ở một giai đoạn tiến triển hơn, ta có thể xét đến một can thiệp laser hay ngoại khoa. Nhưng các thuốc giọt được kê đơn một cách hệ thống vào cùng những giờ trong ngày trong khi đáng ra chúng phải được cho vào lúc áp lực nội nhãn tăng cao nhất để được hiệu quả nhất.
Hỏi : Kỹ thuật mới nhất nhằm cải thiện điều trị một glaucome giai đoạn khởi đầu là gì ?
BS Florent Aptel : Đó là một lentille (thấu kính) được trang bị một capteur để ghi trong 24 giờ những biến đổi của áp lực nội nhãn. Lentille này được đặt ở bề mặt của mắt, trong phòng mạch của thầy thuốc nhãn khoa. Ngày hôm sau, thầy thuốc lấy lentille ra để phân tích những dữ kiện của capteur. Những kết quả cho phép biết những thay đổi của áp lực nội nhãn vào mỗi lúc trong ngày và đêm và giúp xác lập chẩn đoán glaucome. Sau đó thầy thuốc nhãn khoa so thể quyết định giờ thích ứng nhất để cho thuốc nhỏ mắt. Sau vài tháng, một kiểm tra mới được thực hiện để kiểm chứng tác dụng của điều trị.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã cho phép chứng minh tính hiệu quả của thiết bị này ?
BS Florent Aptel : Từ 3 năm nay, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên hàng trăm bệnh nhân bởi những kíp của Pháp, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ với những kết quả xác chứng. Ở CHU de Grenoble, chúng tôi vừa kết thúc công trình nghiên cứu của chúng tôi, được tiến hành trên 12 người tình nguyện và xác nhận tính hiệu quả của thiết bị và sự dung nạp của nó. Những lentille này thường được sử dụng ở Thụy sĩ, ở Đức và ở Tây Ban Nha.
Hỏi : Có những chống chỉ định đối với sự sử dụng thiết bị theo dõi này không ?
BS Florent Aptel : Cùng những chống chỉ định đối với việc mang mọi lentille, nhất là mắt khô hay một bệnh lý của giác mạc.
Hỏi : Nói tóm lại, đối với glaucome giai đoạn đầu, những ưu điểm của thiết bị được trang bị một capteur là gì ?
BS Florent Aptel : 1. Một sự đánh giá chính xác áp lực nội nhãn, nhất là giờ mà áp lực này đạt đến trị số cao nhất. 2. Sự cá thể hóa những cách thức cho thuốc điều trị làm gia tăng tính hiệu quả của nó. 3.Trong vài trường hợp, đó là một hỗ trợ cho việc theo dõi tiến triển của bệnh.
(PARIS MATCH 16/5-22/5/2013)

8/ TẠI SAO EM BÉ KHÓC ?
Dưới 5% những tiếng kêu khóc của chúng có nguồn gốc là một bệnh lý thật sự.
PEDIATRIE. Những tiếng khóc làm lo ngại, làm bực bội, làm mệt mỏi…và giam hãm nhiều bố mẹ trong một cảm giác bất lực khủng khiếp…..Những tiếng khóc của nhũ nhi là một trong những động cơ thăm khám đầu tiên trong những tháng đầu sau khi đứa bé được sinh ra đời, nhưng cũng là nguyên nhân chính của các gọi hỏi ligne de soutien Allo Parents Bébé.
Các gia đình bao giờ cũng tự hỏi về cách tốt nhất để đáp lại những tiếng kêu khóc này, mà các thầy thuốc vẫn hết sức khó giải thích. ” Phần lớn những tiếng khóc quá mức không có một nguyên nhân y khoa nào được nhận biết, BS Gisèle Gremmo-Feger, thuộc CHU de Brest đã nhận xét như vậy. Vì không thể giải thích, các thầy thuốc nhi khoa thường quy chúng cho một colique hay một hồi lưu dạ dày thực quản (reflux gastro-oesophagien). Trên thực tế, trên 5% những trường hợp khóc có nguyên nhân là một bệnh lý thật sự.
CÒN NON NỚT VÀ PHỤ THUỘC.
Theo những công trình nghiên cứu nhi khoa, từ 10 đến 30% các nhũ nhi đã khóc một cách quá đáng, hay được cho là như vậy bởi bố mẹ. Những tiếng khóc này, có thể dỗ được ít hay nhiều, nói chung xảy ra ngay tuần lễ thứ hai sau khi sinh, lên cao điểm giữa tuần thứ 6 và 8 (vào lúc cao điểm này, 1/4 các em bé khóc hơn 200 phút mỗi ngày) rồi giảm và biến mất vào khoảng 5 tháng, không gây hậu quả lên sự phát triển sau này.
” Những tiếng kêu khóc này tương ứng với một giai đoạn bình thường của sự phát triển “, Philippe Grandsenne, thầy thuốc nhi khoa đã đảm bảo như vậy. Khi ra đời, em bé rất là còn non nớt và phụ thuộc, Stéphane Clerget, pédopsychiatre đã bổ sung như vậy. Cũng như những động vật có vú khác, nó không chịu được phải ở một mình. Thế mà nó chỉ có phương tiện này (tiếng kêu khóc) để diễn tả tình trạng khó ở (mal-être) của nó. ”
Làm sao phản ứng lại khi đứng trước những dấu hiệu nguy khốn này ? Luôn luôn bị bối rối b ở i hiện tượng một phần lớn vẫn còn bí ẩn này, bố mẹ đã thử tất cả : đu đưa, đi qua đi lại trong nhà, đi dạo bằng xe hơi hay bằng poussette…Trái lại vài bố mẹ đã cho đứa trẻ khóc với hy vọng rằng chính nó sẽ tự dịu đi. Thật vậy, nhiều thầy thuốc nhi khoa khuyên các bà mẹ tập cho em bé tự dịu đi và không can thiệp quá nhanh, thậm chí phớt lờ những kêu khóc của chúng.
Vào giữa những năm 1990, thầy thuốc nhi khoa Hoa Kỳ Richard Ferber đã xét lại phương pháp “cứng rắn” này nhằm giải quyết những vấn đề giấc ngủ của em bé trên 4 tháng bằng cách để nó khóc trong giường mà không bế, nhưng trở lại đều đều an ủi nó. Sự thành ông của các cuốn sách của ông thể hiện sự lúng túng của bố mẹ đứng trước sự khó ở được biểu hiện bởi con mình.
Tuy nhiên sự quản lý sự ngủ và thức dậy ban đêm bị tranh cãi bởi các thầy thuốc. Họ tố cáo tác động của nó lên mối liên hệ giữa em bé và những người thân. ” Khóc là một tín hiệu, một loại còi sinh học (sirène biologique), mà chức năng chính là lôi kéo sự chú ý và tạo những mối liên hệ gắn bó (lien d’attachement) “, BS Gremmo-Feger đã phân tích như vậy.
Một công trình nghiên cứu được tiến hành ở Nouvelle-Zélande, được công bố vào tháng bảy trong tạp chí Early Human Development, chỉ rõ những giới hạn của ” để mặc cho trẻ khóc ” (laisser pleurer). Suốt trong 5 ngày, các nhà nghiên cứu đã đo nồng độ của cortisol, hormone du stress, trong nước miếng các em bé tham dự vào một chương trình giáo dục ngủ của bệnh viện do phương pháp Ferber gợi ý. Các bà mẹ cũng đã được lấy máu. Các nhũ nhi, từ 4 đến 10 tháng, phải học ngủ không được hỗ trợ, chỉ được sự thăm viếng đều đặn của một y tá. Irong một gian phòng kế cận, mẹ của chúng có thể nghe những tiếng khóc nhưng không được quyền can thiệp. Vào ngay đầu của chương trình, phần lớn các em bé đã khóc ít nhất 20 phút. Một sự gia tăng nồng độ của cortisal, triệu chứng của stress, đã được chứng thực ở nhũ nhi cũng như ở người mẹ. Vào ngày thứ ba, các em bé đã ngừng khóc nhưng sự sản xuất cortisol của chúng vẫn cao, điều này khiến nghĩ rằng chúng luôn luôn ở trong tình trạng căng thẳng nhưng đã từ chối thể hiện điều đó. Còn các bà mẹ, được dịu đi thấy rõ bởi sự ngưng khóc, đã ngừng sản xuất kích thích tố biểu hiện sự căng thẳng này.
Như vậy việc ngừng khóc không nhất thiết có nghĩa rằng đứa bé dịu đi. ” Các nhũ nhi đã không học quản lý tình trạng lo âu phân ly (angoisse de séparartion) của chúng “, các tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy. Nhìn toàn bộ hơn, BS Gisèle Gremmo-Feger quan sát rằng ” những cách thức làm mẹ chủ trương rằng đặt đứa bé cách xa và không phản ứng quá nhanh đối với những kêu khóc của nó trái lại có thể tạo điều kiện và gia tăng một cách đáng kể thời gian khóc “.
(LE FIGARO 27/8/2012)

9/ NGỦ VỚI EM BÉ LÀM TĂNG NGUY CƠ CHẾT ĐỘT NGỘT
Nguy cơ được nhân lên 5 lần, ngay cả khi không có những yếu tố nguy cơ khác, như chứng nghiện thuốc lá của bố mẹ.
PREVENTION. Đó là một trong những nguyên nhân chết đột ngột có thể tránh được của nhũ nhi, mà khoảng 250 trẻ em là nạn nhân mỗi năm ở Pháp. Theo một công trình nghiên cứu được công bố trong British Medical Journal, chỉ sự kiện ngủ với em bé làm gia tăng nguy cơ “chết bất ngờ” (thuật ngữ được chọn để chỉ những cái chết xảy ra ở những trẻ em bề ngoài mạnh khỏe, trong khi chúng đang ngủ).
” 88% những trường hợp tử vong xảy ra trên giường của bố mẹ đáng ra có thể tránh được nếu trẻ được đặt nằm trong nôi bên cạnh giường của bố mẹ “, GS Bob Carpentier, thuộc London School of Hygiene and Tropical Medicine, đã tập hợp những dữ kiện của 5 tài liệu xuất bản quốc tế, đã kết luận như vậy.
Công trình nghiên cứu của ông, quan trọng nhất thuộc loại này, đặc biệt tập trung vào những nhũ nhi tuổi dưới 3 tháng, bú sữa mẹ và không có yếu tố nguy cơ được biết. Trong những điều kiện tối ưu này, những nhà khoa học cho thấy rằng nguy cơ chết đột ngột được nhân lên 5 lần nếu em bé ngủ với bố mẹ của mình. Nguy cơ giảm với tuổi, thời kỳ quan trọng nằm giữa tuần lễ thứ bảy và thứ mười sau khi sinh.
Ngoài ra công trình nghiên cứu xác nhận rằng nguy cơ được gia tăng một cách rõ rệt do sự tiêu thụ thuốc lá, rượu hay thuốc ma túy bởi bố mẹ sau khi sinh. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy vai trò có hại của chứng nghiện thuốc lá thụ động, kể cả trong khi còn ở trong tử cung.
Số những trường hợp chết đột ngột của nhũ nhi đã giảm một cách đáng kể trong các nước phuong Tây bắt đầu từ những năm 1990 khi bố mẹ được khuyến nghị đặt trẻ sơ sinh nằm ngửa. Từ nay tỷ lệ này ổn định. Tuy nhiên hội chứng này vẫn luôn luôn là nguyên nhân trong 1/4 các trường hợp tử vong của những trẻ dưới 1 tuổi.
NHỮNG NỖ LỰC THÔNG TIN
” Ta có thể xác nhận rằng một nửa những trường hợp chết, đặc biệt gây đau đớn và tội lỗi cho những gia đình, đáng lý ra còn có thể tránh được “, GS Michel Roussey, thầy thuốc nhi khoa thuộc CHU de Rennes, đã chứng thực như vậy. Trong khi ghi nhận rằng vẫn còn cần thực hiện những thông tin cho bố mẹ, Association nationale des centres de référence des morts inattendues du nourrisson đang đấu tranh để được bộ y tế chấp thuận một chiến dịch làm nhạy cảm dư luận (campagne de sensibilisation). ” Chiến dịch này cũng sẽ nhắm vào những người hành nghề y tế, đôi khi vẫn còn khuyên bà mẹ ngủ với con mình để làm dễ sự cho bú “, BS Inge Harrewijn, thầy thuốc nhi khoa của CHU de Montpellier, đã nhận xét như vậy. Bởi vì một sai lầm trong việc đặt nằm em bé liên quan trong gần một nửa các trường hợp, nên Viện theo dõi ý tế quốc gia khuyến nghị em bé nằm trong một chiếc nôi riêng biệt, trong cùng phòng với bà mẹ cho đến lúc được 6 tháng. Theo GS Roussey, ” trong giường bố mẹ, các trường hợp tử vong có thể xảy ra đó thiếu oxy, tăng thân nhiệt hay bị đè bẹp, nhất là khi người cha không biết rằng đứa con của mình nằm bên cạnh ông ta”.
Đứa trẻ phải ngủ trên một chiếc nệm cứng, không có gối, couette, cale-tete hay peluche, trong một căn phòng dưới 20 độ. Sự lựa chọn một lit à barreaux sẽ được ưu tiên. Mặc dầu cơ chế không được biết rõ, việc sử dụng một tétine và sự cho bú dường như là những yếu tố bảo vệ chống lại cái chết bất ngờ của trẻ sơ sinh.
(LE FIGARO 24/5/2013)

10/ BẰNG BIỆN PHÁP NÀO TA CÓ THỂ PHÒNG NGỪA CHẾT ĐỘT NGỘT CỦA NHŨ NHI ?
Docteur Dominique Carles
Anatomopathologiste
Membre correspondant de
L’Académie nationale de médecine

Chết đột ngột của nhũ nhi (Mort subite du nourrisson) vẫn là một trong những nguyên nhân đầu tiên gây tử vong của những trẻ từ 1 tháng đến một năm. Đó vẫn là một bí ẩn, ngay cả những biện pháp phòng ngừa tỏ ra có hiệu quả. Không một giải thich nào có thể được đưa ra mặc dầu công trình nghiên cứu những trường hợp tử vong, một bilan sinh học đầy đủ và một sinh thiết. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra : vài giả thuyết dựa trên những công trình nghiên cứu rất công phu. Những giả thuyết khác, như lý thuyết về giấc mơ hay hibernation, bất ngờ hơn, nhưng tất cả chứng tỏ sự khó khăn của chúng ta để hiểu được cái chết đột ngột (và điều không thể chấp nhận được ngày nay) của một nhũ nhi.
Điều xuất phát hiện nay từ các công trình nghiên cứu, đó là sự liên kết giữa chết đột ngột của nhũ nhi với việc đặt nằm sấp (couchage sur le ventre). Ngay năm 1944, người ta đã ghi nhận rằng những trường hợp chết đột ngột hiếm xảy ra ở Hồng Kông, là nơi theo truyền thống, những trẻ sơ sinh không bao giờ được đặt nằm sấp. Những công trình nghiên cứu sau này đã xác nhận mối liên hệ này, nhưng chỉ vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 mà những chiến dịch làm nhạy cảm về những phương pháp tốt đặt nằm các nhũ nhi đã được phát động. Những chiến dịch này đã chứng tỏ tính hiệu quả của chúng : ta ghi nhận gần 1500 trường hợp chết đột ngột của nhũ nhi mỗi năm ở Pháp vào đầu những năm 1990 ; hiện nay, dưới 500 trẻ em chết trong những tình trạng này.
Điều mà ta đã nhận xét, đó là vài trẻ em dễ bị hơn những trẻ khác, rằng có một thời kỳ quan trọng (période critique) trong sự phát triển của trẻ em và rằng có một vai trò của một yếu tố ngoại tại. Giả thuyết ” ba nguy cơ ” (théorie du triple risque) này là một phương pháp nguyên thủy, hữu ích để nghiên cứu mỗi trường hợp và ngay cả có thể xác định tốt hơn những biện pháp phòng ngừa.
Tính dễ thương tổn (vulnérabilité) ám chỉ những yếu tố nguy cơ mà ta biết liên kết về mặt thống kê với chết đột ngột của nhũ nhi : tình trạng sinh non, nam giới, trọng lượng lúc sinh thấp, chứng nghiện thuốc lá của người mẹ lúc mang thai.
Những bất thường của các chất dẫn truyền thần kinh hay những biến đổi vi thể được chứng thực trên não của các em bé chết vì chết đột ngột cũng có thể giải thích tính dễ bị thương tổn này.
Về période critique, thật vậy, ta chứng thực rằng chết đột ngột của nhũ nhi được quan sát ở những trẻ từ một tháng đến một năm (ngoại lệ trong năm thứ hai), với một cao điểm tần số vào ba tháng tuổi, thời kỳ quan trọng của sự phát triển với đặc biệt một não bộ mà trọng lượng tăng hơn gấp đôi.
Cũng chính vào lứa tuổi này mà những cơ chế rất phức tạp chủ yếu đảm bảo sự tự trị của vài chức năng sinh lý như hô hấp đang trong quá trình thành thục và do đó dễ bị thương tổn.
Sau cùng, thí dụ yếu tố khởi động là một nhiễm trùng đường hô hấp, nhiễm trùng thoạt có vẻ tầm thường, nhưng ở một đứa bé dễ bị thương tổn và ở một lứa tuổi critique, có thể là nguyên nhân của một chết đột ngột.
Nếu vài nguy cơ không thể chế ngự được, có những nguy cơ khác mà tác dụng có thể bị hạn chế bởi vài biện pháp đơn giản nhưng được áp dụng nghiêm túc.
Điều quan trọng nhất vẫn là việc đặt nằm. Để ngủ, đứa trẻ phải được đặt nằm ngửa trong một chiếc giường thích ứng với lứa tuổi của nó, với một chiếc nệm cứng, được phủ bởi một vải bao (housse), không nệm lông (couette) hay vải lông (peluche). Phải tuyệt đối đặt ngủ trong giường của bố mẹ. Nhiệt độ của phòng của đứa bé phải vừa phải, từ 18 đến 20 độ C.
Chứng nghiện thuốc lá trong lúc mang thai và sau khi sinh phải bị cấm chỉ, cũng như hút thuốc trong những gian phoàng mà đứa trẻ sống. Sau cùng, những động vật được nuôi trong nhà không được tiếp cận với đứa bé trong bất cứ trường hợp nào.
Chừng nào sự chết đột ngột của một đứa trẻ cho đến khi đó hoàn toàn mạnh khỏe không được giải thích một cách hoàn toàn, trước sự kinh hoàng khủng khiếp của bố mẹ, nhưng cũng của những người săn sóc, vậy chính bổn phận của các cơ sở y tế, những người hành nghề y tế, những hiệp hội của các bệnh nhân và những assistante maternelle phải giải thích và truyền bá những khuyến nghị này.
(LE FIGARO 10/10/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(2/7/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 312 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 515 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s